skkn vài KINH NGHIỆM đọc – HIỂU một số văn bản THƠ CHỮ nôm TRONG CHƯƠNG TRÌNH lớp 10 TRUNG học PHỔ THÔNG - Pdf 32

VÀI KINH NGHIỆM ĐỌC – HIỂU
MỘT SỐ VĂN BẢN THƠ CHỮ NÔM TRONG CHƯƠNG TRÌNH
LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Văn học viết Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX còn gọi là văn học trung đại
– tồn tại và phát triển trong xã hội phong kiến. Hai thành phần chủ yếu của văn học
trung đại là văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm. Trong đó, văn học chữ Nôm đã
đạt được những thành tựu đặc sắc về nội dung và nghệ thuật. Trong trường phổ thông,
thơ chữ Nôm của văn học trung đại Việt Nam được giảng dạy từ bậc trung học cơ sở
(THCS) đến trung học phổ thông (THPT). Nó đã góp phần hình thành những phẩm
chất tốt đẹp cho thế hệ trẻ, giáo dục cho học sinh lòng yêu nước, yêu quê hương thiết
tha, lòng nhân ái, nhạy cảm trước cái đẹp, biết vượt qua khó khăn, thử thách để vươn
tới lý tưởng cao đẹp.
Thơ chữ Nôm là một trong những thành tựu rực rỡ của văn học trung đại Việt
Nam. Thơ chữ Nôm không chỉ đa dạng về đề tài, phong phú về số lượng tác phẩm,
mà còn đạt đến trình độ nghệ thuật điêu luyện, hình tượng thơ hàm súc, ngôn ngữ thơ
tinh tế, sáng tạo. Thơ chữ Nôm của văn học trung đại Việt Nam thể hiện hai nội dung
lớn là yêu nước và nhân đạo, phát triển theo quy luật vừa tiếp thu và dân tộc hóa
những tinh hoa của văn học nước ngoài, chủ yếu là văn học Trung Quốc, tiếp thu
những thành tựu của văn học dân gian. Thơ chữ Nôm có sự đóng góp của những tài
năng lớn như : Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm,
Nguyên Gia Thiều..... Thơ chữ Nôm có một giá trị nhân bản rất cao, chứa đựng những
nỗi niềm mà các nhà thơ gửi gắm. Đó là những tiếng lòng của các nhà thơ nên có sức
truyền cảm mạnh mẽ, lắng sâu trong lòng người, tồn tại mãi với thời gian, còn tỏa
sáng đến muôn đời sau.
Trong trường phổ thông, các tác phẩm thơ chữ Nôm giúp cho học sinh hiểu biết
thêm về lịch sử – xã hội Việt Nam thời kỳ trung đại, tinh thần yêu nước, lòng tự hào
dân tộc, lòng yêu thương con người bao la, những triết lý nhân sinh sâu sắc.... Học
sinh còn được cung cấp thêm những hiểu biết về cái hay, cái đẹp của ngôn từ, hình
tượng nghệ thuật, bút pháp tả cảnh ngụ tình, miêu tả tinh tế nội tâm nhân vật... Một
bài thơ , một đoạn thơ chữ Nôm hay gợi mở cho học sinh nhữung tư duy bay bổng,

trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh.
- Nhà trường được cung cấp nhiều trang thiết bị : máy chiếu, tranh ảnh, đồ dùng
dạy học... tạo hứng thú cho học sinh học tập môn Ngữ văn. Nhiều giáo viên trong tổ
chuyên môn tự làm đồ dùng dạy học, tìm tòi tư liệu phục vụ cho việc giảng dạy môn
Ngữ Văn.
- Chương trình phân ban đòi hỏi thầy và trò phải sáng tạo trong giảng dạy và
học tập, phải phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh. Giáo viên phải đổi mới
cách soạn giáo án, thiết kế bài dạy, tổ chức các khâu lên lớp và chuẩn bị ở nhà. Nhờ
vậy, chất lượng giảng dạy các bộ môn, trong đó có môn Ngữ văn ngày càng cao. Tỉ lệ
học sinh khá giỏi ngày càng tăng so với năm học trước.
- Học sinh học chương trình phân ban muốn đạt danh hiệu học sinh tiên tiến,
học sinh giỏi phải cố gắng học tập môn Ngữ văn.
2


