MỤC LỤC
Nội dung
Trang
Phần thứ nhất. MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
2
II. Mục đích nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu.
2
Phần II: NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận
3
II. Một số vấn đề khi khai thác Atlat.
III. Khai thác kiến thức địa lí tự nhiên Việt Nam qua Atlat.
3
1. Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức địa lý qua Atlat.
4
2. Hướng dẫn cách khai thác các trang atlat trong phần học Địa lí tự nhiên
tốt hiện trạng, mà có thể đưa ra các dự đoán xu thế phát triển của các sự vật, hiện
tượng địa lý trong tương lai.
Để góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác bồi dưỡng học sinh lớp 12 tôi xin
đưa ra một số kinh nghiệm của mình qua đề tài : “Hướng dẫn học sinh giỏi khai thác
Atlat khi học địa lí tự nhiên Việt Nam”.
II. Mục đích nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn đưa ra các biện pháp rèn luyện kỹ
năng sử dụng Atlat địa lý cho học sinh trong quá trình học tập ở bậc THPT. Đồng thời
giúp các em có được phương pháp làm việc với Atlat một cách tích cực nhất trong quá
trình học tập.
Đối tượng nghiên cứu là đội tuyển học sinh giỏi địa lí 12 của trường THPT
Chuyên Lào Cai.
Với đề tài này hy vọng rằng sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích và thiết thực cho các
em học sinh trong học tập môn Địa lý. Bản thân tôi rất mong nhận được sự góp ý của
các thầy cô, đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn
2
Phần II. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Dựa vào định hướng phát triển giáo dục với mục tiêu đào tạo nhân tài cho xã hội.
Qua tìm hiểu, nghiên cứu về các đề thi HSG của Sở và Bộ giáo dục về môn địa lý mấy
năm gần đây. Tôi nhận thấy, hầu hết các đề thi đều giảm việc đòi hỏi học sinh học vẹt,
học thuộc lòng mà tăng nội dung thực hành, phân tích, so sánh, nhận xét biểu đồ, bảng
số liệu, lát cắt... Tức là cấu trúc đề thi bao quát toàn bộ nội dung chương trình phát
huy được tính tư duy sáng tạo của học sinh, tránh được học vẹt, học thuộc lòng.
Chính vì thế khi bồi dưỡng học sinh giỏi cần rèn luyện tư duy lo gic về một nội
dung địa lý, kĩ năng vẽ, nhận xét biểu đồ, bảng số liệu, lát cắt địa lý... Từ cơ sở trên,
tích luỹ qua 1 số năm làm lãnh đội đội tuyển HSG của trường tôi rút ra một số kinh
để trả lời tốt yêu cầu của bài).
* Đối với giáo viên
- Trong quá trình rèn luyện kĩ năng sử dụng Atlat cho học sinh nên đi từ thấp đến
cao, từ đơn giản đến phức tạp nhằm dẫn dắt học sinh từ biết sử dụng đến sử dụng
thành thạo và nhanh chóng.
- Để khai thác Atlat được tốt giáo viên nên yêu cầu học sinh có bước chuẩn bị
trước ở nhà những câu hỏi có liên quan đến Atlat bằng cách gợi ý một số câu hỏi để
học sinh tập trả lời trước rồi lên lớp thảo luận trình bày. Khi kiểm tra bài cũ cũng yêu
cầu học sinh dựa vào Atlat để trình bày.
- Giáo viên nên chú ý đến việc vận dụng Atlat trong các lần kiểm tra, đánh giá
nhằm kích thích sự hứng thú học tập địa lý của học sinh thông qua việc khai thác
Atlat..
III. KHAI THÁC KIẾN THỨC ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN VIỆT NAM QUA ATLAT.
1. Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức địa lý qua Atlat.
Thông thường khi phân tích hoặc đánh giá một đối tượng địa lý học sinh cần tái
hiện vốn tri thức địa lý đã có của bản thân vào việc đọc các trang Atlat. Để trả lời bài
thi một cách có hiệu quả học sinh cần làm theo những bước sau:
Bước 1: Đọc kĩ đề để tìm ra yêu cầu chính của đề bài.
Bước 2: Xác định đúng bản đồ cần sử dụng vào nội dung bài làm.
