BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN QUỲNH TRANG
ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP HƢỚNG DẪN HỌC SINH TRƢỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG SÔNG MÃ - SƠN LA CÁCH ÔN
TẬP VÀ LÀM BÀI THI PHẦN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƠN LA, NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Đồng thời để hoàn thành khóa luận em cũng đã được tạo điều kiện thuận
lợi về cơ sở vật chất, thời gian, tài liệu tham khảo của thư viện Trường Đại học
Tây Bắc.
Tác giả luận văn cũng xin chân thành cảm ơn giáo viên, học sinh trường
THPT Sông Mã – Tỉnh Sơn La, gia đình cùng bạn bè đã giúp đỡ và tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn.
Sơn La, tháng 5 Năm 2014
Sinh viên Nguyễn Quỳnh Trang DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trung học phổ thông
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích nghiên cứu 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 4
KẾT LUẬN 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Nội dung đề thi Cao đẳng và Đại học môn Ngữ văn theo quy chế của Cục
khảo thí, Bộ GD&ĐT những năm gần đây có phần chung và phần riêng với ba
câu hỏi, trong đó phần riêng (tự chọn) Nghị luận văn học (5 điểm) là phần chiếm
số điểm nhiều nhất, quá trình làm bài yêu cầu học sinh vận dụng khả năng đọc
hiểu và huy động kiến thức văn học để viết bài.
Thực tiễn cho thấy, để viết được một bài Nghị luận văn học không phải là
dễ, ở các bài thi tuyển sinh vào Cao đẳng, Đại học trong những năm gần đây vẫn
không ít những bài chưa tiếp cận được đề, lạc đề, xa đề, bài viết còn sơ sài, lan
man không giải quyết được yêu cầu trọng tâm của đề, dẫn đến kết quả bài thi
phần này điểm còn thấp. Muốn làm được một bài Nghị luận văn học thì điều đầu
tiên là phải nắm vững những kiến thức cơ bản về đọc hiểu văn bản nhằm hướng
đến cái đích bắt buộc là phải đảm bảo nội dung hay là yêu cầu về ý của đề bài.
Một bài văn đủ ý thôi đã khó, để bài văn hay và có những ý sáng tạo mới càng
khó hơn rất nhiều lần.
Để khắc phục những hạn chế nêu trên giáo viên cần hướng dẫn học sinh
biết cách ôn tập và có kĩ năng làm bài để bài viết có cách hành văn, lập luận tốt,
sáng tạo, mới mẻ như tiến sĩ Nguyễn Xuân Lạc đã khẳng định: “Nắm chắc kiến
thức cơ bản là điều cần thiết, nhưng lại phải biết cách giải đề”.
1.2. Cũng trong chương trình Làm văn THPT, học sinh được tiếp xúc và rèn
luyện với nhiều kiểu bài: Miêu tả, tự sự, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận.
Nhưng thực tế cho thấy Trong một thời gian khá dài, chương trình, đề thi tốt
2. Lịch sử vấn đề
Văn nghị luận, là loại văn có lịch sử lâu đời nhưng nếu chỉ tính riêng
những bài nghiên cứu, những tài liệu về phương pháp dạy học văn nghị luận nói
chung và Nghị luận văn học nói riêng, đặc biệt là cho học sinh lớp 12 thì chưa
nhiều. Các sách tham khảo, tài liệu nghiên cứu thường hướng vào giải quyết
từng đề bài cụ thể. Những sách mang tính định hướng cách ôn tập, cách làm bài,
phương pháp làm bài cho các em thì còn hạn chế. Từ trước đến nay, để rèn
luyện cho các em phương pháp làm bài văn nghị luận, các tài liệu đi theo nhiều
hướng khác nhau tùy theo yêu cầu của thời đại mang tính lịch sử.
