Hướng dẫn dạy học hiểu văn bản sử thi trong chương trình ngữ văn 10 THPT luận văn tốt nghiệp đại học - Pdf 33

Trờng đại học vinh
Khoa ngữ văn
--------------

Nguyễn thị quyên

Hớng dẫn dạy đọc hiểu văn
bản sử thi trong ch ơng trình
ngữ văn 10 thpt

Khóa luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: phơng pháp dạy học

\

Vinh 2011
Trờng đại học vinh
Khoa ngữ văn
--------------

Hớng dẫn dạy đọc hiểu văn
bản sử thi trong ch ơng trình


2

ngữ văn 10 thpt
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: phơng pháp dạy học
Giỏo viờn hng dn: TS. Lờ Th H Quang
Sinh viờn thc hin:

BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT
THPT

:

Trung học phổ thông

THCS

:

Trung học cơ sở

SGK

:

Sách giáo khoa

SGV

:

Sách giáo viên

GV

:

Giáo viên


Cách chú thích tài liệu trích dẫn: Bao gồm thứ tự của tài liệu trong
thư mục Tài liệu tham khảo và thứ tự trang chứa trích dẫn. Ví dụ: kí hiệu
[27, tr. 25] nghĩa là số thứ tự của tài liệu trong thư mục Tài liệu tham khảo
là 27, nhận định được trích dẫn nằm ở trang 25 của tài liệu này.


4


5

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài.........................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu............................................................................2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................................5
4. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu........................................................... 5
5. Cấu trúc khoá luận .......................................................................................6
NỘI DUNG CHÍNH........................................................................................7
Chương 1: KHÁI NIỆM SỬ THI VÀ HỆ THỐNG CÁC ĐƠN VỊ BÀI
HỌC SỬ THI TRONG PHẦN ĐỌC - HIỂU CỦA SGK NGỮ VĂN 10
THPT................................................................................................................7
1.1. Giới thuyết chung về sử thi....................................................................... 7
1.1.1. Khái niệm sử thi .....................................................................................7
1.1.2. Đặc trưng của thể loại sử thi................................................................. 9
1.2. Hệ thống các đơn vị bài học sử thi trong chương trình và phần trợ giúp,
hướng dẫn học sinh đọc - hiểu các văn bản đó trong SGK Ngữ văn 10 THPT
.........................................................................................................................16
1.2.1. Đặc điểm các đơn vị bài học sử thi trong SGK Văn học 10 (chỉnh lí

1.2. Nếu các thể loại văn học dân gian như truyền thuyết, truyện cổ tích,
truyện cười, tục ngữ, ca dao đã có mặt ở cấp Tiểu học, THCS thì thể loại sử
thi phải đến chương trình phổ thông (cụ thể là trong chương trình Ngữ văn
10 THPT) mới được đưa vào dạy học. Là loại hình văn học dân gian ra đời
khi xã hội đã thoát thai bầy đàn nguyên thuỷ, sử thi có cách tư duy và xây
dựng nhân vật khác với các loại hình văn học dân gian ra đời sau này. Chúng
ta không thể đánh đồng việc đọc - hiểu các văn bản sử thi cũng như những
thể loại tự sự của văn học dân gian khác.
Mặt khác hiện nay, do sự đổi mới nội dung chương trình SGK, nên
phương pháp dạy học văn cũng phải thay đổi. Chương trình Ngữ văn hiện
hành, tổ chức sắp xếp các văn bản thành các cụm thể loại, tạo nên những
điểm khác biệt thấy rõ so với chương trình và SGK cũ. Bên cạnh đó, chương
trình còn được biên soạn theo hướng tích hợp. Trước những điều kiện mới,
việc hướng dẫn dạy đọc - hiểu văn bản sử thi có ý nghĩa tháo gỡ những


