Nâng cao hiệu quả dạy văn bản thuyết minh trong chương trình Ngữ Văn 8 Trung học cơ sở - Pdf 15



SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY
VĂN BẢN THUYẾT MINH
TRONG CHƯƠNG TRÌNH
NGỮ VĂN 8 THCS Phần thứ nhất: Đặt vấn đề

I. Lí do chọn đề tài:
Sau năm năm 2003-2008 ngành giáo dục đào tạo tổ chức thực hiện việc
triển khai chương trình sách giáo khoa mới ở trường THCS theo tinh thần tích hợp
với mục tiêu xác định như sau:
“ Môn Ngữ văn có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chương trình
của trường THCS góp phần hình thành con người có trình độ học vấn phổ thông
cơ sở, chuẩn bị cho họ hoặc ra đời hoặc tiếp tục học lên ở bậc cao hơn. Đó là con
người có ý thức tự tu dưỡng, biết quý trọng thương yêu gia đình, bạn bè, có lòng
yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tới những tình cảm tốt đẹp như lòng
nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác.
Đó là những con người biết rèn luyện để có tính tự lập, có tính tư duy sáng tạo,
bước đầu có năng lực cảm thụ các giá trị chân, thiện, mỹ trong nghệ thuật, trước
hết là trong văn học, có năng lực thực hành và năng lực sử dụng tiếng Việt như

văn bản mới được đưa vào chương trình giảng dạy trong nhà trường THCS, vì thế
chưa có sự nghiên cứu sâu rộng vấn đề này. Chỉ có một số văn bản thuyết minh
trong chương trình sách giáo khoa và một số tài liệu thay sách giáo khoa của Bộ
GD&ĐT có đề cập tới yêu cầu dạy văn bản thuyết minh.

III. Mục đích nghiên cứu:
Thực hiện đề tài này nhằm đạt được một số mục đích sau:
1.Qua khảo sát thực tế để rút ra được tình hình dạy học kiểu văn bản thuyết minh
trong nhà trường hiện nay, qua đó có cái nhìn tổng thể về vệc dạy học đề có thể đề
xuất đóng góp ý kiến.
2.Xây dựng cơ sở lí luận cho việc dạy học kiểu văn bản thuyết minh để việc dạy
học Tập làm văn có nội dung và đạt kết quả cao.
3.Rút ra những bài học kinh nghiệm cho bản thân trong quá trình giảng dạy.
IV.Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Thống kê số tiết dạy kiểu văn bản thuyết minh ở lớp 8, từ đó đánh giá về vai trò,
vị trí của văn bản thuyết minh trong chương trình Tập làm văn THCS.
- Khảo sát dạy học kiểu bài thuyết minh, từ đó rút ra được kĩ năng khi dạy học kiểu
văn bản này.
V. Đối tượng – Phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Kiểu văn bản thuyết minh trong chương trình Ngữ văn 8
THCS.
- Phạm vi: Khảo sát một số trường THCS ở huyện Đông Sơn.

VI. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết.
- Phương pháp phân tích.
- Phương pháp khảo sát thống kê.

- Phương pháp trao đổi thực nghiệm.


2. Luyện tập sử dụng một số biện pháp
nghệ thuật trong văn bản thuyết minh.
3. Sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản
thuyết minh.
4. Luyện tập sử dụng yếu tố miêu tả
trong văn bản thuyết minh.