Nhóm tác giả: Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh - Văn Giá - Lê Quang Hưng
Đỗ Ngọc Thống - Nguyễn Văn Tùng (nhà xuất bản ĐHQG Hà Nội – năm 2001)
trong cuốn “Cẩm nang ôn luyện môn Văn” (dùng cho học sinh ôn thi tốt nghiệp
THPT và thi Đại học, Cao đẳng) đã hướng dẫn học sinh biết cách ôn tập như thế
nào cho có hiệu quả nhất, biết được ở mỗi bài học đâu là tri thức cơ bản nhất, sở
hữu được những kĩ năng cần có để phân tích, bình giảng một bài văn, bài thơ,
thực hành để luyện ngòi bút của mình theo những đề bài thuộc các kiểu, dạng
khác nhau, tham khảo một loạt bài văn cụ thể, vận dụng những kiến thức khai
thác từ tất cả các bài học trong chương trình từ Văn học sử, Lí luận văn học đến
các tác phẩm văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 và 1945-1975.
Trong cuốn “Tuyển tập 234 đề và bài làm văn” của nhóm tác giả Huỳnh
Tấn Kim Khánh – Nguyễn Bích Thuận (nhà xuất bản ĐHQG Hà Nội – năm
2005 ). Dùng cho học sinh lớp 10, 11, 12 phổ thông và chuyên ban, là tài liệu ôn
thi tốt nghiệp, Cao đẳng, Đại học, đã đặc biệt chú trọng cung cấp cho học sinh
3
một số lượng lớn bài làm văn đa dạng, gồm bốn phần với 234 đề làm văn, nhóm
biên soạn chọn hai hoặc nhiều đề khác nhau cho mỗi tác giả hoặc tác phẩm theo
đúng chương trình Văn bậc phổ thông trung học, từ văn học Việt Nam đến văn
học nước ngoài và lí luận văn học. Những bài làm văn được triển khai theo một
trong bốn dạng sau:
cho từng nhóm, từng kiểu bài tác giả mới chỉ dừng ở mức độ khái quát.
4
Phương pháp dạy học, hướng dẫn ôn tập và làm bài thi phần văn nghị luận
nói chung và Nghị luận văn học nói riêng là vấn đề rất cơ bản và thiết yếu đối
với giáo viên và học sinh. Nó đã từng được đề cập đến trong nhiều tài liệu khác
nhau. Song để có những biện pháp cụ thể về dạy làm văn nghị luận, hướng dẫn
ôn tập và làm bài thi tốt nghiệp, Cao đẳng, Đại học cho học sinh lớp 12 ở một
trường cụ thể thì chưa có tác giả nào đề cập tới, nhất là học sinh THPT vùng
miền núi, các em còn hạn chế về kĩ năng này.Tuy nhiên do thời gian hạn chế tác
giả chỉ đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu và đề xuất biện pháp hướng dẫn ôn tập và
làm bài thi phần Nghị luận văn học cho học sinh lớp 12 ở một trường cụ thể
thuộc vùng miền núi, góp phần nâng cao chất lượng ôn tập cũng như kĩ năng
làm bài thi của học sinh.
3. Mục đích nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu phương pháp dạy học văn nghị luận
nói chung và phần Nghị luận văn học nói riêng trong chương trình lớp 11, lớp
12 nhằm góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng dạy và học. Từ đó đưa ra một
số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 12 vùng miền núi ôn tập và làm bài thi,
nhằm góp phần khắc phục hạn chế của học sinh trong việc xác định phương
pháp ôn tập, phương pháp làm bài thi phần Nghị luận văn học.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Đề tài tiến hành khảo sát các tác phẩm thuộc nội dung hạn chế cho hai câu
hỏi của phần Nghị luận văn học trong chương trình SGK Ngữ văn lớp 11, lớp
12, các kĩ năng, cách thức dạy học làm văn Nghị luận văn học, phương pháp ôn
tập và làm bài thi ở Trường THPT Sông Mã – Tỉnh Sơn La trong quá trình dạy
học môn Ngữ văn.
Đề xuất một số phương pháp hướng dẫn ôn tập và làm bài thi phần Nghị
luận văn học cho học sinh lớp 12 trường THPT Sông Mã – Tỉnh Sơn La.
Thiết kế thể nghiệm phương pháp hướng dẫn ôn tập và cách làm bài thi phần
phương pháp hướng dẫn học sinh lớp 12 trường THPT Sông Mã – Sơn La cách
ôn tập và làm bài thi phần Nghị luận văn học.
