PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Chúng ta đang có trên tay đề tài tìm hiểu tình huống truyện ngắn trong
chương trình văn học phổ thông - Ban cơ bản, giảng dạy truyện ngắn là
một nội dung quan trọng của chương trình, đòi hỏi giáo viên phải có nhiều
thời gian và tâm huyết. Để giảm bớt khó khăn, vất vả cho những người dạy
tác phẩm truyện ngắn và cũng để tạo mặt bằng kiến thức chung, với hi
vọng đây sẽ là tài liệu giảng dạy thiết thực, hữu ích xuất phát từ hai lí do cơ
bản sau : Thứ nhất : Do yêu cầu của thực tế giảng dạy. Tác phẩm truyện
ngắn được tuyển vào chương trình phổ thông rất nhiều, nhất là ở cấp ba
(chiếm 3/4 số lượng tác phẩm văn xuôi trong chương trình). Điều này phản
ánh đúng tương quan của thành tựu truyện ngắn so với những thể loại văn
xuôi khác trong đời sống văn học của chúng ta. Như thế, làm chủ mảng
truyện ngắn là làm chủ phần văn xuôi cốt yếu nhất của chương trình. Tuy
nhiên, việc phân tích, giảng dạy truyện ngắn còn chưa chú ý đúng mức và
chưa làm nổi bật đặc trưng của thể loại. Phần lớn mới chỉ chú ý đến đặc
điểm truyện mà chưa chú ý đến đặc trưng truyện ngắn. Nếu chỉ phân tích
nhân vật, cảnh vật, cốt truyện, ngôn ngữ không thôi thì chưa làm nổi bật
đặc trưng thể loại của truyện ngắn. Trong khi đó, tài liệu hướng dẫn cũng
chưa chú ý thật đúng mức và đều tay đến đặc trưng thể loại. Thứ hai: Về
mặt lí luận truyện ngắn, nhiều thành tựu mới chưa kịp thời ứng dụng vào
việc giảng dạy, nhiều kinh nghiệm của người sáng tác đúc kết về thể loại
này cũng chưa được cập nhật.
Đề tài này là một cố gắng phần nào đáp ứng và khắc phục tình trạng
ấy…và cũng là công sức phần nào thể hiện được tâm huyết của những
người thầy, người cô nguyện suốt đời gắn bó với bộ môn Ngữ văn dẫu biết
nhiều gian khổ, nhọc nhằn, vì thế tôi chọn đề tài: Tình huống truyện ngắn
trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông.
2. Giới hạn đề tài và phạm vi nghiên cứu:
Trong đề tài Tổng kết kinh nghiệm này tôi chỉ tập trung vào đặc trưng
chủ yếu của truyện ngắn đó là tình huống truyện qua các tác phẩm: Hai
truyện ngắn chuẩn xác, được tất cả mọi người công nhận và ứng cho mọi
2
trường hợp trong thực tế sáng tác văn học là điều rất khó, nếu không muốn
nói là không thể làm được. Tuy nhiên, vẫn có thể nói về những điểm cơ bản
nào đấy của thể loại truyện ngắn. Theo chúng tôi, việc nhận diện có thể dựa
vào hai tiêu chí chính là dung lượng và thi pháp :
- Về dung lượng, truyện ngắn được xem là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ (nhân
vật không nhiều lắm, tình tiết không nhiều lắm, số trang không dài lắm...),
chủ yếu được viết bằng văn xuôi. Nghĩa là phải ngắn, thậm chí cực ngắn
(truyện mini).
- Về thi pháp, ngoài những yếu tố luôn có biến đổi như cốt truyện, nhân
vật, lối trần thuật, nhịp độ phát triển, giọng điệu, ngôn ngữ.v.v...thì tình
huống truyện được xem là hạt nhân trong cấu trúc nội tại của thể loại
truyện ngắn.