1. Đặc điểm của kiểu bài thuyết minh
Văn bản thuyết minh là văn bản trình bày tính chất, cấu tạo, cách dùng cùng
lí do phát sinh, quy luật phát triển biến hoá của sự vật, hiện tượng nhằm cung cấp
tri thức cho con người. Vì vậy văn bản thuyết minh sử dụng rất rộng rãi (hướng
dẫn sử dụng phương tiện, đồ dùng, danh lam thắng cảnh, tác phẩm nghệ thuật…)
tất cả đều là văn bản thuyết minh. Hai chữ thuyết minh đều bao hàm cả ý giải
thích, trình bày, giới thiệu cho người đọc, người nghe hiểu rõ.
Khác với văn bản nghị luận, tự sự, miêu tả, biểu cảm, hành chính, văn
thuyết minh chủ yếu trình bày tri thức một cách khách quan khoa học, giúp con
người hiểu được đặc trưng, tính chất của sự vật, hiện tượng và biết cách sử dụng
chúng vào mục đích giao tiếp có lợi cho con người. Văn thuyết minh gắn liền với
tư duy khoa học, nó đòi hỏi phải chính xác, rạch ròi. Muốn làm được văn thuyết
minh phải tiến hành điều tra, nghiên cứu học hỏi để có kiến thức thì mới làm được.
Thuyết minh là loại văn bản khác hẳn với tự sự(vì không có sự việc, diễn
biến) khác với miêu tả (vì không đòi hỏi miêu tả cụ thể cho người đọc cảm thấy,
mà cốt là làm người ta hiểu), khác với các văn bản nghị luận (vì ở đây chính là
trình bày giải thích nguyên lí, quy luật, cách thức…chứ không suy luận lí lẽ) khác
với văn bản hành chính công vụ (bày tỏ quyết định, nguyện vọng, thông báo của ai
đối với ai). Nghĩa là các văn bản ấy không thay thế văn bản thuyết minh được.
Đối với bài văn thuyết minh là phải có tri thức về đối tượng cần thuyết

thái độ khác nhau. Tuy nhiên, dù ở góc độ nào, chúng ta cũng nhận thấy:
Ưu điểm: Kiểu văn bản này gắn bó với đời sống xã hội và con người. ở
Trung Quốc học sinh đã được học từ rất lâu và học sử dụng kiểu văn bản này trong
mọi lĩnh vực đời sống. ở Việt Nam, cũng đã sử dụng nhiều nhưng chưa gọi tên
quen thuộc với cái tên vốn có của nó. Nhận thấy khả năng ứng dụng của kiểu văn
này là rất lớn, do đó nó được đưa vào chương trình ngữ văn để phát huy sức mạnh
và tính ưu việt của nó trong cuộc sống hiện đại này.
Vốn tri thức hiểu biết khá rộng, giáo viên có khả năng cung cấp một cách
đầy đủ có hệ thống cho học sinh. Mặt khác trong quá trình giảng dạy giáo viên tích
luỹ cho mình một vốn kiến thức sâu rộng khác.
Nhược điểm: Kiểu văn bản này đòi hỏi vốn tri thức của học sinh về đối
tượng khác nhau, với nhiều tri thức khác học sinh chưa kịp tiếp cận, hoặc chưa
được biết đến hoặc ít quan tâm dẫn đến không có đủ tri thức để viết bài.
2.2. Thái độ của học sinh khi học kiểu văn bản thuyết minh :

Khi thực hiện đề tài này, nhóm chúng tôi có dịp điều tra hứng thú học tại 2
trường:
Trường
Thái độ
Trường THCS Đông Tiến
(Lớp 8B: 39 học sinh )
Trường THCS Đông Phú
(Lớp 8B: 49 học sinh )
Hứng thú 20 HS 35 HS
Không hứng thú 10 HS 5 HS
Bình thường 9 HS 9 HS
Qua bảng điều tra này, tôi nhận thầy thái độ học tập của học sinh đối với
kiểu văn bản này:
- Đa số học sinh hứng thú với kiểu văn bản thuyết minh, số học sinh không hứng
thú ít hơn.

văn bản thuyết minh, giáo viên bước đầu đảm bảo được các nguyên tắc dạy học
tích cực , đó là :
- Lấy học sinh là trung tâm.
- Luôn gắn liền lí thuyết với thực hành.
- Phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh
4.3. Sử dụng phương tiện dạy học trong dạy học kiểu bài thuyết minh :
Với phân môn Tập làm văn nói chung và kiểu bài thuyết minh nói riêng thì
việc sử dụng phương tiện dạy học là cần thiết. Sử dụng những văn bản mẫu để rút
ra khái niệm và phương pháp, cách làm bài văn thuyết minh. Tuy nhiên đồ dùng
dạy học chính vẫn là : Bảng phụ, giấy A
0
, bút dạ…hiện đại hơn nữa là sử dụng
máy chiếu hắt.