7
vướng mắc và giúp cho giáo viên, học sinh đỡ lúng túng, bỡ ngỡ khi dạy học
theo chương trình đổi mới.
1.3. Thị trường sách tham khảo hiện nay vốn rất đa dạng và phong phú
về chủng loại nhưng không phải cuốn sách nào cũng có chất lượng. Nguồn
tài liệu chuyên sâu về dạy đọc - hiểu văn bản sử thi còn rất ít và có nhiều bất
cập. Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy chưa có cuốn tài liệu nào nghiên cứu
một cách có hệ thống về dạy đọc - hiểu văn bản sử thi trong chương trình
Ngữ văn 10 ở trường THPT.
Là một giáo viên dạy văn trong tương lai, chúng tôi ý thức được tính
chất khó khăn, phức tạp của hoạt động giảng dạy bộ môn văn trong nhà
trường nói chung và đọc - hiểu văn bản sử thi trong chương trình Ngữ văn
10 nói riêng. Từ đó, chúng tôi nỗ lực cố gắng trong việc tìm tòi và tích luỹ
cho mình một nguồn kiến thức phương pháp vững chắc để hướng dẫn học

học dân gian của Hoàng Tiến Tựu, tác giả đã dành một số lượng đáng kể khi
đề cập đến vấn đề vận dụng các thuộc tính cơ bản của văn học dân gian vào
việc giảng dạy, nghiên cứu. Theo ông, “việc tìm hiểu, nhận thức thuộc tính
và đặc điểm của văn học dân gian chẳng những là mục đích mà còn là
phương tiện của những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy văn học
dân gian” [27, tr. 25]. Ngoài ra, ông còn chú ý đến vấn đề phân loại, phân kì,
phân vùng văn học dân gian và mối quan hệ của chúng đối với việc xây dựng
phương pháp nghiên cứu, giảng dạy văn học dân gian. Việc nghiên cứu
giảng dạy văn bản sử thi chỉ mới được đề cập chung chung trong phần vấn
đề giảng dạy truyện dân gian chứ chưa đi sâu tìm hiểu như tục ngữ, ca dao.
Như vậy, ở công trình này tác giả mới dừng lại ở những vấn đề chung khi
giảng dạy và nghiên cứu văn học dân gian, đây mới chỉ là những cơ sở khi
nghiên cứu văn bản sử thi.
Tác giả Nguyễn Viết Chữ trong Dạy học tác phẩm văn chương theo
loại thể cũng đã bàn đến vấn đề dạy học sử thi. Tác giả đã cố gắng đưa ra
những phương pháp và biện pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại


9
thể. Việc dạy học văn bản sử thi cũng chỉ mới được nói đến, khi ông bàn về
công việc dạy học các tác phẩm tự sự dân gian với tư cách một thể loại của
nó. Vì thế, nó cũng không được nói nhiều, bàn kĩ. Theo ông, “do đặc tính
tổng hợp của sử thi như vậy cho nên trong quá trình dạy học phải hình thành
tích truyện, chú ý văn phong trữ tình và tập trung khai thác những đoạn giàu
kịch tính. Tăng cường sử dụng loại câu hỏi hình dung tượng tưởng và câu
hỏi hiện trong đó câu hỏi chi tiết và phân tích lí giải được đặc biệt chú ý.
Thật ra, trong trường ca ngôn từ rất điêu luyện, vì vậy phải kết hợp kể sáng
tạo với đọc diễn cảm (chủ yếu trong trường ca Đăm Săn)” [16, tr. 18]. Với
công trình này, tác giả mới chỉ dừng lại ở những “lưu ý”, “chú ý”, “gợi mở”
mang tính chất mở đầu về phương pháp dạy đọc - hiểu sử thi. Trong cuốn

