PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “tiếng Việt là thứ của cải vô cùng lâu
đời và vô cùng quý báu”, bởi vậy mà rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt là vấn đề
quan trọng trong giảng dạy ngữ văn ở trường THPT. Từ đó giúp các em trau dồi kĩ
năng sử dụng vốn tiếng Việt của mình, vận dụng vào khâu tìm hiểu, khám phá các
tác phẩm văn học trong nhà trường.
Hiện nay, trong quá trình giảng dạy ngữ văn lớp 10 ban cơ bản, tôi nhận thấy đa
số học sinh chưa có kĩ năng sử dụng tiếng Việt thành thạo, chưa biết khám phá cái
hay, cái đẹp ở một tác phẩm văn, thơ, chưa thấy hết các tầng bậc ý nghĩa của một
đơn vị ngôn từ được dùng trong một câu thơ, câu văn hay một đoạn thơ, đoạn văn.
Mà muốn nhận thức được sự hàm súc, ý nghĩa sâu sắc của một đơn vị ngôn ngữ
văn chương thì học sinh phải nắm thật chắc về các biện pháp tu từ được học trong
nhà trường. Có như thế các em mới giải được các dạng bài tập đề chỉ ra ý nghĩa, tác
dụng biểu đạt của đơn vị ngôn ngữ, từ đó chỉ ra cái hay, cái đẹp của một tác phẩm
văn chương. Trong những yêu cầu đặt ra đó thì tiếng Việt là môn công cụ để học
ngữ văn.
Từ thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy rằng: Hướng dẫn học sinh giải bài tập về
các biện pháp tu từ: Ẩn dụ, hoán dụ, phép đối, phép điệp, đây là một đề tài nhằm
trao đổi với các đồng nghiệp về những suy nghĩ và kinh nghiệm của bản thân để
nâng cao hiệu quả của việc giảng dạy môn ngữ văn ở nhà trường, đặc biệt là
chương trình ngữ văn lớp 10, ban cơ bản.
Viết về đề tài này, bản thân tôi nhằm thể hiện nhận thức bước đầu về kiến thức
lí thuyết tiếng Việt để áp dụng vào thực hành trong các giờ thực hành, luyện tập
1
Từ những kinh nghiệm của giáo viên, giúp các em nhận biết nhanh chóng,
chính xác và giải được các dạng bài tập về biện pháp tu từ như: Ẩn dụ, hoán dụ,
phép đối, phép điệp một cách thuần thục. Qua việc phân tích, tìm hiểu các biện
tiếng Việt ở chương trình ngữ văn lớp 10 ban cơ bản. Vì vậy khi được nhận dạy văn
các lớp 10B, 10D ban cơ bản, tôi đã lên kế hoạch để bổ sung nội dung này vào
phần tự chọn.
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên thì việc thực hành giải bài tập vể các biện
pháp tu từ: ẩn dụ, hoán dụ, phép đối, phép điệp còn gặp nhiều khó khăn.
Xuất phát từ thực tế xã hội là nhu cầu tuyển dụng lao động thuộc các ngành
nghề xã hội là quá ít và có những lĩnh vực hầu như không tuyển lao động liên tục
trong nhiều năm khiến cho nhiều em theo học các môn tự nhiêm mà không cần học
các môn xã hội, trong đó có bộ môn ngữ văn hoặc các em không yêu thích môn văn
nữa. Bởi vậy trong giờ văn các em chỉ cần học để đối phó khi thầy, cô kiểm tra sát
sao hoặc uể oải ngồi nghe mà không chịu ghi chép. Thậm chí các em còn kiếm cớ
trốn giờ học…
Hiện nay, các nhà ngôn ngữ học đã nghiên cứu, tìm hiểu và phát hiện có
khoảng 108 phương tiện và biện pháp tu từ và cho đến nay vẫn đang tiếp tục tìm
hiểu và nghiên cứu tiếp, cho nên con số 108 phương tiện và biện pháp tu từ kia có
thể còn là đang khiêm tốn. Điều đó có nghĩa là rất nhiều các biện pháp tu từ đã
được các nhà thơ, nhà văn sử dụng sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật được đưa
vào chương trình ngữ văn lớp 10 – trung học phổ thông mà các em không biết, bởi
thực tế là học sinh cả hai bậc trung học phổ thông và trung học cơ sở lại chỉ được
học khoảng trên dưới mười biện pháp tu từ, do vậy mà các em hiểu biết rất ít về các
biện pháp tu từ và chưa có một cái nhìn toàn diện về các biện pháp tu từ được học
trong nhà trường
3
Hơn nữa, học sinh thường cho rằng: tiếng Việt là môn học vừa khô khan vừa
khó hiểu nên các giờ học lí thuyết đa số là các em rất rất ngại học, ít chú ý nghe
giảng mà thường làm việc riêng, nói chuyện…miễn là có mặt trong lớp học cho hết
giờ
Một bộ phận rất ít các em có chú ý nghe giảng và nắm được lí thuyết nhưng mà
trong đó có các biện pháp tu từ Ẩn dụ, hoán dụ, phép đối, phép điệp. Tuy vậy giờ
thực hành giải các bài tập về biện pháp tu từ: Ẩn dụ, hoán dụ, phép đối, phép điệp
cũng còn có nhiều hình thức khác nhau.