II. Dạy kiểu văn bản thuyết minh ở lớp 8:
1. Đánh giá về nội dung văn bản thuyết minh trong sách giáo khoa Ngữ văn
8- THCS.
Tập làm văn là môn học thực hành tổng hợp. Mục tiêu quan trọng của môn
này là rèn luyện cho học sinh năng lực tiếp nhận và kĩ năng tạo lập văn bản. Chính
vì thế nội dung dạy học văn bản thuyết minh cũng phải tuân thủ theo những
nguyên tắc này.
Cũng như các kiểu văn bản khác trong phân môn Tập làm văn, văn bản
thuyết minh được đưa vào chương trình giảng dạy khá phong phú và đa dạng với
nhiều nội dung khác nhau nhằm cung cấp cho học sinh những tri thức hiểu biết
phong phú của đời sống xã hội.
Văn bản thuyết minh được đưa vào giảng dạy ở lớp 8 với 11 tiết học xen kẽ
tích hợp với phân môn Văn và Tiếng Việt đã giúp học sinh nắm được một cách có
hệ thống, chính xác rõ ràng, đầy đủ về đặc điểm và phương pháp, cách làm bài văn

thuyết minh….Để từ đó học sinh phân biệt được với các kiểu văn bản khác cùng

- Nội dung cần nắm vững:
+ Văn bản thuyết minh trong đời sống hàng ngày.

+ Thế nào là văn bản thuyết minh.
+ Đặc điểm của văn bản thuyết minh (trình bày các tri thức khách quan.)
+ Thuyết minh khác với tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, hành chính công vụ).
+ Nêu vai trò của thuyết minh với các kiểu văn bản khác
- Điểm cần nhấn mạnh:
+ Văn bản thuyết minh có nhiệm vụ cung cấp tri thức khách quan về sự vật,
giúp con người có được hiểu biết về sự vật một cách đúng đắn, đầy đủ. Đây là đặc
điểm quan trọng nhất để phân biệt kiểu văn bản này với các kiểu văn bản khác. Đã
là tri thức thì người viết không hư cấu, không bịa đặt, tưởng tượng hay suy luận ra
mà làm được.
+ Nói là tri thức khách quan nghĩa là tri thức phải phù hợp với thực tế, và
đòi hỏi người viết không phải bộc lộ cảm xúc cá nhân chủ quan của mình. Người
viết phải biết tôn trọng sự thật, không vì lòng yêu ghét của mình mà thêm thắt cho
đối tượng.
+ Văn bản thuyết minh có tính chất thực dụng, cung cấp tri thức là chính,
không đòi hỏi bắt buộc phải làm cho người đọc thưởng thức cái hay, cái đẹp như
tác phẩm văn học. Tuy nhiên, nếu viết có cảm xúc, biết gây hứng thú cho người
đọc, người nghe thì vẫn tốt. Ví dụ giới thiệu một loài hoa thì có thể bắt đầu từ việc
miêu tả vẻ đẹp của hoa, gợi cảm xúc chung về loài hoa ấy…
2. Cách thức tổ chức bài học:
Bước 1: Tổ chức cho HS tiếp cận với văn bản mẫu:
Tổ chức các tổ, nhóm tìm hiểu 3 văn bản (Cây dừa Bình Định, Tại sao lá cây
có màu xanh lục; Huế) theo yêu cầu câu hỏi trong sách giáo khoa.
Các nhóm trình bày, trao đổi; giáo viên gợi ý, định hướng học sinh tìm hiểu
từng vấn đề.
Bước 2: Từ văn bản mẫu rút ra khái niệm:
Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm

Thứ nhất là quan sát: Khái niệm quan sát này các em đã từng được làm
quen khi học về phương pháp miêu tả. Tuy nhiên, ở từng phương thức thao tác
quan sát được sử dụng ở những cấp độ khác nhau. Quan sát trong miêu tả là để
phát hiện đặc điểm, trạng thái hoạt động của đối tượng (bao gồm hình dáng, kích
thước, màu sắc, cử chỉ, hành động, diễn biến…) Có nghĩa là dùng các giác quan để
cảm nhận về đối tượng. Trong khi đó, ở phương thức thuyết minh, quan sát không
đơn giản là nhìn, là xem mà phải vừa xem vừa, tức là trong quá trình quan sát phải
dùng trí tuệ để phát hiện bản chất của đối tượng, phải phân biệt được trong số
những đặc điểm của đối tượng đặc điểm nào chính, đặc điểm nào phụ,. Những đặc

điểm nào có ý nghĩa phân biệt sự vật này với sự vật khác hoặc mỗi đặc điểm về
hình dáng có ý nghĩa gì, có tác dụng gì đối sự sinh tồn của đối tượng hay đối với
cuộc sống của con người.

(Ví dụ: Đầu giun đất có cơ phát triển và trơn để đào, chui trong đất. Mình giun đất
có chất nhờn để da luôn ướt, giảm ma sát khi chui trong đất- Ngữ văn 8 –Tập1.)
Mặt khác, trong quá trình quan sát thực tiễn, người thuyết minh phải biết suy
luận (Ví dụ: Từ hiện tượng muốn mua một bao thuốc 555, lúc đó trẻ em Việt Nam
cần tới 15 nghìn đồng, tác giả nghĩ ngay đến hành vi trộm cắp để có tiền hút thuốc
của đối tượng này).
Thứ hai là thao tác tra cứu tài liệu (bao gồm từ điển, sách giáo khoa, sách tham
khảo, các loại báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu khoa học…). Đối với học
sinh phổ thông, nhất là học sinh lớp 8, thao tác này còn rất mới lạ cần phải được
rèn luyện để trở thành thói quen. Việc tra cứu từ điển thường giúp các em xác định
được khái niệm. Còn việc nghiên cứu sách giáo khoa cùng với các loại tài liệu
sách, báo, tạp chí khác nhằm tích luỹ tri thức về đặc điểm, tính chất, cấu tạo, nguồn
gốc, giá trị của các đối tượng. Điều quan trọng khi tra cứu các từ điển, đọc tài liệu
là phải biết định hướng, lựa chọn những tri thức cần thiết và phải biết ghi chép một
cách khoa học. Việc học hỏi, tích luỹ tri thức phải được thực hiện hàng ngày để khi
cần có thể huy động, vận dụng vào quá trình làm bài văn thuyết minh một cách có

biểu thị sự phán đoán.
Đây là phương pháp mà học sinh phải luyện tập nhiều để tránh những lối
thường gặp như định nghĩa quá rộng, quá hẹp, trùng lặp không làm cho người đọc
nhận thức được sự vật.
Ví dụ: Múa đèn Đông Anh ( Đông Sơn- Thanh Hoá) là một loại hình diễn
xướng dân gian đặc sắc. Đánh giá về mặt giá trị nội dung của nó, lâu nay chúng ta
thường cho rằng người nông dân đã sáng tạo ra những bài ca, điệu múa để phản
ánh cuộc sống lao động của nhà nông. Trong diễn xướng có 12 điệu múa tương
ứng với 10 bài ca và 2 bản nhạc ( chỉ có tiết tấu) do bộ gõ thể hiện….
2. Phương pháp liệt kê:
Là phương pháp trình bày tri thức theo một trật tự nhất định. Các đơn vị tri
thức được sắp xếp nối tiếp nhau theo đặc điểm , tính chất, theo thời gian, theo cấu
tạo. Nghĩa là kể ra các thuộc tính, biểu hiện cùng loại.
Tác dụng của phương pháp này là tạo sự phong phú trong nội dung thuyết
minh, làm tăng sức thuyết phục đối với người đọc, người nghe.