chưa có một công trình nào nghiên cứu trực tiếp và đề xuất phương pháp
hướng dẫn học sinh đọc - hiểu văn bản sử thi trong chương trình Ngữ văn 10
THPT như hướng nghiên cứu của đề tài này, mà chỉ mới được đề cập trong
một số công trình đơn lẻ, chưa mang tính hệ thống. Vì thế, khi chọn đề tài
này chúng tôi mong muốn sẽ góp một phần nhỏ nhằm gợi mở, định hướng
cho một giải pháp hiệu quả, nâng cao chất lượng trong giờ đọc - hiểu văn
bản nói chung và đọc - hiểu văn bản sử thi trong chương trình Ngữ văn 10
THPT nói riêng.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong khoá luận này, chúng tôi thực hiện những nhiệm vụ sau:
3.1. Tìm hiểu các đặc trưng của thể loại sử thi
3.2. Khảo sát, so sánh các tác phẩm sử thi trong chương trình SGK Ngữ
văn 10 (ban cơ bản và ban nâng cao) hiện hành với sách Văn học 10 (chỉnh lí
hợp nhất 2000). Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn trong dạy học đọc hiểu văn bản sử thi.
3.3. Đề xuất những giải pháp hướng dẫn học sinh đọc - hiểu văn bản sử
thi trong SGK Ngữ văn 10 THPT
3.4. Thiết kế giáo án thể nghiệm
4. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu


11
4.1. Phạm vi nghiên cứu
Sử thi có thể nghiên cứu từ nhiều góc độ, nhiều hướng. Nhưng ở trong
khoá luận này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu văn bản sử thi được đưa
vào chương trình dạy học trong SGK Ngữ văn 10 THPT.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện tốt nhiệm vụ nghiên cứu, trong quá trình thực hiện khoá
luận chúng tôi đã vận dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp khảo sát thống kê

giáo sư Đinh Gia Khánh trong công trình nghiên cứu về Văn học dân gian,
giáo sư Phan Đăng Nhật trong bài viết nhằm xác định thể loại của tác phẩm
Đẻ đất đẻ nước… đã có những luận điểm quan trọng về sử thi. Ở trong nhiều
công trình lí luận văn học và các từ điển thuật ngữ văn học đều có bàn đến
khái niệm sử thi.
Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật ngữ văn học khẳng
định: Sử thi là “thể loại tác phẩm tự sự dài (thường là thơ) xuất hiện rất sớm


13
trong lịch sử văn học của các dân tộc nhằm ca ngợi sự nghiệp anh hùng có
tính toàn dân và có ý nghĩa trọng đại đối với dân tộc trong buổi bình minh
của lịch sử” [24, tr. 285].
Theo 150 Thuật ngữ văn học do Lại Nguyên Ân biên soạn, sử thi (theo
tiếng Hi Lạp cổ là epós) từ xa xưa đã tồn tại trong hai phạm vi rộng và hẹp
của nó. Trong nghĩa rộng, epós để chỉ tự sự như một trong ba loại hình văn
học (theo sơ đồ phân loại có từ Arixtôt bao gồm: tự sự, trữ tình và kịch).
Trong nghĩa hẹp, epós để “chỉ một hoặc một nhóm thể loại trong tự sự, đó là
sử thi anh hùng, tức là những thiên tự sự kể về quá khứ anh hùng, hàm chứa
những bức tranh rộng và hoàn chỉnh về đời sống nhân dân và về những anh
hùng, dũng sĩ đại diện cho một thế giới sử thi nào đó, thống nhất, hài hoà. Sử
thi anh hùng tồn tại cả dưới dạng truyền miệng và lẫn dưới dạng được ghi
chép thành sách, số đông những bản chép các thiên sử thi anh hùng tiêu biểu
đều có ngọn nguồn dân gian, bản thân các đặc điểm của thể loại này cũng
hình thành ở cấp độ dân gian” [22, tr. 1572].
Phương Lựu, Trần Đình Sử trong Lí luận văn học cũng định nghĩa: Sử
thi là “thể loại tự sự, thể hiện tập trung cho loại chủ đề lịch sử dân tộc…
miêu tả những sự kiện quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với đời sống tinh
thần và vận mệnh của dân tộc và nhân dân” [23 , tr. 380]
Trong SGK Ngữ văn 10 lại định nghĩa “Sử thi là tác phẩm tự sự dân