2. Khó khăn :
- Trình độ học sinh trong nhà trường nhìn chung tương đối đồng đều. Học sinh
đuợc tuyển vào lớp 10 trong các năm học đều là các học sinh có học lực khá, giỏi.
Học sinh có tinh thần ham học hỏi, thông minh, sáng tạo. Nhưng trong mỗi lớp học,
học lực của học sinh chưa đồng đều. Nhiều học sinh ý thức phấn đấu chưa cao, bằng
lòng với học lực trung bình. Một số học sinh học tập còn lơ là, ham chơi, chưa tập
trung nghe giảng, thụ động. Nhiều học sinh dành thời gian cho các môn học khoa học
tự nhiên, ôn thi đại học, môn Ngữ văn chỉ mong đạt điểm trung bình.
- Chương trình học của học sinh THPT hiện còn nặng nề, kiến thức nhiều, quỹ
thời gian hạn chế. Giáo viên chưa có điều kiện đào sâu, nâng cao kiến thức cho học
sinh.
- Một số giáo viên chưa dành nhiều thời gian và công sức cho việc soạn giảng
về thơ chữ Nôm. Giáo án đánh máy còn có hiện tượng sao chép của nhau hoặc lấy
nguyên từ trên mạng, ít chỉnh sửa cho phù hợp với tình hình học tập của từng trường,
với trình độ học sinh của từng lớp.


0 – 0%

4 -11,1%

34 - 88,9%

2011 – 2012

37

0 – 0%

5 -13,5%

32 - 86,5%

2012 – 2013

39

0 – 30%

4 -10,3%

35 - 88,7%

III. NỘI DUNG ĐỀ TÀI :
3


- Thiết kế bài học một cách khoa học, phù hợp với thực tiễn giảng dạy trong
nhà trường, phù hợp với đối tượng học sinh. Chuẩn bị hệ thống câu hỏi chuẩn bị bài,
câu hỏi rèn luyện kỹ năng đọc – hiểu văn bản chữ Nôm, câu hỏi và bài tập hướng dẫn
học sinh tự học ở nhà. Phát hiện, bồi dưỡng học sinh khá, giỏi, phát huy năng lực đọc
– hiểu văn bản thơ chữ Nôm. Chuẩn bị hoạt động thảo luận theo tổ nhóm của học
sinh. Hệ thống câu hỏi đặt ra để học sinh thảo luận phải hướng vào trọng tâm bài học,
4


vào mục tiêu bài học đặt ra. Bài học phải đảm bảo chuẩn kiến thức, kỹ năng, không
lan man, dàn trải.
- Người giáo viên nắm vững trọng tâm kiến thức, kỹ năng của bài học, chuẩn bị
nhuần nguyễn các khâu lên lớp, sẽ làm chủ được kiến thức, chủ động về thời gian,
không lúng túng khi gặp tình huống học sinh đặt ra câu hỏi đề nghị giáo viên lý giải
hoặc nâng cao vấn đề.
- Người giáo viên có thể tự làm đồ dùng dạy học, tìm thêm tư liệu nhằm nâng
cao hiệu quả giờ dạy, hoặc phân công học sinh chuẩn bị sơ đồ, mô hình, dụng cụ học
tập. Chẳng hạn : bức tranh cảnh thiên nhiên ngày hè, bức tranh Thúy Kiều trao duyên
cho Thúy Vân...
- Hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa, soạn bài mới, hướng dẫn học
sinh đọc – hiểu tác phẩm thơ chữ Nôm ở nhà.
1.2. Công việc của học sinh :
- Học sinh phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mình, không lơ
là, thụ động. Học sinh phải soạn bài ở nhà, đọc kỹ văn bản, nắm được những nét
chính về cuộc đời, sự nghiệp văn học, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm...
- Học sinh chuẩn bị đồ dùng học tập theo hướng dẫn của giáo viên : bảng phụ,
tranh ảnh, hình vẽ... Chuẩn bị việc thảo luận theo tổ nhóm, tranh luận... theo yêu cầu
của từng bài học và định hướng của người thầy.
- Học sinh chuẩn bị bài học bám sát sách giáo khoa, bám sát chuẩn kiến thức,
kỹ năng qua câu hỏi hướng dẫn chuẩn bị bài của giáo viên.