Ví dụ: Liệt kê trên cơ sở cấu tạo của đối tượng: “ Chung quanh núi Rồng có
nhiều ngọn núi trông rất ngoạn mục như: Ngũ Hoa Phong có 5 hình đoá hoa sen
chung một gốc, mọc lên từ đầm lầy, có hang tiên với các nhũ đá măng nhiều vẻ kì
thú, hình rồng hút nước, hình các vị tiên…., có ngọn Phù Thi Sơn trông xa như một
người đàn bà thắt trên mình một dải lụa xanh nằm gối đầu vào thân rồng. Rồi núi
mẹ, núi con như hình hai quả trứng, có núi Tả Ao, vùng Sao Sa có nước trong vắt
quanh năm. Rồi núi con Mèo, núi cánh Tiên đều có hình thù như tên gọi.”
( Lâm Bằng)
3. Phương pháp nêu ví dụ cụ thể:
Là phương pháp nêu ra những dẫn chứng cụ thể, xác thực, đáng tin cậy để
minh hoạ cho vấn đề đang được thuyết minh. Những dẫn chứng này có thể là các
sự việc, địa danh hoặc con người cụ thể. Ví dụ có thể lấy từ thực tế cuộc sống, có
thể dẫn ra theo các tài liệu. Cách thức nêu ví dụ có thể kết hợp với liệt kê, có thể
dùng phương phức tự sự để kể chi tiết. Tác dụng của phương pháp này là tạo nên

loại, nhiều mặt, nhiều khía cạnh để là rõ từng ý. Hai thao tác phân loại, phân tích
phải có sự kết hợp chặt chẽ, hài hoà. Trên cơ sở phân loại, để phân tích, phân tích
theo hướng phân loại. Phương pháp này làm cho nội dung thuyết minh được trình
bày một cách rõ ràng, mạch lạc, tránh tình trạng hoặc quá chung chung khái quát
hoặc đi vào liệt kê quá tỉ mỉ. Do vậy, đòi hỏi người thuyết minh phải có tư duy
khoa học, có cái nhìn toàn diện, bao quát và đồng thời cũng thật cụ thể. Hầu hết
các văn bản thuyết minh đều sử dụng phương pháp này.
Ví dụ: Hoa hồng trắng mang lại một vẻ đẹp hài hoà cân xứng. Cánh hoa nửa
khum khum, nửa muốn xoè rộng ra. Bông hoa xinh xắn, nằm gọn trong lá đài xanh
mướt, trên một cành xanh điểm vài lá gai. Lá hồng bao giờ cũng mọc 5 chiếc so le
hơi nổi viền răng cưa trên một cánh. Hoa hồng trắng đẹp từ khi còn là nụ. Nhưng
đẹp nhất là lúc hoa nở rộ…

Dạng 3: Đề văn thuyết minh và cách làm bài văn thuyết minh:
1. Yêu cầu chung:
*.Đề văn thuyết minh:
Giúp cho học sinh thấy được phạm vi, tính chất,nội dung của đề văn thông
qua một số đề văn trong sách giáo khoa. Từ đó học sinh có thể nhận dạng được các
kiểu đề này ngay khi bắt gặp.
Đề văn thuyết minh nêu các đối tượng thuyết minh để người làm trình bày
tri thức về chúng.
2. Cách làm bài văn thuyết minh:

Một bài văn nói chung, bài văn thuyết minh nói riêng cũng cần phải có các
bước làm bài để cho bài văn có tính thống nhất chặt chẽ và hoàn chính.
Bước 1: Phải tìm hiểu đề.
Đây là bước quan trọng trong quá trình làm bài văn đúng yêu cầu đề ra. Tức
là trước khi viết bài học sinh phải xác định được đề văn yêu cầu cái gì? Phạm vi
của đề là gì? Có xác định được như vậy thì mới xác định được trọng tâm của đề
văn thuyết minh để có thể sử dụng phương pháp thuyết minh phù hợp.

