Biện pháp hướng dẫn học sinh tự học các bài ca dao trong chương trình lớp 10 Trung học phổ thông - Pdf 24


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHẠM THÁI LINH NGỌC BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC CÁC BÀI
CA DAO TRONG CHƯƠNG TRÌNH LỚP 10 THPT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thái Nguyên – 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC 0

LỜI CAM ĐOAN iv

LỜI CẢM ƠN v

DANH MỤC VIẾT TẮT vi

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1. Lý do chọn đề tài 1

2. Lịch sử vấn đề 2

3. Mục đích của đề tài 5

4. Đối tượng và phạm vi đề tài 6

5. Nhiệm vụ nghiên cứu 6

6. Phương pháp nghiên cứu 6

7. Cấu trúc luận văn 7

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 8

1.1. Tự học và các vấn đề về phương pháp tự học 8


1.3. Những cơ sở thực tiễn của việc hướng dẫn học sinh tự học các bài ca dao 28

1.3.1. Thực trạng việc tự học ở nhà trường phổ thông hiện nay 28
1.3.2. Thực trạng học văn của học sinh phổ thông 32

1.4. Kết luận 35

Chương 2: KHẢO SÁT THỰC TẾ DẠY HỌC TỰ HỌC CÁC BÀI CA
DAO LỚP 10 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG PHỔ THÔNG VÀ ĐỀ XUẤT
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỰ HỌC 37

2.1. Phần văn học và các bài ca dao trong Ngữ văn 10 THPT 37

2.1.1. Phần văn học trong SGK Ngữ văn 10 THPT. 37

2.1.2. Các bài ca dao trong Ngữ văn 10 THPT 37

2.2. Khảo sát tình hình dạy học các bài học ca dao trong chương trình
Ngữ văn 10 THPT 38

2.2.1. Mục đích khảo sát 38

2.2.2. Đối tượng khảo sát 38

2.2.3. Địa bàn khảo sát 39

2.2.4. Nội dung khảo sát 39

2.2.4.1.Về giờ dạy – học các bài ca dao trên lớp 39



2.3.3. Tự học sau khi lên lớp 80

Chương 3: THIẾT KẾ THỂ NGHIỆM 82

3.1. Mục đích thể nghiệm 82

3.2. Nội dung thể nghiệm 82

3.3. Đối tượng thể nghiệm 83

3.4. Thiết kế bài học 83

KẾT LUẬN 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn5ivLỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ “ Biện pháp hướng dẫn học sinh
tự học các bài ca dao trong chương trình lớp 10 THPT” là công trình
nghiên cứu của cá nhân tôi, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn

trường ĐHSP Thái nguyên đã giúp đỡ, đóng góp những ý kiến quý báu cho
tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới BGH và các đồng nghiệp của tôi ở
trường THPT Lương Ngọc Quyến, THPT Phú Bình, THPT Dương Tự Minh,
THPT Gang Thép đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình
học tập và nghiên cứu.
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2012
Tác giả luận văn Phạm Thái Linh Ngọc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn7viDANH MỤC VIẾT TẮT
THPT : Trung học phổ thông
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
SGK : Sách giáo khoa
VHDG : Văn học dân gian

thức, tự mình độc lập suy nghĩ, khác với lối học kinh viện, thụ động, nghe
truyền đạt một cách đơn thuần, là tự tiếp thu nguồn kiến thức văn hóa do việc
học mang lại. Do vậy nó có vai trò rất quan trọng trong hoạt động dạy học nói
chung và dạy học văn nói riêng, vì chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn92cao chỉ khi nào tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi biến được
quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục.
1.2. Ca dao được coi là phần tinh tuý nhất của Văn học dân gian. Nói đến ca
dao là nói đến những bài ca thường ngắn, đa dạng, phong phú về giọng điệu
và nội dung. “Dưới hình thức truyền miệng, ca dao vẫn giữ được chủ đề tư
tưởng và tính chất mộc mạc, không bao giờ cầu kỳ”( Vũ Ngọc Phan). Bởi
thế, ca dao thường rất dễ hiểu. Tuy nhiên, dạy và học ca dao lại không hề dễ,
những giờ giảng trên lớp nhiều khi thời gian hạn hẹp, nhiều giáo viên lại
không nắm vững được đặc trưng thể loại nên thường diễn nôm văn bản,
chưa định hướng được cho các em tự tìm hiểu để thấy được nét đặc sắc riêng
của từng bài, thấy được cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ, hình ảnh trong các
bài ca dao.Từ đó dẫn đến tình trạng học sinh thụ động, lười suy nghĩ. Những
bài ca dao vì thế cũng trở nên nhạt nhẽo với các em, đánh mất đi vẻ đẹp vốn
có của nó.
Vì tất cả những lý do trên, người viết mạnh dạn chọn đề tài “ Biện
pháp hướng dẫn học sinh tự học các bài ca dao trong chương trình lớp 10
THPT” với mong muốn được đóng góp giải quyết những khó khăn cho việc
dạy học ngữ văn hiện nay
2. Lịch sử vấn đề
2.1.Về vấn đề tự học