Bước 3: Sử dụng dữ kiện nào để trả lời tốt yêu cầu của chính của đề bài (hệ thống
kí hiệu, màu sắc, số liệu qua các biểu đồ…)
Bước 4: Phân tích nhận xét thông qua Atlat để trả lời các yêu cầu của đề bài.
4
2. Hướng dẫn cách khai thác các trang atlat trong phần học Địa lí tự nhiên Việt
Nam.
2.1- Trang hình thể.
Đọc 2 trang này, HS thấy được hình dạng chữ S của lãnh thổ, có bề dài dài, bề
- HS biết được hướng di chuyển và tần suất các cơn bão ở các tháng 6, 7, 8, 9, 10,
11, 12. Trong đó tháng 9 có tần suất cao nhất từ 1-3 cơn đến 1-7 cơn bão trên tháng và
hướng đi chủ yếu vào khu vực giữa của Bắc Trung bộ.
b. Ở hình nhiệt độ phản ánh nhiệt độ trung bình nước ta với 3 mốc thời gian:
+ Nhiệt độ trung bình năm cao nhất ở phía Nam và các tỉnh duyên hải từ Hoành
Sơn vào nam ( trừ một số tỉnh ở Tây Nguyên).
+ Nhiệt độ trung bình tháng giêng: Nhiệt độ trung bình cao nhất ở vùng Nam
Trung Bộ và Nam bộ.
+ Nhiệt độ trung bình tháng 7: Cao nhất là Đồng bằng sông Hồng và các tỉnh
duyên hải miền Trung, đặc biệt nền nhiệt độ lên cao nhất trong năm.
c. Ở hình lượng mưa gồm có 3 hình: Lượng mưa trung bình năm, tổng lượng mưa
từ tháng 11 – 4( mùa mưa ít ), tổng lượng mưa từ tháng 5 -10 ( mùa mưa nhiều).
+ Lượng mưa trung bình năm: Nơi mưa nhiều là Thừa Thiên Huế, Quảng Nam,
Hà Giang. Giải thích dựa vào hướng gió qua biển kết hợp địa hình núi và ảnh hưởng
của các cơn bão.
+ Tổng lượng mưa từ tháng 11- 4: Tổng lượng mưa nhiều ở Thừa Thiên Huế,
Quảng Nam. Giải thích dựa vào gió Đông Bắc qua biển kết hợp địa hình Trường Sơn.
(lưu ý phân biệt ký hiệu gió mùa mùa hạ, gió mùa mùa đông với dòng biển nóng và
lạnh có màu giống nhau nhưng đuôi mũi tên dầy, mỏng khác nhau).
+ Hình tổng lượng mưa tháng 5 -10: Những nơi mưa nhiều là Hà Giang, Lai
Châu, Quảng Nam, Kiên Giang, Cà Mau. Giải thích do nhận được gió mùa mùa hạ
nhiều hoặc vị trí đón gió mùa hạ.
2.4– Trang đất, thực vật và động vật. Trang này gồm 2 hình: Hình đất - thực vật và
hình Phân khu địa lý động vật.
a. Ở hình đất và thực vật: GV cần chú ý hướng dẫn học sinh đọc một số loại đất
chính ở mỗi vùng kinh tế.
Ví dụ: Ở ĐBSCL chủ yếu là nhóm đất phù sa, gồm phù sa ngọt (màu xanh lá), đất
phèn (chiếm tỉ lệ lớn nhất), và đất mặn chủ yếu ở ven biển.
Ở Tây Nguyên gồm chủ yếu đất feralit trên đá badan và trên các loại đá khác.
Riêng thực vật ta có thể kết hợp nhận xét khi mô tả lát cắt địa hình.
Hà Giang, cắt ngang sông Gâm, qua sườn phía Tây vùng núi Phia-Ya, rồi cắt ngang
sông Năng và qua đỉnh núi Phia- Bióc (1578m), qua phía Đông thị xã Bắc Kạn và
thượng nguồn sông Cầu của khu Việt Bắc.
Đường cắt tiếp tục đi qua cánh cung Ngân Sơn, Bắc Sơn và các vùng đồi núi xen
kẽ giữa 2 cánh cung, vùng đồi núi thoai thoải của khu Đông Bắc rồi thấp dần về phía
7
đồng bằng. Trước khi đến cửa sông Thái Bình lát cắt đi qua các sông Thương, Lục
Nam, Kinh Thầy, Văn Úc của khu Đồng bằng Bắc Bộ.