- Thiết kế thể nghiệm sơ đồ khái quát hướng dẫn học sinh lớp 12 trường
THPT Sông Mã – Sơn La ôn tập phần Nghị luận văn học. Thiết kế này có sự
tham khảo ý kiến và nhận được những góp ý, đánh giá của giáo viên phổ thông.
- Thiết kế thể nghiệm hướng dẫn học sinh lớp 12 ôn tập, biết cách tự học
và cách làm bài thi phần Nghị luận văn học.
- Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu đề tài người viết còn kết hợp với
một số phương pháp sưu tầm tài liệu, phân tích đánh giá, khái quát tổng hợp để
nhằm đề ra được những biện pháp thiết thực phù hợp với đối tượng học sinh
mang tính đặc thù của miền núi Tây Bắc.
7. Đóng góp của khóa luận
Thực hiện đề tài, tác giả khóa luận muốn tìm hiểu sâu sắc hơn về biện
pháp dạy học và hướng dẫn ôn tập cũng như cách làm bài thi môn ngữ văn cho
học sinh lớp 12, đặc biệt là học sinh THPT vùng miền núi. Từ đó đề ra những
biện pháp hướng dẫn ôn tập và làm bài thi phần Nghị luận văn học cho học
sinh lớp 12 trường THPT Sông Mã – Sơn La.
6
Đề tài là quá trình tập dượt nghiên cứu khoa học nâng cao kĩ năng nghề
nghiệp rất bổ ích đối với bản thân, làm tiền đề cơ sở cho bước đường công tác
dạy học ở nhà trường THPT sau này.
8. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và thư mục tham khảo, luận văn có 03
chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn.
Chương 2: Biện pháp hướng dẫn ôn tập và làm bài thi phần Nghị
luận văn học cho học sinh trường THPT Sông Mã - Sơn La.
Chương 3: Thiết kế thể nghiệm.
học phải đặt tác phẩm văn học vào thời đại mà tác phẩm phản ánh cũng như
hoàn cảnh tác phẩm ra đời để thấy rõ giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của
tác phẩm.
Theo cách thức nghị luận và phương pháp lập luận, có thể chia thành các
kiểu bài Nghị luận văn học: phân tích, bình giảng, chứng minh văn học. Người
ra đề cũng có thể kết hợp nhiều yêu cầu trong một đề văn, đó là lí do học sinh
thường gặp kiểu bài hỗn hợp.
1.1.2. Đặc điểm của kiểu bài Nghị luận văn học
1.1.2.1. Đặc điểm về nội dung
* Thống nhất giữa tính trí tuệ của ngôn ngữ khoa học với tính cảm xúc
của ngôn ngữ nghệ thuật
Khác hẳn với ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương mang đậm tính hình
tượng và cảm xúc, văn nghị luận chủ yếu là tiếng nói đi thẳng vào lí trí người
đọc. Bộ phận nội dung cốt lõi của các văn bản Nghị luận văn học là nội dung
thông tin lí tính, chất liệu của chúng là lí lẽ. Hứng thú chủ yếu của người đọc là
hứng thú muốn hiểu biết, nhận thức và tiếp nhận chân lí. Tuy nhiên, khi đã nói
8
đến văn học nghệ thuật là nói đến việc khám phá về con người, đề cập đến xúc
cảm, tình cảm của con người. Do vậy, văn bản Nghị luận văn học là sự kết hợp
hài hòa giữa cảm xúc, cảm hứng trữ tình, biểu lộ bằng tình cảm yêu – ghét rõ
ràng qua thái độ đánh giá đối với khách thể, đối tượng đưa ra bàn luận. Hai yếu
tố này thể hiện như thế nào sẽ tùy thuộc vào đề tài, nội dung và thể loại cũng
như phong cách sở trường kể cả sở thích của người viết quy định.
* Xu hướng trừu tượng – khái quát hóa được biểu hiện bằng ngôn ngữ
biểu cảm
Khuynh hướng chung của văn bản Nghị luận văn học là hướng tới cái đặc
điểm, bản chất của các sự kiện, hiện tượng văn học để từ đó lí giải, rút ra quy
luật vận động chung của chúng.