Trong hai tiêu chí, dung lượng là điều kiện cần nhưng phụ và thứ
yếu, vì trên thực tế có không ít truyện ngắn nhưng không ngắn. Còn thi
pháp mới là điều kiện đủ và chủ yếu, đây mới là điều căn bản để phân biệt
một truyện ngắn với những tác phẩm tự sự thuộc thể truyện nói chung.
Bởi thế, ở phần cốt yếu (tôi nhấn mạnh chữ cốt yếu), có thể chấp nhận
định nghĩa: Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ mà nội dung thường chỉ
xoay quanh một tình huống truyện chủ chốt nào đó.
1.2. Đặc trưng thể loại truyện ngắn
Đặc trưng bao trùm nhất, riêng biệt, nổi bật nhất của thể loại truyện
ngắn đã hàm chứa đầy đủ trong chính tên gọi của thể loại: “Truyện ngắn
phải ngắn gọn, cô đúc, kiệm lời, dung lượng nhỏ nhưng sức chứa lớn lõi
phải dầy, vỏ phải mỏng” (Nguyễn Khải). “Đây là thể loại có nội khí một lời
mà thiên cổ, một gợi mà trăm suy” (Nguyễn Thanh Hùng). Mặc dù số
Tình huống truyện, xét đến cùng, là một sự kiện đặc biệt của đời
sống được nhà văn sáng tạo trong tác phẩm theo lối lạ hoá. Nói lạ hoá có
nghĩa là:
- Nhà văn đã làm sống dậy trong sự kiện ấy một tình thế bất thường của
quan hệ đời sống (quan hệ giữa các nhân vật tham gia vào sự kiện, hoặc
giữa các nhân vật với ngoại giới)
- Tại sự kiện ấy bản chất của nhân vật hiện hình sắc nét.
- Tại sự kiện ấy ý tưởng của tác giả cũng bộc lộ trọn vẹn.
Từ đó có thể đúc kết: Tình huống truyện là một sự kiện đặc biệt trong đó
chứa đựng một tình thế bất thường của quan hệ đời sống.
Về vai trò
Trong tác phẩm tự sự nói chung và nói riêng trong truyện ngắn, tình
huống truyện có một vai trò hết sức quan trọng. Tình huống thể hiện rõ
nhất đặc trưng phong cách của thể loại truyện ngắn. Nó là yếu tố quyết
định sự sống còn của truyện ngắn, là hạt nhân của cấu trúc thể loại này.
Hãy nhìn vào hai dạng biến động cơ bản về qui mô của truyện ngắn :
Dạng mở rộng
Khi một truyện ngắn có đến hai sự kiện tranh nhau đóng vai trò hạt nhân,
vai trò quán xuyến, thì truyện ngắn đang vươn vai thành truyện dài.
Dạng giản lược
Khi một truyện ngắn co mình lại trong một số chữ hạn định để thành
truyện cực ngắn, thì có thể thấy các thành tố khác của truyện như nhân vật,
4
cảnh vật, lời trần thuật có thể giảm thiểu đến kiệt cùng, còn cái mà nó quyết
giữ chính là tình huống. Mất tình huống nó có thể thành tản văn, thành tuỳ
bút, thành thơ văn xuôi, thành ký, nghĩa là thành gì gì khác... chứ quyết
không thể còn là truyện ngắn. Mất tình huống tức là mất tính cách truyện
sống. Nếu truyện ngắn có đến hơn một tình thế thì truyện ngắn đó lập tức
bị phá vỡ”.