Về phía giáo viên
Một bộ phận cho rằng áp dụng đổi mới phương pháp giảng dạy trong giờ thực
hành bằng cách giáo viên giải cho các em một bài mẫu, rồi chia nhóm cho cả lớp
làm các bài tập còn lại của bài học và thế là kết thúc tiết dạy cũng không cần chữa
thêm bài tập nào cho các em nữa.
Một số khác lại quá chú trọng giảng kĩ lại lí thuyết chiếm nửa thời gian giờ
học, do vậy mà giờ thực hành làm được quá ít bài tập, học sinh ít được rèn luyện về
kĩ năng thực hành
Về phía học sinh
Trong giờ thực hành, phần đông các em rất lười giải bài tập mà chỉ chờ giáo
viên giải sẵn rồi chép vào vở, như vậy quá trình thực hành các em lại thụ động khi
tiếp cận kiến thức
Một số em có làm bài tập được giao nhưng chỉ mang tính đối phó vì sợ giáo
viên phê bình còn việc giải bài tập đúng hay sai cũng không quan trọng, không cần
biết. như vậy là việc thực hành để rèn luyện kĩ năng là không thực sự có hiệu quả
Chưa có được những em có ý thức học tập tốt, đó là trong giờ học lí thuyết phải
nắm vững các đơn vị kiến thức lí thuyết rồi về nhà tự giải các bài tập được giao để
khắc sâu kiến thức và sau đó các em biết vận dụng kiến thức đã tiếp thu để trong
5
giờ thực hành các em giải được các bài tập từ dễ đến khó. Hơn nữa, qua việc thực
hành giải các bài tập về biện pháp tu từ: Ẩn dụ, hoán dụ, phép đối, phép điệp các
em sẽ vận dụng được kiến thức và kĩ năng để cảm nhận, khám phá và thưởng thức
cái hay cái đẹp của một tác phẩm văn chương.Như vậy đa số các em chưa nắm
được tầm quan trọng của việc rèn luyện kĩ năng thực hành giải các bài tập về biện
pháp tu từ: Ẩn dụ, hoán dụ, phép đối, phép điệp nên các em chưa học tốt được bộ
một hình ảnh khác mà ở đó hình ảnh được nói ra và hình ảnh muốn nói đến có
mối quan hệ tương cận.
3. Khái niệm về phép điệp
Phép điệp là phương thức tu từ lặp lại một yếu tố diễn đạt (Từ, ngữ. câu,
vần, nhịp…) nhằm nhấn mạnh, biểu đạt cảm xúc và ý nghĩa, có khả năng gợi
hình tượng
4. Khái niệm về phép đối. Phép đối là một phương thức tu từ sắp xếp các
yếu tố ngôn ngữ như: từ ngữ, hình ảnh, âm thanh, vần nhịp thành hai vế trong
7
câu hoặc giữa các câu trong đoạn… nhằm tạo ra sự cân xứng hài hòa cho lời
thơ, lời văn
Từ những khái niệm nêu trên giúp các em chỉ ra giá trị biểu dạt của từng
biện pháp tu từ
II.Giúp học sinh tìm hiểu và nhận thức được vị trí vai trò và tầm quan trọng
của việc rèn luyện kĩ năng thực hành giải bài tập về các biện pháp tu từ: Ẩn
dụ, hoán dụ, phép đối, phép điệp
Học lí thuyết chỉ là bước đầu tiếp cận kiến thức. Còn thực hành là bước tiếp
theo, là khâu quan trọng, quyết định để khắc sâu kiến thức của mỗi học sinh về bài
học lí
Thực hành về các biện pháp tu từ nói chung và thực hành giải bài tập về các
biện pháp tu từ: Ẩn dụ, hoán dụ, phép đối, phép điệp nói riêng là những đơn vị kiến