người anh hùng đối với toàn thể cộng đồng. Trong khoá luận này, chúng tôi
chỉ có điều kiện tìm hiểu sử thi anh hùng - thể loại mà ba đoạn trích được
đưa vào trong chương trình giảng dạy.
1.1.2.1. Về thời điểm ra đời của sử thi
Sử thi xuất hiện rất sớm trong lịch sử văn học của các dân tộc. Nói như
Gớt thì đây là “quá khứ tuyệt đối” - một quá khứ oai hùng và kì ảo - một quá
khứ tách biệt với hiện tại (của người kể và người nghe anh hùng ca). Nó gắn
liền với thời đại - chế độ “dân chủ quân sự” khi mà chế độ thị tộc tan rã,
trước khi nhà nước xuất hiện. Vẻ đẹp đặc thù của nó thể hiện trong tính hài
hoà đặc biệt vốn liên quan đến các mối quan hệ chưa chín muồi lắm. Lúc này
đã có sự xuất hiện của kim loại và nó đóng vai trò quan trọng trong đời sống


15
cộng đồng. Trong xã hội đã có sự phân hoá về kinh tế, tầng lớp quý tộc tự
tách ra khỏi đời sống cộng đồng. Đây là giai đoạn chiến tranh xảy ra thường
xuyên. Đó là chiến tranh giữa các dân tộc, chiến tranh giữ đất, cướp người
đẹp, trả thù… Thời kì mà cộng đồng đã bừng tỉnh, sống một cuộc sống
không phẳng lặng. Thời kì anh hùng cộng đồng, anh hùng lao động, sống
chiến đấu chống lại kẻ thù. Sức mạnh và danh dự của thủ lĩnh cũng chính là
sức mạnh, danh dự của cộng đồng. Nếu sử thi Đăm Săn phản ánh xã hội và
con người Tây Nguyên thời kì chế độ công xã đang tan rã, thì sử thi Ô-đi-xê
phản ánh thời kì người Hi Lạp khám phá chinh phục biển cả ngoài xứ sở của
mình, cũng là thời kì học sắp từ giã chế độ công xã thị tộc bước vào chế độ
chiếm hữu nô lệ với sự xuất hiện của hình thái gia đình trong hôn nhân một
vợ một chồng. Trong khi, sử thi Rama lại phản ánh quá trình của người Ary-a da trắng từ miền Bắc Ấn tràn xuống đồng hoá, chinh phục những người
Đra-vi-đa da màu Nam Ấn và đảo Lan-ka, đồng thời thể hiện cuộc chiến
tranh giữa thiện và ác, chính nghĩa và phi nghĩa.
1.1.2.2. Về phương diện đề tài, chủ đề cơ bản của sử thi.
Sử thi biểu hiện toàn bộ đời sống văn hoá, lịch sử cộng đồng, thể hiện

bách khoa của toàn dân tộc đó. Sử thi luôn xây dựng các hình tượng anh
hùng vĩ đại, mang nhiều phẩm chất cao đẹp của cộng đồng và đạt được
những chiến công kì vĩ, đem lại uy danh, sự giàu có cho cả cộng đồng. Sử thi
đã trang bị cho nó tất cả sức mạnh của “tâm lí tập thể”. Đó là những anh
hùng, tráng sĩ tiêu biểu cho sức mạnh thể chất và tinh thần, cho ý chí và trí
thông minh, lòng dũng cảm của cả cộng đồng. Họ đại diện cho sức mạnh
hùng hậu của toàn thể nhân dân. Đó là người anh hùng nhân dân. Trong Iliát,
Hécto là hoá thân của khí phách anh hùng, của tinh thần hi sinh quên mình
cao cả, là trụ cột chủ yếu để duy trì thành Troa sắp sụp đổ. A giắc là hoá thân
của sức mạnh, lòng dũng cảm và tinh thần chiến đấu quả cảm. Còn Ô-đi-xê
kết tinh cho trí tuệ nhân dân trong đời sống chính trị và sinh hoạt hàng ngày.
Trong Rama, anh hùng Rama là con người lí tưởng của đạo Hinđu và đẳng
cấp quý tộc, tượng trưng cho những dũng sĩ tài trí, anh minh, đức độ, có lòng
yêu tha thiết, phù hợp với nguyện vọng yêu cầu của nhân dân. Như vậy nhân