là nói lên bản chất nhân đạo trong con người và cảm hứng nhân văn trong tâm hồn
Nguyễn Du. Về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm Chinh phụ ngâm, Phan Huy chú trọng
Lịch triều hiến chương loại chí có viết “ Sách Chinh phụ ngâm là bởi hương cống
Đặng Trần Côn biên soạn. Nhân đầu đời Cảnh Hưng việc binh nổi dậy, người ta đi
đánh phải lìa nhà, ông cảm thời thế mà làm ra”. Nắm vững những trí thức trong phần
Tiểu dẫn giúp cho học sinh có cơ sở hiểu sau hơn nội dung bài thơ, đoạn thơ chữ
Nôm.
3. Đọc – hiểu văn bản thơ chữ Nôm phải chú ý đến các bản phiên âm, có thể có
dị bản, nắm vững phần chú thích, hiểu được nghĩa của các từ Việt cổ, điển cổ,
điển tích :
Các bài thơ, đoạn thơ chữ Nôm của văn học trung đại Việt Nam được dạy và
học trong chương trình phổ thông được phiên âm ra chữ quốc ngữ. Việc phiên âm
thường có dị bản, một chữ Nôm có khi đọc thành hai, ba cách khiến cho cách hiểu
cũng khác nhau. Giáo viên và học sinh cần chú ý điều này để cân nhắc, lựa chọn khi
đọc – hiểu văn bản thơ chữ Nôm. Nên chọn cách phiên âm trong sách giáo khoa. Ví
dụ : Câu thơ thứ tư trong bài Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới – bài 43) của Nguyễn
Trãi có bản phiên âm “Hồng liên trì đã tịn mùi hương”, “Hồng liên trì đã tạn mùi
hương”. Bản phiên âm trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 là “ Hồng liên trì đã tiễn mùi
hương”. Tịn mùi hương là đã hết mùi hương, tạn mùi hương là mùi hương thoang
thoảng. Bản phiên âm là tiễn mùi hương (ngát mùi hương) trong sách giáo khoa là
hợp lý, vì thiên nhiên đang giữa mùa hè, rất sống động, màu sắc đậm đà. Trong đoạn
trích Trao duyên (trích Truyện Kiếu – Nguyễn Du) có câu thơ được phiên âm là “Bây
6


giờ trâm gãy, bình tan” và “Bây giờ trâm gãy, gương tan”. Chúng ta nên chọn cách
phiên âm thứ hai, vì trâm và gương là những vật nam nữ ngày xưa thường tặng cho
nhau để làm kỷ niệm của tình yêu. Trâm gãy, gương tan là hình ảnh nói về sự tan vỡ
của tình yêu. Lựa chọn hợp lý cách phiên âm còn góp phần hiểu được những tâm tư,
tình cảm, ý chí, tài năng nghệ thuật của tác giả. Sự lựa chọn này còn giúp chúng ta

khúc) cũng cần chú ý đến vai trò của thể thơ song thất lục bát trong việc hình thành
đặc điểm của ngâm khúc. Đề tài người chinh phụ, người cung nữ là một đề tài khá
7