Thứ hai, truyện ngắn nhiều tình huống: Cả thiên truyện được dệt từ
nhiều tình huống. Tuy nhiên, trong đó, chúng cũng phân vai thành chính phụ (nghĩa là có cái nào đó là chủ chốt). Đây là dạng truyện ngắn không
thật điển hình. Chúng thường có dáng dấp của một truyện dài thu nhỏ, hơn
là một truyện ngắn thực thụ. Có thể ví dụ: Chí Phèo của Nam Cao, Vợ
chồng A Phủ của Tô Hoài…
1.2.2. Căn cứ vào tính chất:
Có thể chia thành ba loại tình huống cơ bản sau:
1.2.2.1. Tình huống nghiêng về hành động:
Là một sự kiện đặc biệt nào đó của đời sống mà tại đó nhân vật bị đẩy
vào tình thế chỉ có hành động mới thoát ra khỏi tình thế ấy. Tình huống này
tạo nên kiểu nhân vật hành động (nhân vật mà nhà văn quan tâm nhiều nhất
6
đến hệ thống hành động) và tạo nên những truyện ngắn giàu kịch tính, mỗi
truyện giống như một màn kịch được viết bằng văn xuôi. Chẳng hạn, mỗi
truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan là một màn hài kịch xây dựng xung
quanh một tình huống trào phúng mà có thể gọi chung đó là tình huống lật
tẩy mặt trái đời.
1.2.2.2. Tình huống nghiêng về tâm trạng:
Là một sự kiện đặc biệt của đời sống mà tại đó nhân vật có một biến động
trong thế giới tình cảm. Loại tình huống này tạo nên kiểu nhân vật tình cảm
(nhân vật được quan tâm chủ yếu ở phương diện đời sống tình cảm, diễn
biến tâm trạng là chất liệu chính để nhà văn khắc hoạ nhân vật) và tạo nên
kiểu truyện ngắn trữ tình; mỗi truyện như một bài thơ được viết bằng văn
xuôi. Chẳng hạn, nhiều truyện ngắn của Hồ Dếnh, Thanh Tịnh, Thạch Lam,
Đỗ Chu... là những minh chứng tiêu biểu. Truyện ngắn Thạch Lam hầu hết
nhặt là tác phẩm xuất sắc, một truyện ngắn giản dị nhưng là cái giản dị của
một bậc thầy, chữ nào cũng hay, chân xác, hàm súc. Thành công của tác
phẩm một phần quyết định bởi nghệ thuật sáng tạo tình huống truyện độc
đáo, hấp dẫn của nhà văn. Toàn bộ truyện ngắn Vợ nhặt xoay quanh sự
kiện nào ? hay sự kiện nào đã bao trùm chi phối toàn bộ thiên truyện này?
Sau khi đọc qua các tình tiết chính của thiên truyện này ta dễ dàng nhận
thấy hạt nhân của truyện ngắn Vợ nhặt là một cuộc hôn nhân oái oăm, kỳ
lạ. Và đó chính là cái tình thế nảy ra truyện, cái tình huống của câu chuyện.
Nói hôn nhân trong Vợ nhặt kì lạ, ít nhất vì ba lẽ:
Thứ nhất là sự đảo lộn về giá trị :
Tràng - một gã trai nghèo khổ, thô kệch, lại là dân ngụ cư, lâu nay ế vợ,
bỗng dưng nhặt được vợ, mà lại là vợ theo không.
Thứ hai là sự ngược đời:
Tràng lấy vợ vào lúc không ai lại đi lấy vợ - giữa những ngày nạn đói
đang lăm le cướp đi mạng sống của mỗi người.
Thứ ba là nghịch lý:
Một đám cưới thiếu tất cả mà lại như đủ cả. Những điều này quyết định
đến việc tổ chức mạch truyện và cả cấu tứ của thiên truyện nữa.
Thông qua tình huống truyện, Kim Lân đã phát biểu những ý nghĩa sâu
sắc của tác phẩm :
Một là, không cần đến những kết tội to tát, tác phẩm đã tố cáo tội ác của
bọn thực dân, phát xít và tay sai của chúng đã gây ra nạn đói khủng khiếp
năm 1945, để con người vào vòng đói khổ, biến con người thành bèo bọt,
rơm rác.