* Kết hợp tính khách quan của sự phân tích khoa học với tính chủ quan
trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân” theo cách trực tiếp như sau:
“Truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân được viết ngay sau khi Cách
mạng tháng Tám thành công. Cái tên mà tác giả chọn đặt cho truyện ngắn này
đã cho thấy một tình huống rất “có vấn đề” của câu chuyện được kể. Từ chuyện
“nhặt được vợ” của Tràng – nhân vật chính trong tác phẩm – đúng vào những
ngày đói thê thảm của năm Ất Dậu, nhà văn đã thâu tóm trong đó không chỉ cái
bi kịch và khát vọng sống của một con người mà còn phản ánh trọn vẹn tấn bi
kịch lịch sử và khát vọng sống, xu thế tất yếu của dân tộc. Tình huống “nhặt
được vợ” (như nhan đề của truyện ngắn đã nêu rõ) có vai trò quyết định đối với
toàn bộ giá trị nghệ thuật và nội dung của tác phẩm”. [15;112]
- Mở bài gián tiếp: nêu ra những ý liên quan đến vấn đề cần nghị luận để
khêu gợi rồi mới bắt đầu đi vào vấn đề ấy.
Ví dụ: mở bài của đề “Phân tích giá trị nghệ thuật của tình huống truyện
trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân” theo cách gián tiếp như sau:
“Đọc Vợ nhặt của Kim Lân, cái ấn tượng đậm nét nhất mà truyện ngắn để
lại trong tân trí người đọc là hình ảnh Tràng dắt về “người vợ theo” trong cái
cảnh “tối sầm lại vì đói khát” của năm Ất Dậu. Sự lựa chọn đầy táo bạo của con
người trong tình huống trớ trêu ấy cũng là sự lựa chọn của cả một cộng đồng:
phải sống mà làm người, phải vượt lên cái đói và cái chết. Đó cũng là tình huống
của lịch sử. Có thể nói, thành công của Vợ nhặt trước hết là thành công của tình
huống truyện.” [15; 113]
Phần thân bài (giải quyết vấn đề)
Đây được coi là phần quan trọng nhất trong kết cấu của bài làm nghị luận.
Nhiệm vụ trọng tâm của phần này là triển khai đầy đủ đề tài, chủ đề theo hướng
đã định ở phần mở bài.
Phần thân bài là phần thể hiện rõ nhất thao tác cơ bản của việc sử dụng
ngôn ngữ, sắp xếp các ý…Đó là việc chọn ý, phân cấp các ý, trình bày các
ý…trong số đó số lượng các ý phải được lựa chọn theo tiêu chuẩn logic để tránh
các hiện tượng thiếu ý, rườm rà…
Phân cấp các ý là biểu hiện của việc biết đánh giá tác dụng của các ý
nhập vào thế giới thượng lưu vừa do số đỏ vừa không hoàn toàn ngẫu nhiên.”
Cách 2: dùng câu chuyển đoạn nghĩa là chêm vào văn mạch những câu
thông báo trực tiếp về ý định chuyển đoạn của người viết.
Phần kết bài (kết thúc vấn đề)
Phần kết tạo cho văn bản “tính chất kết thúc, tính chất đóng” cả về
phương diện nội dung và phương diện hình thức. Phần kết không nhất thiết phải
có tính chất kết luận mà còn có thể phát triển phần kết theo những hướng sau:
- Điểm khái quát phần nội dung ở phần thân một cách thật ấn tượng.
- Nêu bật những kết quả tìm tòi, khảo sát nghiên cứu mà phần thân bài đã
làm được. Mở ra những phương diện, những đối tượng, những cách thức xem
xét khác có liên quan và có tác dụng tích cực đối với nội dung đã nghiên cứu
trong phần thân bài.