phổ biến của thơ ca cổ điển Trung Quốc, nhất là thơ Đường. Khi viết Chinh phụ
ngâm, Cung oán ngâm khúc, các tác giả Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều đã có một
nguồn văn liệu dồi dào để tham khảo. Cần thấy được giá trị nhân đạo sâu sắc của các
tác phẩm này ngay từ tên gọi, nghệ thuật miêu tả tinh tế nội tâm nhân vật, bút pháp tả
cảnh ngụ tình đặc sắc, tiếng nói đề cao hạnh phúc lứa đôi. Đây là một cái mới, là đóng
góp xuất sắc của các tác giả cho lịch sử văn học. Khi đọc - hiểu các đoạn trích Tình
cảnh lẻ loi của người chinh phụ, Nỗi sầu oán của người cung nữ, phải chú ý đến cống
hiến quan trọng này của tác giả.
Các văn bản thơ chữ Nôm ra đời cách đây đã khá lâu, nên thường có nhiều từ
cổ . Các tác giả văn học trung đại, ngay cả khi viết bằng chữ Nôm cũng sử dụng nhiều
điển cổ, điển tích. Điều này góp phần vào việc nâng cao khả năng biểu hiện và tính
chất hàm súc của ngôn ngữ văn học, hình tượng văn học. Điển cổ, điển tích thường
không xa lạ với những trí thức thời xưa thì lại khó hiểu đối với người đọc và học sinh
ngày nay. Cho nên khi đọc hiểu văn bản chữ Nôm, cần giúp cho học sinh hiểu rõ các
điển cổ, điển tích, được giới thiệu trong phần chú thích hoặc giáo viên giảng giải
thêm. Người giáo viên cần tham khảo thêm nhiều sách báo, tư liệu. Khi đọc – hiểu
văn bản thơ chữ Nôm cần lĩnh hội ý từ sâu xa của điển cổ, điển tích và chú ý sắc thái
biểu đạt cổ kính của từ ngữ.
Ví dụ : Khi đọc – hiểu bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi, giáo viên hướng
dẫn học sinh tìm hiểu ý nghĩa của các từ cổ rồi, thức, tiễn, dắng dỏi, dẽ có, điển cổ
Ngu cầm, các từ Hán Việt làng ngư phủ, lầu tịch dương.... Khi đọc - hiểu bài thơ
Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, giáo viên giới thiệu cho học sinh điển tích trong
truyện đời Đường, kể về Thuần Vu Phần là một viên tướng tài, tính tình phóng
khoáng, do xúc phạm thống soái, bị quở mắng nên từ chức về nhà, lấy uống rượu làm
vui. Một hôm, Thuần Vu Phần say rượu ngủ bên gốc cây hòe, mơ thấy mình được làm

viên có thể cung cấp những tri thức về văn hóa, về thể loại ngắn gọn, chọn lọc, tránh
sa đà, dài dòng, lan man.
5. Đọc – hiểu ý nghĩa của ngôn từ, của hình tượng trong bài thơ, đoạn thơ chữ
Nôm :
Khi đọc - hiểu một văn bản thơ chữ Nôm, phải đọc – hiểu ý nghĩa của ngôn từ
vì yếu tố đầu tiên mà chúng ta tiếp xúc với bài thơ là ngôn từ . Văn bản thơ chữ Nôm
có tính chất hàm súc, lời ít mà ý nhiều, có tính chất đối xứng của các thể thơ cổ, lựa
chọn hình ảnh từ ngữ đẹp, tinh tế, khéo léo. Cần tạo ấn tượng toàn vẹn về văn bản
bằng cách đọc văn bản từ đầu đến cuối, hiểu được các từ khó, tự lạ, ý nghĩa của các
hình tượng. Trong đoạn trích Thề nguyền, để thể hiện tình yêu câu nặng, mãnh liệt
của Thúy Kiều với Kim Trọng, sự chủ động của nàng sang nhà Kim Trọng, Nguyễn
Du đã viết hai câu thơ :”Cửa ngoài vội rủ rèm the – Xăm xăm băng lối vườn khuya
một mình”. Để khám phá được ý này, giáo viên cần đặt câu hỏi :”Nêu nhận xét về
hàm nghĩa của các từ vội, xăm xăm, băng ?” Giáo viên cần cho học sinh thấy tính từ
vội kết hợp với động từ băng và từ láy xăm xăm giàu giá trị gợi hình và biểu cảm,
diễn tả bước chân nhanh nhẹn và lòng can đảm, sự chủ động và mãnh liệt của Thúy
Kiều khi dám dỡ rào, vượt tường qua nhà Kim Trọng để tình tự. Vì tình yêu, vì khát
vọng hạnh phúc mà nàng đã bất chấp cả lễ giáo phong kiến. Để phát hiện được ý này,
giáo viên có thể đặt câu hỏi cho học sinh : “Liên hệ với đoạn trích Trao duyên để chỉ
ra tính chất nhất quán trong quan niệm về tình yêu của Thúy Kiều?”. Hoặc so sánh
9


tình yêu vượt qua lễ giáo phong kiến của Phạm Thái và Trương Quỳnh Như, đôi trai
tài gái sắc cùng thời đại với Nguyễn Du.
Khi đọc – hiểu một bài thơ, đoạn thơ chữ Nôm, người giáo viên cần hướng dẫn
học sinh cảm nhận hình tượng văn học từ các hình ảnh, chi tiết, hiểu và cảm nhận một
cách tổng thể về nội dung, ý nghĩa của hình tượng. Ví dụ : Hai câu thơ cuối trong
đoạn trích Chí khí anh hùng (trích Truyện Kiều- Nguyễn Du) miêu tả tư thế ra đi
mạnh mẽ, dứt khoát của Từ Hải :