việc dạy học đạt kết quả cao nhất.
Giáo dục quan tâm đến tự học từ lâu. Song ở thời đại siêu công
nghiệp hiện nay, vấn đề “tự học” có ý nghĩa sống còn của tất cả mọi
người, kể cả những học sinh, sinh viên sau khi ra trường. Bởi vì nếu
không tự học và không có phương pháp tự học tốt sẽ lạc hậu về nhiều
mặt và khó có thể đảm đương được công việc nghiên cứu, kinh doanh
trong cương vị công tác của mỗi người
2.2 Vấn đề nghiên cứu ca dao dưới góc độ văn học
Những công trình nghiên cứu về ca dao dưới góc độ văn học rất đa
dạng và phong phú. Chúng tôi xin đưa ra một số công trình tiêu biểu như:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn114- Trong Cuốn “Văn học dân gian” ( Đinh Gia Khánh chủ biên) có nói
đến vấn đề phân loại ca dao, dân ca và những truyền thống nghệ thuật của ca
dao dân ca Việt Nam.
- Bài “ Hãy giữ gìn bản sắc dân tộc của tục ngữ - ca dao” của Đỗ
Quang Lưu nói đến thực trạng tục ngữ, ca dao bị biến dạng đi một cách tuỳ
tiện do người sử dụng thiếu hiểu biết hoặc do chủ định thiếu cân nhắc.
- Trong cuốn “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam” của Vũ Ngọc Phan
(Nxb Văn hóa Sài Gòn), tác giả cũng đã đưa ra khái niệm về ca dao, tìm hiểu
về nội dung và hình thức nghệ thuật của ca dao.
- Bài “Công thức truyền thống và đặc trưng cấu trúc của ca dao – dân
ca trữ tình” của Bùi Mạnh Nhị trong cuốn “ Văn học dân gian - những công
trình nghiên cứu” nhấn mạnh đến tầm quan trọng của công thức truyền thống
của ca dao “nó phản ánh quy tắc, quy luật của sáng tác dân gian và đặc trưng
mĩ học folklore”


Như vậy có thể thấy Văn học dân gian là bộ phận quan trọng của Văn
học Việt Nam. Những công trình nghiên cứu, bài viết, tài liệu về Văn học dân
gian rất nhiều và đều được đầu tư kỹ lưỡng, nhìn nhận ở nhiều chiều, nhiều
góc độ khác nhau. Đó là những tài liệu bổ ích giúp chúng tôi về mặt phương
pháp và phương pháp luận khi tiến hành nghiên cứu đề tài này.Tuy nhiên,các
bài viết trên chưa chuyên sâu về vấn đề tự học các bài ca dao hài hước và ca
dao than thân yêu thương tình nghĩa đang đựoc đưa vào giảng dạy hiện nay.
Do vậy, tác giả luận văn sẽ đề xuất một số biện pháp cụ thể để phát huy năng
lực tự học của học sinh, nhằm góp phần khắc phục những hạn chế còn tồn tại
trong dạy học các bài ca dao ở trường phổ thông hiện nay.
3. Mục đích của đề tài
Chúng tôi lựa chọn đề tài này nhằm mục đích đề xuất những biện pháp
nhằm nâng cao chất lượng tự học các bài ca dao ở lớp 10 THPT theo xu thế
đổi mới phương pháp dạy học văn hiện nay.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn1364. Đối tượng và phạm vi đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Là học sinh lớp 10 THPT với việc tự học các bài ca dao trong chương
trình SGK Ngữ văn hiện hành.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu các biện pháp hướng dẫn học sinh
tự học các bài ca dao ở lớp 10 THPT. Lưu ý mối liên hệ với các phân môn
khác như Tiếng Việt, Tập làm văn theo nguyên tắc tích hợp.
Đề tài nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng chất lượng tự học các bài