hình ảnh tượng trưng cho đồng quê Việt Nam.
Sáo trúc có từ rất sớm, người ta thấy hình trạm nổi trên phiến đá chân cột
chùa Phật Tích (Hà Bắc) xây dựng vào thời Lý (Khoảng thế kỉ thứ XI) đã miêu tả
một dàn bát âm cổ, trong đó có người đang biểu diễn thổi sáo trúc.
Với vật liệu chính là trúc, tre, trọn một ống trúc có đướng kính là 1,5cm,
chiều dài chừng 3cm, trên thân ống người ra khoét một lỗ thổi, 6 hoặc 10 lỗ bấm
(tuỳ theo ý muốn là sáo cổ hay sáo đã cải tiến). Người ta có trên tay một nhạc cụ
rất giàu khả năng diễn đạt cung bậc, sắc thái, vừa phong phú tinh tế trong tâm hồn
người Việt Nam.
Ngày nay, cây sáo trúc cải tiến có 10 lỗ bấm, có khả năng thể hiện linh hoạt
hơn mọi loại bài bản, ở các loại giọng với âm cực trên hai quãng tám(sáo cổ chỉ
có âm cực 1 quãng tám). Sáo trúc có thể tham gia độc tấu với các dàn nhạc cổ
truyền, dàn nhạc nhẹ, dàn nhạc thính phòng, dàn nhạc giao hưởng.
Với âm sắc độc đáo, giàu màu sắc dân gian, sáo trúc không chỉ được người
nghe trong nước yêu thích mà còn chiếm được cảm tình của bạn bè Quốc tế”.

2. Yêu cầu về phương pháp:
- Muốn thuyết minh về một thứ đồ dùng, trước tiên người viết cần phải quan
sát, tìm hiểu kĩ cấu tạo, tính năng tác dụng, cơ chế hoạt động của đồ dùng đó.
Cách trình bày: Tiến hành giới thiệu lần lượt những bộ phận tạo thành, nói rõ cách
sử dụng và bảo quản tránh nói chung chung.
- Xác định ý và xây dựng bố cục: Bố cục của bài viết thuyết minh thường có
3 phần.
- Mở bài: Giới thiệu đối tượng thuyết minh
Cách giới thiệu nên linh hoạt: có thể nên đi thẳng vào đối tượng thuyết minh, giới
thiệu bằng nêu định nghĩa hoặc khái quát khái niệm về đối tượng được thuyết minh

hay sử dụng phương pháp đối chiếu, so sánh để tạo cách nói đòn bẩy nhằm làm nổi
bật đối tượng sẽ thuyết minh.
Ví dụ: Phần mở bài giới thiệu chiếc bút bi theo cách so sánh:

1. Yêu cầu chung:
Nằm trong thể loại văn thuyết minh, kiểu bài thuyết minh về một thể loại
văn học nhằm cung cấp cho học sinh những kĩ năng cơ bản về thể loại văn học, rèn
kĩ năng trình bày những tri thức khách quan, khoa học, chính xác, nâng cao năng
lực tư duy và biểu đạt của học sinh. Cụ thể là khả năng quan sát, mô tả, thuyết
minh đặc điểm của một thể thơ, một thể loại hoặc một văn bản.
Với kiểu bài này, yêu cầu đối với giáo viên là phải định hướng để học sinh
tìm hiểu đề bài nhằm xác định đối tượng, tìm ra hướng trình bày theo một trình tự
nhất định thích hợp với đối tượng thuyết minh.
Với học sinh, yêu cầu các em phải tìm hiểu trước về đối tượng, đọc những
tài liệu tham khảo có liên quan đên các thể loại văn học. Phải quan sát, nhận xét
sau đó khái quát thành đặc điểm. Khi nêu đặc điểm phải biết lựa chọn những đặc
điểm tiêu biểu quan trọng và lấy ví dụ để làm sáng tỏ đặc điểm đó.
2. Đề xuất cách thức thực hiện bài dạy:
- Sử dụng phương pháp quy nạp.
- Hướng triển khai: Thuyết minh thể thơ thất ngôn bát cú.
Bước1: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề để tìm hiểu các phương diện: Kiểu bài,
đối tượng thuyết minh, nội dung thuyết minh, phương pháp thuyết minh.
- Kiểu bài: Thuyết minh;
- Đối tượng: Thể thơ thất ngôn bát cú đường luật;
- Nội dung thuyết minh: Trình bày, giải thích, giới thiệu các đặc điểm của thể thơ.
- Phương pháp thuyết minh: định nghĩa, phân tích, nêu số liệu, nêu ví dụ.
Bước2: Hướng dẫn học sinh quan sát tích luỹ kiến thức:
- GV chuẩn bị 2 bài thơ trên bảng phụ :
+ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác( Phan Bội Châu)
+ Đập đá ở Côn Lôn ( Phan Châu Trinh).
- Học sinh quan sát và tìm ra những đặc điểm của hai bài thơ đó.
Bước 3: Hướng dẫn học sinh lập dàn bài:
Bước4: Hướng dẫn học sinh tập viết đọc, viết bài.
Bước 5: kiểm tra lại văn bản viết, có thể trình bày trước lớp.