6. Đọc – hiểu văn bản thơ chữ Nôm để cảm nhận được cái hay, cái đẹp của văn
bản, tư tưởng, tình cảm của tác giả :
“Nhiệm vụ then chốt trước hết của giáo viên văn học đối với học sinh là giúp
các em “biết đọc” tác phẩm, biết tái hiện hình tượng, nội dung chứa đựng trong tác
phẩm, để trên cơ sở đó giúp các em biết phân tích cái hay, cái đẹp của nó”. (Nguyễn
Duy Bình) Đây là một hoạt động có vai trò quan trọng trong việc giảng dạy thơ chữ
Nôm. Hoạt động này giúp học sinh qua việc tự mình tiếp xúc với thế giới sáng tạo của
tác phẩm mà tiếp thu những tinh hoa văn học của dân tộc và nhân loại, tiếp thu những
cái hay, cái đẹp của tác phẩm về nội dung và nghệ thuật. Từ đó rèn luyện kỹ năng đọc
– hiểu một bài thơ chữ Nôm. Người giáo viên phải đặt câu hỏi, hướng dẫn học sinh
phát hiện cái hay, cái đẹp của tác phẩm chữ Nôm.
Vì dụ : Sau khi đọc – hiểu đoạn trích Trao duyên, giáo viên đặt câu hỏi : “Hãy
đánh giá chung về nội dung và nghệ thuật của bài thơ”. Giáo viên định hướng, gợi ý
cho học sinh trả lời : Bằng nghệ thuật miêu tả tinh tế, diễn biến tâm trạng nhân vật, sử
dụng thành công lời độc thoại nội tâm, Nguyễn Du đã thể hiện vẻ đẹp nhân cách của
Thúy Kiều qua nỗi đau đớn khi tình yêu tan vỡ và sự hy sinh đến quên mình của nàng
cho hạnh phúc của người thân. Qua đó, thể hiện lòng cảm thông, thương yêu sâu sắc
của Nguyễn Du đến với những con người “bạc mệnh”.
Học sinh phải đọc – hiểu tư tưởng, tình cảm của tác giả vì đó là linh hồn của tác
phẩm văn học, được thể hiện qua ngôn ngữ, qua hình tượng nghệ thuật. Ví dụ, sau khi
hiểu được vẻ đẹp của ngôn từ và hình ảnh nghệ thuật trong đoạn trích Chí khí anh
hùng : trượng phu, thanh gươm, yên ngựa, mặt phi thường, chim bằng, lòng bốn
phương, trời bể, mênh mang, bốn bề, gió mây v.v.. có tính chất ước lệ, giàu sức gợi
cảm, mang tầm vóc vũ trụ , đã khắc họa phẩm chất và chí khí phi thường, khát vọng
làm lên sự nghiệp lớn của người anh hùng Từ Hải, thể hiện ước mơ về tự do công lý
của Nguyễn Du .
7. Đọc – hiểu văn bản thơ chữ Nôm cần kết hợp với so sánh, liên hệ, tích hợp các
kiến thức :
Hoạt động tích hợp giúp cho học sinh hiểu được tính hệ thống của văn bản, liên