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn158Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Tự học và các vấn đề về phương pháp tự học
1.1.1. Khái niệm tự học
Tự học là vấn đề cấp thiết của nền giáo dục hiện đại. Tuy không còn là
một vấn đề mới mẻ, song không phải ai cũng hiểu và vận dụng một cách
thành công. Đề cập đến khái niệm tự học, mỗi công trình, mỗi nhà nghiên cứu
có những cách diễn đạt, thể hiện khác nhau (đã trình bày ở phần lịch sử vấn
đề của luận văn), song đều có một sự thống nhất tương đối rõ ràng về nội hàm
của khái niệm.
Nhà tâm lý học N.A.Rubakhin cho rằng: tự tìm thấy kiến thức có nghĩa
là tự học. Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội lịch sử
trong hoạt động của cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ, cải tiến kinh
nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến
tri thức của loài người trở thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng, kĩ xảo của
chủ thể.
Tác giả Nguyễn Kỳ quan niệm: “Tự học là người học tích cực, chủ
động, tự mình tìm ra tri thức, kinh nghiêm bằng hành động của mình, tự thể
hiện mình. Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu,
xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp… Tự
học thuộc quá trình cá nhân hoá việc học”
GS Trần Phương cho rằng: “Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự

thể đạt kết quả tốt. Vì vậy có thể khẳng định vai trò của hoạt động tự học là
rất quan trọng trong quá trình học tập của người học. Tự học là yếu tố quyết
định chất lượng và hiệu quả của hoạt động học tập.
Khi bàn về vai trò của tự học, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười khẳng
định: “Tự học, tự đào tạo là con đường phát triến suốt cuộc đời của mỗi con
người, trong điều kiện kinh tế - xã hội nước ta hiện nay và cả mai sau, đó
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn1710cũng là truyền thống quý báu của người Việt Nam và dân tộc Việt Nam. Chất
lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực sáng tạo
của người học, khi biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục. Quy
mô giáo dục được mở rộng khi có phong trào toàn dân tự học” [13]
 Tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học
Từ lâu các nhà sư phạm đã nhận thức rõ ý nghĩa của phương pháp dạy
tự học. Trong quá trình dạy học, giáo viên không chỉ dừng lại ở việc truyền
thụ những tri thức có sẵn, chỉ cần yêu cầu người học ghi nhớ, mà quan trọng
hơn là phải định hướng tổ chức cho họ tự khám phá ra những quy luật, thuộc
tính mới của các vấn đề tri thức. Người dạy giúp người học không chỉ nắm
bắt tri thức mà còn biết cách tìm đến những tri thức ấy. Thực tiễn cũng như lý
luận dạy học hiện đại đã chứng minh rằng: càng học lên cao thì tự học càng
được coi trọng, nói tới phương pháp tự học thì cốt lõi chính là dạy tự học.“
Muốn phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của người học thì cẩn rèn
luyện phương pháp tự học cho người học, coi đây không chỉ là một phương
tiện nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu quan trọng của dạy
học” [22]
GS.Trần Bá Hoành cũng nhấn mạnh điều này trong bài viết của mình