tượng, phạm vi ) của đề văn. ? Để giới thiệu về thể thơ này thì em
sẽ phải làm gì.

I. Từ quan sát đến miêu tả, thuyết minh
đặc điểm một thể loại văn học
1, Tìm hiểu đề
Đề bài : Thuyết minh đặc điểm thể thơ thất
ngôn bát cú
- Thể loại : Thuyết minh
- Đối tượng thuyết minh : Đặc điểm thể thơ
thất ngôn bát cú.
+Quan sát hai bài thơ:
+ Tìm hiểu đặc điểm hình thức của
chúng(số tiếng, dòng, luật bằng- trắc, đối, G/v treo bảng phụ có 2 bài thơ trên.

Hoạt động 2 : Hướng dẫn nhận
diện luật thơ
H/s đọc kỹ hai bài thơ:
GV tổ chức cho HS: Quan sát mẫu,
mô tả lại điều quan sát bằng cách trả
lời các câu hỏi gợi ý (SGK).

Cụ thể: Phương pháp nêu định nghĩa, giải
thích; phân loại, phân tích 2, Nhận diện luật thơ
Mỗi bài gồm :
* 8 câu 7 tiếng, 56 tiếng/ bài.
VD : 1 – 2 – 3 – 4 – 5 – 6 – 7
b t b
t b t
t b t
b t b * Theo luật:
+ Nhất, tam, ngũ bất luận .
+ Nhị, tứ, lục phân minh .
Nghĩa là :
- Không cần xét tiếng thứ 1, thứ 3, thứ 5.
- Chỉ xem các tiếng thứ 2, thứ 4,thứ 6.
* Cách đối : Các tiếng trong câu 3 – 4 và 5
- 6 phải đối nhau theo từng cặp giống nhau
về từ loại, ngược nhau về thanh điệu (đối ý,
đối lời)
* Nhận xét ưu, nhược điểm và vị trí
của thể thơ trong thơ Việt Nam

? Vai trò của thể thơ( cảm nhận của
em về vẻ đẹp nhạc điệu của bài thơ)

* G/v cho h/s đọc to ghi nhớ
b. Đập đá ở Côn Lôn.
- Côn… non… hòn… son… con -> vần
bằng.
* Nhịp : 4/3.
Hoặc 2/ 2/ 3.