những nét đẹp tiềm ẩn trong văn bản. Đọc sáng tạo là liên hệ những gì đang đọc với
những gì đã đọc, liên hệ mở rộng tầm hiểu biết của bản thân. Macxim Gorki đã nói
đến việc làm cho người đọc “có khả năng xây dựng hình tượng”, “có khả năng tưởng
tượng bổ sung vào bức tranh, những hình tượng, những bóng dáng, những tích cực
mà nhà văn đưa ra, bằng cách rút từ cái vốn kinh nghiệm của bản thân, từ cái kho
dự trữ ấn tượng và kiến thức của người đọc”. Nguyễn Duy Bình bổ sung thêm :”Tài
năng sáng tạo của tác giả và tính năng đọc “cùng sáng tạo” của người học đã biến
tác phẩm văn học thành một sinh mệnh đặc biệt, có sức sống bền vững, với một nội
dung phong phú, phát triển vô hạn, vô cùng, trong một vẻ đẹp luôn luôn tươi mới”.
Từ chỗ cảm nhận được văn bản, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh liên hệ mở rộng
để phát hiện thêm những ý nghĩa sâu xa, hiểu được tính đa nghĩa, giàu sức gợi cảm
của tác phẩm, cá tính sáng tạo của tác giả.
Ví dụ : Khi đọc – hiểu hai câu thơ : “Giết nhau chẳng cái lưu cầu - Giết nhau
bằng cái u sầu, độc chưa!” trong đoạn trích Nỗi sầu oán của người cung nữ, giáo
viên hướng dẫn học sinh liên hệ, mở rộng để hiểu được ý nghĩa sâu xa của nó. Hai từ
“độc chưa” đay nghiến và cay nghiệt đầy uất ức cay đắng. Hai câu thơ là lời tố cáo
đanh thép sự tàn ác của chế độ đa thê, chế độ cung tần tàn bạo thời phong kiến. Chế
độ ấy đã cướp đi quyền sống của bao nhiêu thiếu nữ xinh đẹp. Chúng không giết con
12


người bằng dao, bằng kiếm, chúng giết con người bằng cách để nỗi cô đơn hủy hoại
tâm hồn họ. Cha ông ta vẫn nói “giết người không dao” để chỉ những hành động giết
người tàn bạo nhất .Và những thú ăn chơi trác táng, thói vô tình của vua chúa phong
kiến đã đẩy những người cung nữ vào bi kịch không lối thoát. Cung oán ngâm khúc
thể hiện nỗi niềm ai oán của người cung nữ có tài sắc, được vua yêu chuộng, nhưng
rồi bị ruồng bỏ, bị chà đạp. Tác giả còn gửi gắm quan niệm của mình về lẽ đời bạc
bẽo, phù du. Trong bối cảnh xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII – XIX, do chiến tranh liên
miên, chế độ phong kiến thối nát, nổi lên nhu cầu khẳng định quyền sống con người.
Nhu cầu ấy biểu hiện ra bằng niềm ai oán trước số phận bất công, bất hạnh và cảm

cuộc đời nhà thơ, vẻ đẹp tâm hồn nhà thơ. Câu hỏi thảo luận phải hướng vào trọng
tâm của bài học, phát huy được khả năng tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh, phải
hướng đến làm sáng tỏ cái “thần” của câu chữ, của hình ảnh, cảm nhận được chiều
sâu tâm hồn, tư tưởng của nhà thơ.
Ví dụ : Khi đọc – hiểu hai câu thơ cuối bài thơ Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh
giới- bài 43) của Nguyễn Trãi, giáo viên nêu câu hỏi thảo luận : “Hai câu thơ cuối
cho ta hiểu tấm lòng của Nguyễn Trãi đối với nhân dân như thế nào?. Âm điệu câu
thơ lục ngôn kết thúc bài thơ khác âm điệu những câu thơ thất ngôn như thế nào? Sự
thay đổi âm điệu như vậy có tác dụng gì trong việc thể hiện tình cảm của tác giả?”.
“Khi đọc – hiểu mười sáu câu cuối của đoạn trích Trao duyên (trích Truyện Kiều –
Nguyễn Du ), giáo viên đặt câu hỏi, hướng dẫn học sinh thảo luận : “Hãy tìm những
từ ngữ cho thấy Kiều đã nghĩ đến cái chết ?. Việc tập trung dày đặc những từ ngữ đó
có ý nghĩa gì? Kiều đối thoại với những ai? Phân tích diễn biến, tâm trạng của Kiều
qua lời thoại trong đoạn trích?”.
Hình thức thuyết trình phù hợp với phân môn Đọc văn. Giáo viên chọn những
tiết dạy gây được hứng thú với học sinh, dễ sưu tầm tài liệu, chẳng hạn bài Cảnh ngày
hè của Nguyễn Trãi, đoạn trích Chí khí anh hùng (trích Truyện Kiều – của Nguyễn
Du). Giáo viên chọn vấn đề thuyết trình cụ thể, ví dụ : Vẻ đẹp của tâm hồn Nguyễn
Trãi, lý tưởng anh hùng của Từ Hải. Giáo viên phân công hướng dẫn tổ hoặc nhóm
chuẩn bị cho thuyết trình, hướng dẫn học sinh tìm tư liệu từ các nguồn : sách giáo
khoa, tạp chí, Internet.... Học sinh viết đề cương, chuẩn bị hình thức thuyết trình,
thuyết trình kết hợp với minh họa bằng hoạt cảnh, diễn kịch, chiếu đoạn phim tư
liệu... Giáo viên nhận xét, sửa chữa, bổ sung phần thuyết trình, giải đáp những vấn đề
chưa rõ trong phần thuyết trình. Mục đích của thuyết trình là khuyến khích khả năng
tư duy sáng tạo, tích cực của học sinh.
10. Sơ đồ hóa, củng cố kiến thức, luyện tập bài đọc – hiểu văn bản thơ chữ Nôm:
Sơ đồ hóa là thao tác mã hóa kiến thức cơ bản của bài học, giúo học sinh ghi
nhớ kiến thức một cách lôgic, biết nhận diện, lý giải mối quan hệ nội tại của vấn đề,
vận dụng các kỹ năng phân tích đối chiếu, tổng hợp kiến thức để giải quyết các vấn đề
thực tiễn.