17
vật trung tâm phải thể hiện tổng hợp, đầy đủ và hài hoà cho toàn bộ sức
mạnh của nhân dân. Aisin trong Iliát theo Biêlinxki thì “từ đầu đến chân đều
ngời lên một niềm vinh quang chói lọi, vì chàng không đại diện cho bản
thân, mà là đại diện cho nhân dân, được miêu tả như một đại diện của nhân
dân”. Asin là người anh hùng của khối liên minh các bộ lạc Hi Lạp thể hiện
sức mạnh tinh thần – lòng dũng cảm và vật chất của toàn quân Hi Lạp. Đó là
những người anh hùng của chủ nghĩa anh hùng tập thể thời kỳ công xã thị
tộc.
Nhân vật trung tâm của anh hùng ca bao giờ cũng là con người “hoàn
tất và toàn vẹn”. Đăm Săn là một nhân vật của anh hùng ca – là con người
của sự hoàn thiện, hoàn mỹ. Phẩm giá của chàng có tất cả ở các mặt - sức
mạnh cũng như tài năng, đạo đức cũng như ngoại hình đều tương xứng với
vị thế của một tù trưởng giàu mạnh. Đăm Săn có sức mạnh phi thường. Sức

thần đặc biệt” - xuất hiện trên nền cộng đồng, xuất hiện trên nền địa lý,
phong tục, tập quán của cộng đồng, xuât hiện trên nhiểu mối quan hệ: với kẻ
thù, với người đẹp, với cộng đồng. Ở mối quan hệ nào thì nó cũng bộc lộ
một tính cách, phẩm chất, vẻ đẹp… phi thường. Chính vì thế, nhân vật sử thi
thường nhất quán từ đầu đến cuối tác phẩm, không như nhân vật tiểu thuyết
là con người nếm trải, cảm nhận, tư duy,chịu đau khổ dằn vặt của đời. Nhân
vật sử thi là nhân vật hành động, nhân vật chức năng.
Có thể nói, đặc điểm của nhân vật anh hùng ca là tầm cỡ dân tộc. Cái
đẹp của họ là vẻ đẹp dân tộc. Cái giàu mạnh của họ là sự giàu mạnh dân tộc,
cá tính của họ cũng là cá tính dân tộc.
1.1.2.4. Về nghệ thuật sử thi
Trước hết xét về quy mô, đây là những tác phẩm có dung lượng lớn, đồ
sộ. Sử thi Rama của Ấn Độ dài đến 24.000 câu thơ đôi, sử thi Mahabharata
dài 110.000 câu thơ đôi. Sử thi Ô-đi-xê của người Hi Lạp cũng đồ sộ không
kém, gồm 12.110 câu thơ, sử thi Iliát dài đến 15.683 câu thơ. Ngay cả đến sử
thi Đẻ đất đẻ nước của người Mường, bản sưu tầm ở Hoà Bình dài 3887 câu
thơ, bản sưu tầm ở Thanh Hoá dài 8503 câu thơ. Với quy mô lớn cùng việc