Hai là, người lao động dù ở trong tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên
cái chết vẫn khát khao hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin ở sự
sống, vẫn hy vọng ở tương lai. Cho dù hoàn cảnh muốn biến con người
8
giữa phố huyện trong hiện tại và hình ảnh Hà Nội trong quá khứ là gợi ra
sự tương phản giữa bóng tối và ánh sáng, hư vô và sự sống, bất hạnh và
hạnh phúc. Hai chị em Liên cố thức để đợi chuyến tàu còn vì muốn được
nhìn chuyến tàu, đó là hoạt động cuối cùng của đêm khuya. Đoàn tàu đi
qua phố huyện là niềm vui duy nhất trong ngày mà chị em Liên có được.
Đoàn tàu là hình ảnh của một thế giới hoàn toàn tương phản với phố huyện.
Vì thế, những con người nơi đây cố thức để được nhìn thấy chuyến tàu vì
họ tha thiết muốn được sống, dù chỉ trong khoảnh khắc và bằng tưởng
9
tượng với một thế giới khác, một thế giới sáng rực, huyên náo, vui vẻ và
sang trọng, thế giới mà họ hằng mơ ước. Đoàn tàu đã trở thành biểu tượng
của niềm khao khát về một cuộc sống tốt đẹp hơn, vui tươi hơn, đáng sống
hơn.
Thông qua tình huống đợi tàu, Thạch Lam muốn gửi đến người đọc
thông điệp nhân đạo: Không gì có thể vùi dập ước mơ, hy vọng của con
người; hãy cứu lấy những đứa trẻ, cứu lấy tương lai của thế giới này; cần
phải thay đổi cái thế giới tối tăm này đi, cần phải đem đến một thế giới
khác xứng đáng với con người hơn.
2.3. Loại truyện ngắn tiêu biểu cho tình huống nhận thức:
Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu:
Truyện được xây dựng từ một tình huống xung đột đầy nghịch lý: hai
phát hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh. Phát hiện thứ nhất đầy mơ mộng,
nên thơ, huyền ảo khi anh bất chợt gặp và chụp được một bức ảnh tuyệt
đẹp. Phát hiện thứ hai bất ngờ và trớ trêu như một trò đùa quái ác của cuộc
sống: hoá ra bên trong cái đẹp toàn bích mà người nghệ sĩ vừa bắt gặp trên
mặt biển xa lại chẳng phải là đạo đức, là chân lý của sự toàn thiện mà là
cảnh một người đàn ông làng chài đánh đập vũ phu và độc ác người vợ
nghĩa là cái đẹp đã có tác dụng thanh lọc tâm hồn con người. Thế nhưng,
ngay khi tâm hồn đang bay bổng trong những xúc cảm thẩm mỹ thì Phùng
đã kinh ngạc khi phải chứng kiến một cảnh tượng khủng khiếp: người đàn
bà làng chài bị chồng đánh đập tàn nhẫn mà vẫn nhẫn nhục chịu đòn không
hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách trốn chạy. Anh
bàng hoàng nhận ra đằng sau cảnh đẹp như mơ là bao nghịch lý éo le, bao
ngang trái đời thường xót xa. Phải sau khi gặp và nghe người đàn bà kể về
cuộc sống của mình, Phùng mới vỡ ra nhiều điều về cuộc sống và con
người. Anh đã phát hiện ra những vẻ đẹp khác đằng sau những bức ảnh mà
anh dày công săn tìm. Nó không toàn diện toàn mỹ như chiếc thuyền ngoài
xa mà là cái đẹp của cuộc sống đời thường đa đoan, đa sự. Anh vỡ lẽ đừng
bao giờ giữ cái nhìn một chiều để phát hiện cuộc sống vốn đa diện, phức
tạp và luôn bí ẩn, bất ngờ. Phùng ngộ ra mối quan hệ giữa hiện thực và
nghệ thuật. Anh hiểu rằng người nghệ sĩ không thể vì khao khát cái đẹp
nghệ thuật mà quên đi cuộc đời, bởi nghệ thuật chân chính luôn được khơi
nguồn từ cuộc đời và vì cuộc đời.