3. Một số câu hỏi vận dụng khai thác atlat và kiến thức của học sinh.
Câu 1. Dựa vào atlat địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy trình bày đặc điểm vị trí
địa lý nước ta. Đặc điểm đó đã tác động như thế nào đến đặc điểm tự nhiên việc phát
triển kinh tế và an ninh quốc phòng của đất nước.
Trả lời
1. Đặc điểm
Lãnh thổ toàn vẹn của nước ta bao gồm hai bộ phận: Phần đất liền và phần biển
rộng lớn với các đảo và quần đảo ở phía đông và nam. Phần lãnh thổ trên đất liền nước
ta có đặc điểm: Nằm ở rìa đông nam lục địa Á - Âu, phía bắc giáp Trung Quốc, Phía
Tây giáp Lào và Cam pu chia, phía đông và đông nam giáp biển Đông.
Giới hạn hệ toạ độ;
+ Điểm cực Bắc : ở vĩ tuyến 23 o23B tại xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà
Giang.
+ Điểm cực Nam ở vĩ tuyến 8o34 B tại xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà
Mau
+ Điểm cực Đông ở kinh tuyến 109 o24Đ tại bán đảo Hòn Gốm, xã Vạn Thanh,
huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà.
+ Điểm cực Tây ở kinh tuyến 102 o09 Đ tại xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh
Điện Biên.
2 Thuận lợi.
trong việc phát triển quan hệ ngoại thương với các nước trong và ngoài khu vực . Việt
Nam còn là cửa ngõ mở lối ra biển của Lào, Đông Bắc Thái Lan, Cam pu chia và khu
vực Tây Nam Trung Quốc.
- Vị trí này có ý nhĩa quan trọng trong việc phát triển các ngành kinh tế, các vùng
lãnh thổ, tạo điều kiện thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập với các nước trên thế
giới, thu hút đầu tư nước ngoài.
* Về văn hoá - xã hội.
- Việt Nam nằm ở nơi giao thoa các nền văn hoá khác nhau nên có nhiều nét
tương đồng về lịch sử, văn hoá – xã hội và mối giao lưu lâu đời với các nước trong
khu vực, điều đó góp phần làm giàu bản sắc văn hoá dân tộc . Đây cũng là điều kiện
thuận lợi cho nước ta chung sống hoà bình, hợp tác hữu nghị và cùng phát triển với
các nước láng giềng và các nước trong khu vực Đông Nam Á.
* Về quốc phòng:
9
- Nước ta ở vị trí quan trọng của vùng Đông Nam Á - một khu vực kinh tế năng
động và nhạy cảm với những biến động chính trị trên thế giới.
- Biển Đông của nước ta là một hướng chiến lược có ý nghĩa sống còn trong công
cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước.
3. Khó khăn:
- Thiên nhiên nhiệt đới gió mùa thiếu ổn định, sự phân mùa của khí hậu, thuỷ văn,
tính thất thường của thời tiết, các tai biến thiên nhiên thường xuyên xảy ra đã ảnh
hưởng nhiều đến sản xuất và đời sống.
- Nước ta diện tích không lớn, nhưng có đường biên giới trên bộ và trên biển kéo
dài, hơn nữa Biển Đông lại chung với nhiều nước vì thế việc bảo vệ chủ quyền lãnh
thổ của nước ta gặp nhiều khó khăn.
- Sự năng động của các nước trong và ngoài khu vực đã đặt nước ta vào một tình
thế vừa phải hợp tác cùng phát triển vừa phải cạnh tranh quyết liệt trên thị trường thế
giới trong điều kiện nền kinh tế còn chậm phát triển.
* Tác động đến giao thông vận tải.
- Phát triển nhiều loại hình GTVT:
+ Ven biển là một đồng bằng gần như liên tục, thuận lợi cho việc xây dựng các
tuyến đường bộ, đường sắt xuyên Việt.
+ Đường bờ biển kéo dài, ven biển có nhiều vũng vịnh, thuận lợi cho phát triển
giao thông đường biển, tạo mối giao lưu trong nước và quốc tế.
- Do lãnh thổ kéo dài nên việc tổ chức các mối giao thông xuyên Việt, các mối
liên kết khó khăn, nhất là vào các mùa mưa bão.