19
sử dụng những ngôn ngữ có vần nhịp, sử thi đã xây dựng những hình tượng
nghệ thuật hoành tráng, hào hùng để kể về những biến cố lớn lao, diễn ra
trong đời sống cộng đồng của cư dân thời cổ đại. Câu chuyện về người anh
hùng nhưng được kể lại bằng thơ với giọng điệu hết sức trang trọng, hào
hùng, hoành tráng, phơi phới bay bổng với tác dụng cổ vũ và động viên. Là
một thể loại tự sự dân gian, sử thi có tính nguyên hợp, trong đó bao gồm cả
các yếu tố nghệ thuật của ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ thơ ca âm nhạc và cả
ngôn ngữ sân khấu. Nó tạo nên một sự hài hoà, gắn bó hữu cơ với nhau, tạo
nên giá trị độc đáo “không thể nào bắt chước” được của các bản sử thi anh
hùng. Một trong những nét nổi bật gây ấn tượng sâu sắc với độc giả khi tiếp

ngoài bãi phải ngừng kêu…” [9, tr. 34]. Đó còn là lối thể hiện “tâm lí sử thi”
của nhân vật. Không đi vào đời sống tâm lí cụ thể, không đi vào phân tích
mổ xẻ mà thường được miêu tả rất ngắn gọn. Tâm lí nhân vật thường hiện
lên trong suốt, nhất phiến. Đăm Săn từ đầu đến cuối là người anh hùng tù
trưởng hùng mạnh. Rama là con người của danh dự cộng động, hành động
suy nghĩ của một con người dành cho cộng đồng. Chính ví thế, tâm lí chủ
yếu biểu hiện qua lời nói, hành động, dáng điệu, cử chỉ,… nghĩa là những gì
có thể “ngoại hoá”, cách kể chuyện thì tỉ mỉ với lối miêu tả tỉ mỉ, chi tiết,
dùng nhiều so sánh sinh động. Ta thấy ngay trong sử thi Đăm Săn, tâm trạng
nhân vật được bộc lộ qua một hành động cụ thể, ngôn ngữ đối thoại của nhân
vật cũng như ngôn ngữ miêu tả của người kể chuyện thường mộc mạc, dân
dã… Trong sử thi Ô-đi-xê, tâm trạng nhân vật nhiều khi được gợi qua một
dáng điệu, cử chỉ, một thái độ, cách ứng xử; ngôn ngữ đối thoại của nhân vật
mạng tính lôgích chặt chẽ với những đoạn trích hoàn chỉnh; ngôn ngữ kể tả
của người kể chuyện là những “lời có cánh” bay bổng, trang trọng, cao nhã,
dùng nhiều định ngữ, so sánh mở rộng. Còn trong sử thi Rama, tâm trạng
nhân vật nhiều khi được gợi qua một giáng điệu, cử chỉ, một thái độ, cách
ứng xử; qua đó gợi lên những rung động giằng xé trong nội tâm nhân vật,
những sự kìm nén, che dấu cảm xúc thực bên trong, ngôn ngữ đối thoại của
nhân vật có xu hướng thuyết giải đạo đức, ngôn ngữ kể và tả của người kể
chuyện trau chuốt, sử dụng nhiều so sánh…


21
Viết về quá khứ, về những người đã khuất, khoảng cách giữa người kể
với nhân vật trong sử thi luôn luôn giữ một khoảng cách không thể vượt qua
- người ta vẫn gọi đó là “khoảng cách sử thi”. Nó khác hoàn toàn với tiểu
thuyết. Trong tiểu thuyết, sự xóa bỏ khoảng cách giữa người kể chuyện và
nhân vật trong cảm nhận, miêu tả con người cho phép nhà văn dùng kinh
nghiệm cá nhân để lí giải nhân vật, nhìn nhân vật một cách suồng sã, gần

(bộ cơ bản)

(bộ nâng cao)


22
Đi bắt nữ thần mặt trời
1

Chiến

thắng

(trích sử thi Đăm Săn - sử Mxây
thi Êđê)

Mxây

(trích sử thi Đăm Săn (trích sử thi Đăm
- sử thi Êđê)

2

Mtao Chiến thắng Mtao

Đẻ đất đẻ nước (đọc thêm)