thành công

Ước mơ tự do công
lý của Nguyễn Du
Ví dụ : Sau khi đọc - hiểu bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, giáo viên nêu câu
hỏi "Lập sơ đồ những biểu hiện quan niệm nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm?"
Ta có sơ đồ sau :
Ung dung trong
phong thái , vô sự
trong lòng, vui với
thú điền viên

Sống thuận theo tự
nhiên, hưởng những
thức có sẵn, không
mưu cầu, tranh đoạt

Quan niệm nhàn
của Nguyễn Bỉnh
Khiêm

Xa lánh chốn
danh lợi, sống hòa
nhập với thiên
nhiên

Quan niệm nhìn
cuộc đời là giấc
mộng, phú quý tựa
chiêm bao

Lời thề nguyền ghi
xương khắc cốt, chân
thành, tha thiết

Sau khi tiến hành đọc – hiểu văn bản thơ chữ Nôm, giáo viên hướng dẫn học
sinh tổng kết lại bài học, củng cố lại kiến thức. Giáo viên gọi học sinh nêu ý nghĩa
văn bản, sau đó giáo viên chốt lại ý. Hoạt động đọc – hiểu phải coi trọng tính ứng
dụng vào thực tiễn, liên hệ với thực tiễn. Ở phần Hướng dẫn tự học, giáo viên nêu các
câu hỏi, bài tập hướng dẫn học sinh tự học ở nhà. Đổi mới cách kiểm tra đánh giá,
khuyến khích học sinh tự học sáng tạo, tìm đọc các bài thơ chữ Nôm nằm ngoài
chương trình phổ thông để nâng cao tri thức về văn hóa dân tộc và văn học nhân loại.

16


IV. KẾT QUẢ :
Chất lượng đọc – hiểu tác phẩm thơ chữ Nôm của văn học trung đại Việt Nam
qua việc kiểm tra tự luận 39 học sinh trường THPT Long Khánh, năm học 2012 –
2013.
- Điểm dưới 5 : 0 – 0%
- Điểm trung bình : 5 – 12,8%
- Điểm khá : 10 – 25,6%
- Điểm giỏi : 24 – 61,3%
V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Để học – hiểu có hiệu quả một tác phẩm thơ chữ Nôm, chúng ta phải :
- Bám sát văn bản, lưu ý các bản phiên âm, có thể có dị bản, chú ý tiếng việt cổ.
- Chọn phương pháp dạy học phù hợp với từng bài dạy.
- Tăng cường sử dụng tranh ảnh, đồ dùng dạy học, bảng phụ khi lên lớp.
- Nội dung bài học phải bám sát chuẩn kiến thức – kỹ năng.
- Tích hợp với các kiến thức liên quan đã được học trong chương trình THCS

5 – Sách hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Ngữ văn lớp 10 –
Nhà xuất bản Giáo dục – Năm 2010.
6 – Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10 tập 1 – Nguyễn Văn Đường – Nhà xuất bản
Giáo dục – Năm 2006.
7 - Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10 tập 2 – Nguyễn Văn Đường – Nhà xuất bản
Giáo dục – Năm 2006.
Người thực hiện

Huỳnh Thị Mỹ Trang

18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status