Câu 3 : Dựa vào atlat địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy phân tích sự đa
dạng hoá của địa hình nước ta . Độ cao của địa hình nước ta đã ảnh hưởng đến sự phân
hoá đất như thế nào.
1. Phân tích sự đa dạng của địa hình đồi núi
Đồi núi nước ta chiếm ¾ diện tích của đất nước và có phân hoá đa dạng :
a. Vùng Đông Bắc
- Nằm ở tả ngạn sông Hồng, đi từ dãy núi Con Voi đến vùng đồi ven biển tỉnh
Quảng Ninh, là vùng đồi núi thấp.
- Vùng nổi bật với các cánh cung lớn : Từ Tây Bắc xuống Đông Nam có các
cánh cung : Sông Gâm, Ngân Sơn, Bắc Sơn, Đông Triều. Ngoài ra có núi hướng Tây
Bắc- Đông Nam ( dãy Con Voi, Tam Đảo).
- Địa hình cao về phía Bắc và Tây Bắc, thấp dần về phía nam và đông nam với
vùng đồi phát triển rộng. Các đỉnh núi cao trên 1500m : Pu Tha Ca (2274m), Kiều
11
Liêu Ti(2402m), Mẫu Sơn (1541m), PhiaUắc (1930m) và một số sơn nguyên (Đồng
Văn) ở phía bắc.
b. Vùng Tây Bắc
- Nằm giữa sông Hồng và sông Cả, là vùng núi đồ sộ nhất nước ta với những dãy
núi cao, cao nguyên, khe sâu, địa hình hiểm trở
- Hướng núi TB-ĐN : dãy núi Hoàng Liên Sơn, Pu Đen Đinh, Pu Sam Sao.
- Ở vùng núi thấp, quá trình feralit diễn ra mạnh, đất feralit chiếm một diện tích
lớn ( 75% diện tích đất tự nhiên).
- Từ độ cao 500-600m đến 1600-1700m : nhiệt độ giảm, lượng mưa tăng, quá
trình feralit yếu đi, quá trình tích luỹ mùn tăng lên, có đất mùn vàng đỏ trên núi ( đất
mùn feralit).
- Từ 1600-1700m quanh năm có mây mù lạnh ẩm, quá trình feralít chấm dứt hoàn
toàn, có đất mùn thô trên núi cao (đất mùn trên núi cao).
Câu 4 : Dựa vào atlat địa lí Việt Nam và kiến thức đã học hãy Trình bày đặc điểm
địa hình miền Bắc và Đông Bắc Bắc bộ ( sử dụng atlat trang 4, 5, 9)
Trả lời
* Khái quát: về vị trí của miền
Vị trí: Bắc giáp Trung Quốc, tây giáp vùng Tây Bắc, nam giáp vùng Bắc Trung
bộ, đông giáp vịnh Bắc bộ.
* Đặc điểm chung của địa hình :
- Gồm 2 bộ phận, đồi núi chiếm khoảng 2/3 diện tích, đồng bằng phía nam 1/3
diện tích.
- Hướng nghiêng chung của địa hình: TB-ĐN
- Do vận động cuối Đệ Tam, đầu Đệ Tứ, nâng mạnh ở phía Tây và phía Bắc ,
trong khi phần phía đông nam và nam là vùng sụt lún.
Đặc điểm từng dạng địa hình
* Miền núi
- Đồi núi chiếm khoảng 2/3 diện tích toàn miền
- Đồi núi phân bố ở phía Bắc
- Đồi núi của miền chủ yếu là đồi núi thấp, độ cao trung bình chủ yếu dưới
1000m, bộ phận núi có độ cao trên 1500 m chiếm tỉ lệ rất nhỏ, phân bố ở phía Bắc
( vùng sơn nguyên Hà Giang, sơn nguyên Đồng Văn).
- Hướng các dãy núi: Các dãy núi trong miền có hai hướng chính:
+ Hướng vòng cung là hướng chính của miền, thể hiện rõ nét qua cánh cung núi là
Sông Gâm, Ngân Sơn, Bắc Sơn, Đông Triều. Hướng vòng cung của các cánh cung này
13
- Tây Bắc và Bắc Trung bộ giáp Trung Quốc ở phía Bắc, giáp miền Bắc và Đông
Bắc Bắc bộ ở phía Đông Bắc, biển Đông ở phía Đông, giáp Lào phía Tây.