học, nhờ đó kết quả học tập càng được nâng cao.
Xin đưa ra một ví dụ điển hình về GS. Nguyễn Cảnh Toàn “Tôi sinh ra
và lớn lên trong chiến tranh, việc học hành luôn bị dở dang, đứt đoạn. vì thế
tự học là điều hết sức cần thiết để tôi bù đắp những thiếu hụt của mình. Trong
học tập, nếu thiếu chủ động, thày ra bài nào làm bài ấy, sách có thế nào học
thế ấy, hiệu quả sẽ không cao. Có người bảo tôi, anh đừng chủ quan, tưởng
mình tự học thành công thì ai cũng có thể tự học thành công. Theo tôi mọi
người đều có khả năng tự học nhiều hay ít, trừ khi bị những khuyết tật tâm
thần. Biết vun vén thì khả năng đó sẽ phát triển”. [28]
Với những lý do nêu trên, nếu người học xây dựng được phương pháp
tự học, phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo thì nhất định
sẽ khơi dậy được tối đa năng lực tiềm tàng sẵn có ở mình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn19121.1.3. Phương pháp tự học có tác dụng bồi dưỡng năng lực tự học, kỹ
năng tự học của người học
Học là quá trình thu nhận kiến thức, luyện tập kỹ năng do người khác
truyền lại. Mỗi người có một cách học riêng, nhưng cách học hiệu quả nhất là
sự tự học. Chỉ có tự học mới giúp chúng ta tiếp thu kiến thức một cách chủ
động, biết cách áp dụng kiến thức đó vào thực tế. Có thể tự học qua sách báo,
qua nghe giảng, qua các bài tập, qua học thuộc lòng, qua thực tế… Trong tự
học, bước đầu thường có nhiều lúng túng, nhưng chính những lúng túng đó lại
là động lực thúc đẩy người học suy nghĩ, tìm tòi, phát hiện vấn đề để có câu
trả lời thoả đáng. Do vậy tự học là sự thể hiện đầy đủ nhất vai trò chủ thể
người học trong quá trình nhận thức. Trong quá trình đó, người học hoàn toàn
chủ động và độc lập, tự lực tìm tòi, khám phá để lĩnh hội tri thức dưới sự chỉ

này. Chúng ta thường thấy có những học sinh, sinh viên con nhà nghèo,
thường phải làm việc giúp đỡ gia đình nhưng vẫn học giỏi, chính là biết cách
học như trên, họ đã hiểu bài, thuộc bài ngay tại lớp. Đã từ lâu, các thày giáo
giảng dạy có kinh nghiệm cũng đã đề ra phương pháp dạy và học theo cách
nói trên.
Tự học ở nhà rất quan trọng, vì đây là lúc học sinh có nhiều thời giờ
suy ngẫm, hoặc vận dụng kiến thức vào thực tế, tiếp tục đề xuất những thắc
mắc để thày giải đáp, đồng thời cũng là cách để tri thức khắc sâu trong bộ óc,
khó bị lãng quên và trở thành hữu ích, là cách học kết hợp với hành mà Bác
Hồ luôn nhắc nhở.
Hoạt động tự học không những là yêu cầu cấp bách, thiết yếu của học
sinh đang ngồi trên ghế nhà trường, mà còn có ý nghĩa trong suốt cuộc đời
mỗi con người, tạo thói quen học tập suốt đời, đúng như V.I.Lê Nin đã dạy:
“Học, học nữa, học mãi”. Cần phải học khi còn là học sinh, nhưng cần phải
học tập hơn nữa khi rời ghế nhà trường, và sự học tập ở giai đoạn thứ hai này
còn quan trọng hơn với mỗi người vì thời gian ngồi trên ghế nhà trường có
hạn. Học suốt đời sẽ giúp mỗi người khỏi bị lạc hậu trước sự biến đỏi không
ngừng của khoa học và công nghệ trong thời đại ngày nay.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn2114Tóm lại, tự học không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân người học mà
còn góp phần nâng cao chất lượng dạy học và đào tạo. Dạy học là dạy cách
học. Dạy cách học chủ yếu là dạy cách tự học. Tự học có phương pháp chung,
song cũng có những phương pháp cụ thể đối với những đối tượng người học
khác nhau, ở các môn học, bài học khác nhau. Có như vậy hì người học mới
thu được kết quả tốt và vững chắc.