3, Lập dàn ý :
a, Mở bài
Thất ngôn bát cú đường luật là 1 thể thơ rất
phổ biến và quen thuộc trong thơ ca Việt
Nam trung đại.
b, Thân bài


Hoạt động 4 : Hướng dẫn luyện tập
Bài tập1: - Viết bài thuyết minh hoàn chỉnh về thể thơ “ Thất ngôn bát cú”
- Gv chia nhóm học tập, mối nhóm thực hiện một phần của bài văn theo dàn ý (HS
tham khảo bài văn thi pháp thơ Đường của Tạ Đức Hiền- Sách nâng cao Ngữ văn
THCS trang 66).
- Tổ chức cho đại diện các nhóm trình bày từng phần viết.
* GV dùng bẳng phụ công bố một số tiêu chí đánh giá kết quả bài viết để học sinh
đối chiếu, nhận xét, rút ra kĩ năng:
+ Bài viết có bố cục rõ ràng, mạch lạc.
+ Nêu đầy đủ chính xác, khoa học đặc điểm của thể thơ; vai trò, ý nghĩa, ảnh
hưởng của nó đối với văn học dân tộc.
+ Ngôn ngữ bài văn hấp dẫn, dễ hiểu, biết kết hợp các yếu tố biểu đạt, các biện
pháp tu từ nghệ thuật cần thiết, hợp lí.

Bài tập2:
Đề bài: Thuyết minh truyện ngắn lão Hạc của Nam Cao.
Bước 1 : Định nghĩa truyện là gì (xem bài tham khảo sgk)
Bước 2 : Giới thiệu các yếu tố của truyện ngắn.
1, Tự sự :
- Là yếu tố chính, quy định sự tồn tại của truyện ngắn.
- Gồm : Sự việc chính và nhân vật chính.
+ Sự việc chính : Lão Hạc giữ tài sản cho con trai bằng mọi giá.
+ Nhân vật chính : Lão Hạc.
- Ngoài ra còn có các sự việc và nhân vật phụ.
+Sự việc phụ : Con trai lão bỏ đi, lão Hạc đối thoại với con vàng, bán
con vàng, đối thoại với con chó, xin bả chó, tự tử…
+ Nhân vật phụ : Ông giáo, con trai lão Hạc, vợ ông giáo …
2, Miêu tả và biểu cảm là các yếu tố phụ giúp truyện ngắn sinh động, hấp
dẫn. Thường đan xen vào các yếu tố tự sự.

bài này.
Trong cuộc sống hiện nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học- kĩ
thuật, với xu thế Quốc tế hoá ngày càng cao, nhanh chóng thì việc cung cấp cho
học sinh những tri thức mới mẻ về tự nhiên, xã hội, con người thông qua văn bản
thuyết minh ngày càng trở nên quan trọng. Qua đó, người học có thể nâng cao hiểu
biết của mình những kiến thức sâu rộng đó, áp dụng vào thực tiễn đời sống, xã hội.
2. Những ý kiến đề xuất:
Thứ nhất: Xuất phát từ yêu cầu môn học là cung cấp tri thức khách quan, khoa
học, chính xác về tự nhiên và xã hội, con người, khi dạy kiểu bài nhà trường giáo
viên và các tổ chức có liên quan nên tạo điều kiện dể học sinh tham gia vào các

buổi hoạt động ngoại khoá, tham quan, du lịch, thực tế… để vốn hiểu biết phong
phú hơn, tri thức khách quan xác thực để bài làm hiệu quả hơn.
Thứ hai: Hiện nay các tài liệu tham khảo về kiểu văn bản thuyết minh trong nhà
trường còn hạn chế. Do đó không tài liệu nghiên cứu, tìm hiểu kiểu bài này. Vì vậy
các cấp ngành có thể bổ sung thêm về những vấn đề có liên quan đến kiểu văn bản
thuyết minh để dễ dàng cho việc học tập nghiên cứu được thuận lợi hơn.
Thứ ba: Một số đề văn thuyết minh trong sách giáo khoa đối tượng thuyết minh
còn xa lạ với học sinh, nếu sử dụng các đề này, giáo viên nên cho học sinh chuẩn
bị tri thức trước ở nhà.
Trên đây là những cố gắng của tôi khi nghiên cứu đề tài này trong nhiều khó
khăn bước đầu khi tiếp cận. Do đó khó có thể tránh những thiếu sót, mong nhận
được sự góp ý, phê bình của các đồng nghiệp và bạn đọc để nội dung đề tài được
phong phú và hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Đông Sơn, tháng 3 năm 2008
Người thực hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status