Trùng với hành trình nhận thức của Phùng là quá trình bừng ngộ của
chánh án Đẩu. Vốn là người lính xuất ngũ về làm chánh án toà án huyện
vùng biển, Đẩu vẫn giữ nguyên chất lính hồn hậu, nhiệt tình tấn công cái
ác, cái xấu. Phẫn nộ trước sự ngược đãi của người chồng, xót thương người
vợ bị bạo hành “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”, anh đã đi
ngược với phương châm lấy hoà giải làm đầu trong khi giải quyết các vụ án
ly hôn mà bảo thẳng với người đàn bà: “Chị không sống nổi với lão đàn
ông đó đâu”. Anh thực hiện pháp luật bằng sự thông hiểu sách vở và những
nguyên tắc đạo đức phổ biến trong cuộc đời. Chính vì vậy, anh đã ứng xử
có phần đơn giản trước cảnh ngộ riêng biệt của người đàn bà làng chài. Thế
nhưng, chính người đàn bà quê mùa, thất học mà sâu sắc nước đời ấy đã
giúp anh ngộ ra những nghịch lý của cuộc sống, những nghịch lý mà con
người buộc phải chấp nhận “Một cái gì mới vỡ ra trong đầu vị Bao Công
của cái phố huyện vùng biển”. Anh bắt đầu hiểu ra rằng: muốn thoát khỏi
người đàn bà là hiện thân của những lam lũ, khốn khó của đời thường, nó
là sự thật cuộc đời, là hiện thực trần trụi, khắc nghiệt đằng sau vẻ đẹp lãng
mạn của bức tranh. Qua sự đối lập giữa cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh
với hiện thực nhọc nhằn, cùng cực của người dân chài, Nguyễn Minh Châu
muốn khẳng định mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời, và bổn phận
của người nghệ sĩ là phải phát hiện sự thật ở cuộc đời, cái ĐẸP, cái THIỆN
trước hết phải là cái CHÂN THỰC.
12
PhÇn kÕt luËn
Trên đây, tôi đã trình bày những kinh nghiệm của mình về tình huống
truyện ngắn, bản thân rút ra những bài học để giảng dạy truyện ngắn thành
công :
Trước hết nắm bắt tư tưởng, quan điểm, phong cách sáng tác của nhà
văn, của truyện ngắn đó.
Đọc kĩ tác phẩm, nhận diện tình huống truyện ngắn, phân loại tình
huống, phân tích tình huống truyện đã chi phối tới nhân vật, ngôn ngữ trần
thuật, diễn biến cốt truyện, giọng điệu tác phẩm…( những yếu tố đặc trưng
của truyện ngắn) như thế nào. Cuối cùng tổng hợp, đánh giá tình huống
truyện để thấy tình huống với vai trò là hạt nhân trong truyện ngắn làm
bật nổi tư tưởng, chủ đề, quan điểm, phong cách của nhà văn, của truyện
ngắn được giảng dạy.
Với đề tài Tìm hiểu tình huống truyện ngắn trong chương trình
Ngữ văn Trung học phổ thông,Tôi rất mong được cùng tao đổi với đồng
nghiệp, nhằm giảng dạy tốt hơn tác phẩm truyện ngắn trong chương trình.
Để truyện ngắn xứng đáng với vị trí vai trò và đóng góp to lớn của nó trong
nền văn học dân tộc. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp quí báu của
Thầy cô đồng nghiệp!
Chương 2. Phân tích một số truyện ngắn trong chương trình…………10.
2.1. Loại truyện ngắn tiêu biểu cho tình huống hành động………………10.
2.2. Loại truyện ngắn tiêu biểu cho tình huống tâm trạng………………..11.
2.3. Loại truyện ngắn tiêu biểu cho tình huống nhận thức……………….12.
Phần kết luận………………………………………………………….17.
Tài liệu tham khảo……………………………………………………..18.
15