11
- Phải thể hiện đúng quan điểm đã trình bày ở phần thân bài, chỉ nêu
những ý khái quát, không trình bày lan man hay lặp lại sự diễn giải, minh họa,
nhận xét chi tiết cũng không nên lặp lại nguyên văn lời lẽ của phần mở bài mà
thiên về tổng kết, đánh giá vấn đề.
Có nhiều cách kết bài khác nhau tùy theo dụng ý của người viết như:
+ Cách tóm lược, nghĩa là tóm tắt quan điểm của người viết ở phần thân bài.
Ví dụ: Kết bài của đề “Bình luận bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh”
theo kiểu tóm lược như sau:
“Mặc dù được sáng tác cách đây nửa thế kỉ bằng thể thơ tứ tuyệt cổ điển,
Ngắm trăng vẫn làm rung động chúng ta. Bài thơ là sự kết hợp hài hòa giữa chất
“thép” với chất “tình”, giữa người chiến sĩ và người nghệ sĩ trong một con
người. Đó không chỉ là một sáng tạo nghệ thuật đáng trân trọng mà còn là một
bài học về phong cách sống, về nhân sinh quan.” [8; 91]
+ Cách phát triển, đây là cách kết bài mở rộng thêm vấn đề đặt trong đề bài.
+ Cách vận dụng, đây là cách kết bài nêu ra phương hướng áp dụng cái
tốt, cái hay hoặc khắc phục cái xấu, cái dở của hiện tượng hay ý kiến nói trong
Cái lạ, cái hay của bài thơ ở chỗ đó. Sức mạnh của con người, cái đẹp của
tâm hồn, của Bác là ở đó.
Nếu trăng thuộc phần vui, phần đẹp, phần ước mơ lãng mạn, phần triển
vọng, vậy ngục tù có phải là bao nhiêu cái gian khổ, cái trói buộc, lúng túng tiêu
cực trên đường đi tới một cảnh trăng đẹp chăng? Trong tù mà ngắm được trăng,
đương nắng lửa mưa dầm mà nhìn được trăng thanh gió mát, đó đâu chỉ là một
phong thái. Đó là một bài học đạo đức, một bài học lạc quan, tin tưởng, một bài
học cách mạng thật không ngờ nhưng thật thú vị” [8; 91]
Kết bài theo kiểu hỗn hợp của giáo sư Lê Trí Viễn gần như có đủ cả bốn
cách kết bài đã nêu mà lại rất phóng khoáng, đầy chủ động. Mở ra rộng (trăng
với nhân loại, với cuộc đời ) song thu lại cũng rất khéo (… “và ở đây, ở bài thơ
này…”). Nghĩ suy sâu, liên tưởng nhiều, song vẫn trở về với đích là bài thơ. Có
tóm lược, lại có phát triển, có vận dụng, có liên tưởng mà hợp lại chỉ là một kết
bài. Trong kết bài không phải chỉ có một lớp, một chiều, một đường thẳng trực
tiếp (chỉ tóm tắt hoặc từ tổng kết rồi phát triển nâng lên, từ tóm tắt đến rút ra bài
học…) mà theo nhiều lớp. Lớp này gối lên lớp kia lan tỏa cho tới kết thúc, đặt
dấu chấm hết cuối cùng đồng thời kết bài này cũng đảm bảo “văn hay, truyền
cảm.”
Dù kết bài theo kiểu nào đi chăng nữa cũng cần đảm bảo việc khắc sâu kết
luận, để lại ấn tượng đậm đà hoặc nâng cao ý nghĩa của vấn đề đã nêu.
1.1.3. Cách làm một bài Nghị luận văn học
1.1.3.1. Tìm hiểu đề
Trong nhà trường, học sinh làm văn theo đề bài mà giáo viên đặt ra với
những yêu cầu nhất định. Thông thường một đề có ba yêu cầu:
- Yêu cầu hình thức (còn gọi là thể loại).
- Yêu cầu nội dung (còn gọi là luận đề).
- Yêu cầu tài liệu (còn gọi là phạm vi dẫn chứng).
Ví dụ: Đề bài "Phân tích hình tượng nhân vật Huấn Cao trong Chữ người
tử tù của Nguyễn Tuân”.
Yêu cầu về thể loại: phân tích.