Săn - sử thi Êđê)
Đẻ đất đẻ nước


thi Hi Lạp)
Rama buộc tội
5

Uy-lít-xơ trở về

(trích sử thi Ô-đi-xê - sử (trích sử thi Ô-đi-xê - (trích sử thi Ô-đithi Hi Lạp)
Uy-lít-xơ và

4

Uy-lít-xơ trở về

sử thi Ấn Độ)

na - sử thi Ấn Độ)

(trích Ra-ma-ya-na - sử thi
Ấn Độ)
Ở đây, chúng tôi chỉ nêu ra những nét cơ bản để thấy SGK Ngữ văn 10

hiện hành đã có sự thay đổi rõ nét và toàn diện so với chương trình SGK
Văn học 10 (chỉnh lí hợp nhất năm 2000) cả về nội dung và kết cấu chương
trình. Trước hết về mặt số lượng, trong SGK Văn học 10 trước đây đưa rất
nhiều bài đọc thêm thuộc các đoạn trích khác trong tác phẩm, ví dụ như sử
thi Ô-đi-xê có thêm đoạn trích Uy-lít-xơ và Ca-líp-xô, sử thi Ramayana có
thêm đoạn trích Hồ Pampa. Còn trong SGK Ngữ văn 10 hiện hành, số lượng


23

24
trong đó các văn bản đọc - hiểu được bố trí xen kẽ với các bài Tiếng Việt và
Làm văn. Điều này tạo nên sự liên kết, liên thông, tác động qua lại giữa các
phân môn. Mặt khác, việc bố trí xen kẽ các văn bản sử thi trong nước với các
văn bản sử thi nước ngoài gần nhau nên học sinh có điều kiện tiếp xúc, đối
chiếu giữa văn học trong nước với văn học nước khác, giúp các em hình
thành những kĩ năng cơ bản khi đọc - hiểu văn bản sử thi.
Sử thi là một thể loại tiêu biểu của văn học dân gian. Đây là một thể
loại đưa vào dạy học trong nhà trường THPT chưa nhiều, nhưng phần nào nó
đã cung cấp cho học sinh những hiểu biết về thể loại. Từ đó nâng cao, mở
rộng vốn hiểu biết chung về văn học cho học sinh. Đồng thời, các văn bản sử
thi được lựa chọn đưa vào trong chương trình dạy đều là những tác phẩm
tiêu biểu, nổi tiếng; là những tác phẩm mẫu mực, đỉnh cao của sử thi thế
giới; được nhắc đến nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng. Sử thi
Đăm Săn được công bố nhiều trên các tạp chí và gần đây nhất là hội thảo sử
thi Tây Nguyên. Một số tác phẩm như Iliát, Ôđixê chuyển thể thành phim
được trình chiếu trên các phương tiện thông tin đại chúng, học sinh có thể đã
được xem. Cho nên, việc học tập các văn bản này sẽ thuận lợi hơn rất nhiều,
hiệu quả học tập sẽ cao hơn.
Hơn nữa trong thời gian gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học,
việc biên soạn lại SGK, thay đổi cơ cấu chương trình đã tạo ra được những
bước chuyển biến tích cực trong dạy học. Các nhà khoa học giáo dục đã
nghiên cứu và đưa ra những phương pháp dạy học mới phù hợp hơn với học
sinh. Chính những đổi mới này cũng là một thuận lợi cho hoạt động dạy học
nói chung và dạy học sử thi nói riêng.
Trên đây là những nhận xét chủ quan mà chúng tôi rút ra được khi tiến
hành so sánh đối chiếu về hệ thống các văn bản sử thi được đưa vào dạy học
trong hai chương trình SGK Ngữ văn 10 và SGK Văn học 10. Tuy nhiên để
có cái nhìn tổng quát và toàn diện hơn về sự đổi mới tích cực trong chương
trình SGK mới, trong việc biên soạn dạy học các văn bản sử thi so với




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status