Đối với môn ngữ văn trong nhà trường phổ thông, điều kiện để học
sinh thực hiện việc tự học đang rất được quan tâm, bởi đó là nguyên nhân
khắc phục tình trạng chán học văn hiện nay ở người học. Cả ba điều kiện về
thời gian, tâm lý và môi trường vật chất đều có vai trò quan trọng như nhau để
quyết định việc học tốt môn văn, đặc biệt là bài học tác phẩm văn chương.
Việc học văn đòi hỏi người học phải đọc nhiều, không chỉ bó hẹp ở các
tác phẩm trong nhà trường mà cần mở rộng ra các tác phẩm của các tác giả
khác thì mới mong tích luỹ và khắc sâu được tri thức, bởi vậy người học nên
đến thư viện để tìm và đọc các loại sách tham khảo, tự soạn trước bài mới ở
nhà theo sự hướng dẫn cụ thể của giáo viên. Ngoài việc học bài và làm bài,
các em nên dành thời gian rỗi để luyện tập viết đoạn văn, bài văn hoàn chỉnh,
hoặc đọc các sách chuyên khảo về văn chương để tự bồi dưỡng cả về kiến
thức và kỹ năng hành văn.
Đối với bài học Văn học dân gian nói chung, ca dao-thơ dân gian nói
riêng, học sinh cần có một cuốn sổ tay văn học để ghi chép lời hay ý đẹp,
những câu danh ngôn, những đoạn văn-câu thơ vừa để có vốn kiến thức, vừa
tự sửa các lỗi dùng từ, đặt câu hay mắc phải để biết cách viết đúng. Học sinh
cũng cần có Từ điển Tiếng Việt để tra cứu khi gặp những từ khó hiểu và làm
giàu thêm vốn từ Tiếng việt cho mình.
Môn Văn cũng có những đặc trưng riêng so với các môn học khác, do
vậy cần tạo được bầu không khí vui vẻ, thoải mái trong các giờ học văn, như
tạo dựng các nhóm thi đọc diễn cảm, tổ chức thảo luận giữa các nhóm về một
vấn đề nào đó của tác phẩm văn chương.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn2316Nguyên nhân chính làm cho chất lượng môn ngữ văn trong trường phổ
Ví dụ: Có thể kích thích tính tích cực tự giác ở người học bằng hệ thống
các câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn
chương (câu hỏi phát hiện,câu hỏi nêu vấn đề, so sánh, phân tích, tranh
luận…); hay tổ chức cho học sinh thảo luận theo nhóm về một vấn đề có
trong bài học.
Động cơ, nhiệm vụ và trách nhiệm của người học thường có mối liên
hệ với nội dung ý nghĩa xã hội của sự học, như nghĩa vụ đối với Tổ quốc,
trách nhiệm đối với gia đình, thầy cô, uy tín danh dự trước bạn bè…Từ đó các
em mới có ý thức kỉ luật trong học tập, nghiêm túc tự giác thực hiện nhiệm vụ
học tập và những yêu cầu từ giáo viên, phụ huynh.
Cả hai động cơ trên không hình thành tự phát, cũng chẳng được đem lại
từ bên ngoài mà nó hình thành và phát triển một cách tự giác từ bên trong. Do
vậy người GV phải tùy đặc điểm môn học, tùy đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi
của đối tượng để tìm ra những biện pháp thích hợp nhằm khơi dậy hứng thú
học tập và năng lực tiềm tàng nơi người học. Và điều quan trọng hơn là tạo
mọi điều kiện để các em tự kích thích động cơ học tập của mình.
 Xây dựng kế hoạch học tập
Đối với bất kì ai muốn việc học thật sự có hiệu quả thì cùng với mục
đích, nhiệm vụ đã xác định thì kế hoạch học tập phải được xây dựng cụ thể, rõ
ràng. Kế hoạch phải có tính định hướng cao. Kế hoạch học cho từng môn,
từng phần phải được tạo lập thật rõ ràng cho từng thời điểm, từng giai đoạn cụ
thể sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mình. Vấn đề kế tiếp là phải
chọn đúng trọng tâm, cái gì là cốt lõi là quan trọng để ưu tiên tác động trực
tiếp và dành thời gian công sức cho nó. Nếu việc học dàn trải, thiếu tập trung
thì chắc chắn hiệu quả sẽ không cao. Sau khi đã xác định được trọng tâm,
phải sắp xếp các phần việc một cách hợp lí, logic về cả nội dung lẫn thời gian,
đặc biệt cần tập trung hoàn thành dứt điểm từng phần, từng hạng mục theo thứ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status