2. Giống nhau
14
- Có đủ các các dạng địa hình: núi cao, đồi, đồng bằng, lục địa.
- Địa hình đều là những vùng được trẻ lại do vận động Tân sinh.
- Có dải đồng bằng ven biển mới được hình thành do phù sa sông, biển, do đó
nhìn chung hướng nghiêng của nền địa hình là thấp dần ra biển.
- Địa hình có sự phân bậc rõ nét, bị cắt xẻ bởi mạng lưới sông ngòi khá dày do
các vận động địa chất kết hợp với khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm.
- Đồng bằng hàng năm vẫn tiếp tục phát triển do những đồng bằng trẻ lại được
hình thành từ kỉ Đệ Tứ.
3. Khác nhau
* Đối với phần đồi núi
- Xét về độ cao địa hình thì miền Bắc và Đông Bắc Bắc bộ nhìn chung thấp hơn
so với miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ.
+ Nếu địa hình chung của miền Bắc và Đông Bắc Bắc bộ là dướ 500m còn Tây
Bắc và Bắc Trung Bộ là trên 500m.
+ Vùng Bắc và Đông Bắc Bắc bộ chỉ có một bộ phận nhỏ núi cao trên 2000m ở
gần biên giới Việt Trung như Pu Tha Ca ( 2274m), Kiều Liêu Ti ( 2402), trong khi đó
vùng Tây Bắc và Bắc Trung Bộ có rất nhiều đỉnh núi cao trên 2000m ở Hoàng Liên
Sơn, Trường Sơn Bắc, như Phan xi păng (3143m), Phu Luông ( 2985), Rào Cỏ (2236).
Độ dốc và độ cắt xẻ của miền Tây Bắc và Bắc Trung bộcao hơn so với miền Bắc
và Đông Bắc Bắc bộ (qua lát cắt A-B ở , và C-D).
Giải thích
Vùng Tây Bắc và Bắc Trung Bộ có địa hình cao hơn, độ dốc lớn hơn và độ cắt xẻ
cao hơn là do trong quá trình vận động địa chất của vỏ Trái Đất, miền Tây Bắc và Bắc
Trung Bộ là một bộ phận của địa máng Việt –Lào do chịu tác động mạnh của hoạt
Trung bộ: ĐBBB hàng năm tiến ra biển 80-100 m, còn ở TB và BTB có tốc độ tiến ra
biển rất chậm do thềm lục đị hẹp, phù sa ít.
* Như vậy , ta có thể thấy được sự khác biệt hai miền.
- TB và BTB có địa hình cao hơn do chịu tác động mạnh hơn của vận động tạo
núi so với miền Bắc và ĐBBB. Cũng do vận động tạo núi ảnh hưởng tới hai miền
khác nhau mà TB và BTB có độ dốc, độ cắt xẻ lớn hơn miền Bắc và ĐBBB.
- Các hướng núi chính có sự khác biệt rõ nét trong khi ở Miền TB và BTB có
hướng TB-ĐN còn ở miền B và ĐBBB là các dãy núi hình vòng cung. Nguyên nhân
bới tác dụng định hướng của các mảng nền cổ.
16
- Tính chất chuyển tiếp giữa vùng núi và đồng bằng ở miền Bắc và Đông Bắc Bắc
bộ rất rõ nét trong khi ở miền TB và BTB lại không thể hịên rõ.
- Đồng bằng ở Bắc và Đông Bắc Bắc bộ rộng, phát triển nhanh hơn Tây Bắc và
Bắc Trung bộ do sông ngòi nhiều phù sa hơn, thềm lục rộng hơn.
IV. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
Trong nhiều năm tham gia bồi dưỡng HSG khối 12 nhất là 2 năm gần đây, trực
tiếp làm lãnh đội đội tuyển địa lý của trường tôi đã thu được kết quả khá tốt. Các học
sinh tham gia kì thi HSG cấp tỉnh đều đạt giải từ giải nhất đến giải ba, không có giải
khuyến khích.
Về giải quốc gia: Năm học 2010-2011 số lượng đội tuyển là 4 học sinh đạt giải
quốc gia: 2 giải nhì và 2 giải ba. Năm hoạc 2011- 2012 có 5 học sinh đạt giải. Năm
học 2012-2013 số lượng đạt giải là 4 em: 2 giải ba và 2 giải khuyến khích.
17
Phần III. KẾT LUẬN