Lập dàn bài là tìm ý và chọn lựa, sắp xếp các ý (còn gọi là các luận điểm,
luận cứ,… ) theo một trật tự hợp lí để làm sáng rõ luận đề của bài văn.
Với mỗi loại đề bài thì việc lập dàn bài cũng khác nhau. Đối với những đề
bài có sẵn luận điểm, luận cứ thì trước hết cần tiến hành công việc tìm hiểu đề,
phân tách ý, chọn ý và sắp xếp ý thành một dàn bài tổng quát hay chi tiết. Ta
nên chú ý đến mối quan hệ giữa các từ ngữ, thành phần câu và câu để phân tách
các đơn vị ngữ pháp thành các luận điểm. Nếu hai đơn vị ngữ pháp có quan hệ
đồng nhất về ý nghĩa ta có thể kết hợp thành một ý. Nếu hai đơn vị ngữ pháp có
quan hệ chính phụ về ý nghĩa, ta tách thành hai ý khác cấp bậc.
14
Ví dụ: Đề bài “Phân tích hình ảnh hai chị em Liên trong truyện ngắn Hai
đứa trẻ của Thạch Lam”.
Với đề bài trên ta có thể lập dàn bài như sau:
Mở bài
* Vị trí của Thạch Lam trong nền văn học Việt Nam trước cách mạng và
đặc sắc của truyện ngắn Hai đứa trẻ.
* Thành công của nhà văn trong xây dựng hình ảnh hai chị em Liên.
Thân bài
* Tâm trạng hai chị em Liên trong khung cảnh tối tăm, tù đọng của đời
sống phố huyện nghèo.
- Tâm trạng của hai chị em lúc chiều tà.
+ “Cái giờ khắc của ngày tàn” qua nét bút gợi cảm của Thạch Lam: âm
thanh, màu sắc, không gian…
+ Nỗi buồn man mác trong Liên.
+ Cảnh vật, những hình ảnh con người xung quanh Liên như gợi sâu thêm
vào nỗi buồn man mác, thăm thẳm ấy (cảnh chợ huyện sau lúc vãn, hình ảnh mẹ
con chị Tí với chõng hàng nước, ngọn đèn leo lét, hình ảnh bà cụ Thi với tiếng
cười khanh khách đang đi lần vào bóng tối về phía làng).
- Tâm trạng của hai chị em khi màn đêm buông xuống.
thiếu mạch lạc, không thành đoạn. Tùy theo vị trí của câu chủ đề mà ta có một
trong bốn cách sắp xếp câu dưới đây:
Đoạn có câu chủ đề đặt ở đầu: ý nghĩa của các câu được sắp xếp theo cách
diễn dịch.
Cụ thể với đoạn chứng minh có câu chủ đề đặt ở đầu đoạn như sau: “Giữa
Từ Hải và Thúy Kiều có mối cảm thông sâu sắc của tình tri kỉ”.
Đoạn văn: “Giữa Từ Hải và Thúy Kiều có mối cảm thông sâu sắc của tình
tri kỉ. Trong lần gặp mặt đầu tiên ở lầu xanh, không phải màu áo hay nụ cười mà
chính tấm lòng thắm dịu và thủy chung của Thúy Kiều đã chinh phục Từ Hải:
Qua chơi nghe tiếng nàng Kiều,
Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng.
Cũng trong lần gặp gỡ ban đầu ấy, tuy Từ Hải chưa xây dựng được
nghiệp lớn nhưng Thúy Kiều đã nhận biết tài trí anh hùng của Từ và dự đoán
chàng sẽ làm nên nghiệp đế vương:
Thưa rằng “Lượng cả bao dong,
Tấn Dương được thấy may rồng có phen”.
Khi Từ bị Hồ Tôn Hiến lừa dối và chết thảm trong đám loạn quân, ai thấu
hiểu được mối hận của người anh hùng khi thất thế? Chỉ có Thúy Kiều và chỉ
một mình Thúy Kiều mà thôi! Cho nên “trong vòng tên đá bời bời”, Từ Hải vẫn
“đứng giữa trời trơ trơ” để chờ đợi tiếng nói đồng cảm của người tri âm, tri kỉ.
Từ chỉ ngã xuống và yên giấc ngủ ngàn thu khi Thúy Kiều đến và khóc:
Khóc rằng: “Trí dũng có thừa,
Bởi nghe lời thiếp nên cơ hội này!
Mặt nào trông thấy nhau đây?
Thà liều sống thác một ngày có nhau!”
Đoạn có câu chủ đề đặt ở cuối: ý nghĩa của các câu được sắp xếp theo
cách quy nạp.
16
Ví dụ với đoạn chứng minh có câu chủ đề đặt ở cuối đoạn như sau: “Giữa
nhưng chọn mười bài thơ mới hay nhất khó có thể bỏ qua Tống biệt hành”.
[15;113]
Ta có thể dựa vào bốn cách sắp xếp câu vừa tìm hiểu ở trên để viết đoạn
nghị luận.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Khảo sát chƣơng trình SGK Ngữ văn 12 phần làm văn Nghị luận văn học
17
SGK Ngữ văn lớp 12 (cơ bản) theo chương trình hiện hành bao gồm 20
bài hướng dẫn và rèn luyện cho học sinh cách làm bài Nghị luận văn học với nội
dung cụ thể như sau:
Bài 1: Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ (1 tiết).
- Tìm hiểu đề và lập dàn ý.
- Đối tượng, nội dung của bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.
Bài 3: Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học (1 tiết).
- Hướng dẫn chung về thực hành trên lớp.
- Đối tượng, nội dung của bài nghị luận bàn về ý kiến văn học.
Bài 3: Viết bài làm văn số 3 (2 tiết).
- Hướng dẫn chung.
- Gợi ý một số đề bài.
- Gợi ý cách làm bài.
Bài 4: Luyện tập vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt trong bài văn
nghị luận (1 tiết).
- Luyện tập trên lớp.
- Luyện tập ở nhà.
Bài 5: Luyện tập vận dụng các thao tác lập luận trong bài văn nghị luận (1
tiết).
- Luyện tập trên lớp.
- Luyện tập ở nhà.
Bài 6: Trả bài làm văn số 3 (1 tiết).
- Viết phần kết bài.
Bài 14: Trả bài làm văn số 6 (1 tiết).
- Hướng dẫn học sinh tự đánh giá bài viết của mình và tự rút ra những
điểm mạnh và điểm yếu để khắc phục và phát huy trong bài viết sau.
Bài 15: Diễn đạt trong văn nghị luận (1 tiết).
- Cách sử dụng từ ngữ trong văn nghị luận.
- Cách sử dụng kết hợp các kiểu câu trong văn nghị luận.
Bài 16: Diễn đạt trong văn nghị luận (1 tiết).
- Xác định giọng điệu phù hợp trong văn nghị luận.
- Luyện tập vận dụng.
Bài 17: Ôn tập phần làm văn (1 tiết).
- Những nội dung kiến thức cần ôn tập.
- Luyện tập vận dụng.
bài 18: Giá trị văn học và tiếp nhận văn học (1 tiết).
- Nắm được những giá trị cơ bản của văn học.
- Hiểu được những nét bản chất của hoạt động tiếp nhận văn học.
Bài 19: Kiểm tra tổng hợp cuối năm (2 tiết).
- Hướng dẫn chung:
+ Những nội dung cần lưu ý.
+ Cách ôn tập và làm bài kiểm tra.
- Gợi ý đề bài:
+ Phần trắc nghiệm.
+ Phần tự luận.
Bài 20: Trả bài kiểm tra tổng hợp cuối năm (1 tiết).
19
- Nhận xét, đánh giá kết quả bài làm.
- Thảo luận.
- Xây dựng một dàn ý chi tiết cho đề tự luận.
- Học sinh đọc lại bài kiểm tra và sửa lỗi.
trong hai câu hỏi này: vận dụng khả năng đọc hiểu và kiến thức văn học để viết
bài Nghị luận văn học. Đây cũng chính là đề tài tìm hiểu của khóa luận.
Câu 3.a: theo chương trình chuẩn (5 điểm)