thức quan trọng, nó giống như chiếc chìa khóa để mở ra các tầng ý nghĩa của hình
ảnh thơ văn cũng như cái hay, cái đẹp của văn chương nghệ thuật. Nếu không nắm
vững và giải được các biện pháp tu từ thì cảm thu phân tích văn chương sẽ là sáo
rỗng
1. Giúp học sinh nhận diện các dạng khác nhau của từng biện pháp tu từ.
Trong mỗi biện pháp tu từ lại được phân làm nhiều loại khác nhau, học
- Dựa trên quan hệ liên tưởng tương - Dựa trên quan hệ liên tưởng tương
đồng giữa hai đối tượng, bằng so cận giữa hai đối tượng, không sử dụng
sánh ngầm (tức là mối quan hệ giữa so sánh (tức là mối quan hệ giữa cái
cái được nói ra và cái muốn nói tời là được nói ra và cái muốn nói tới là mối
mối quan hệ tương đồng - giống quan hệ tương cận - gần nhau)
nhau)
- Không chuyển trường mà cùng trong
- Thường có sự chuyển trường nghĩa
một trường nghĩa
3. Giáo viên cần phân bổ thời gian hợp lí cho tiết dạy
9
Mỗi tiết học, giáo viên chỉ dành từ 5 → 10 phút về kiến thức lí thuyết còn lại
khoảng từ 35→ 40 phút dành cho các nhóm làm các dạng bài tập theo nhóm nêu
trên rồi chia bảng 3 phần, gọi 3 em đại diện cho 3 nhóm lên bảng để giải bài tập,
sau đó giáo viên chữa từng bài, nhận xét và chỉ ra lỗi ở bài làm của các em rồi tùy
vào mức độ chất lượng bài làm mà cho điểm khuyến khích những em làm bài chất
lượng khá rồi lấy điểm vào cột điểm miệng; Sau mỗi bài học cần cũng cố kiến thức
lí thuyết và ra thêm các dạng bài tập về nhà.
4. Sau từng bài học về mỗi biện pháp tu từ giáo viên cần có hệ thống câu hỏi và
ra dạng bài tập để học sinh làm đề cương ôn tập cuối mõi học kì
5. Trong cấu trúc chương trình ở các lớp có tự chọn, giáo viên cần dành một số
tiết tự chọn nhất định để hướng dẫn học sinh thực hành luyện tập giái các bài
Ví dụ: * Phép điệp:
- Điệp từ: “ Tre xung phong vào xe tăng đại bác. Tre giữ làng, giữ nước, giữ
mái nhà tranh, giữ đồng lúa chin” (Nguyễn Duy)
- Điệp ngữ: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi
năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng vè phe đồng minh chống phát xít mấy
năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập ” (Hồ Chí
Minh)
- Điệp vòng:
“Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai” (Đặng Trần Côn)
- Trùng điệp:
“Hoa dãi nguyệt, nguyệt in một tấm
Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông
Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng” (Đặng Trần Côn)
Giáo viên cũng có thể lựa chọn các bài tập về các biện pháp tu từ ẩn dụ, hoán
dụ, phép đối theo hệ thống và nâng cao như vậy
11
III. Giúp các em học sinh giải dạng bài tập dễ có sự nhầm lẫn trong sự đối
chiếu, so sánh giữa hai biện pháp tu từ có điểm giống nhau như Ẩn dụ, hoán
dụ.
Ví dụ: Chỉ ra và phân tích tác dụng biểu đạt của biện pháp tu từ ẩn dụ và
10D
Sĩ số
50 em
47 em
Ban
Cơ bản
Cơ bản
Loại giỏi
8 em
4 em
Loại khá
20 em
14 em
Loại TB
22 em
29 em
Loại yếu
Không
Không
PHẦN KẾT LUẬN
Dạy ngữ văn là giúp học sinh khám phá cái hay cái đẹp của tác phẩm văn
chương và hình thành một số kĩ năng thực hành
Trong quá trình giảng dạy, người giáo viên giữ một vị trí, vai trò quan trong
14
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trịnh Thị Chín, Giáo trình tiếng Việt thực hành, Nxb Giáo dục 2006, Hà Nội
2. Bùi Minh Toán, Tiếng Việt thực hành , Nxb Giáo dục 2009, Hà Nội.
3. SGK ngữ văn 10 tập 1, tập 2, Nxb giáo dục 2006
4. Bài tập ngữ văn 10 tập 1, tập 2, Nxb giáo dục 2006
5. Từ điển tiếng Việt – Trung tâm nghiên cứu từ điển Hà Nội – Đà Nẵng 1998
6. Trang web Thư viện trực tuyến ViOLET (tham khảo một số bài viết trong
các giáo án, SKKN của trang web)
6. Trang web trực tuyến 123doc.org (tham khảo một số bài soạn về các biện
pháp tu từ, SKKN của trang web)
15
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU……………………………………………………………………..1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................
2. Đối tượng nghiên cứu...................................................................................
3. Lịch sử vấn đề nghiên cứu............................................................................
4. Cấu trúc của bài viết.....................................................................................
NỘI DUNG: .....................................................................................................
Phần I: Một số giải pháp khi hướng dẫn học sinh giải bài tập về các
biện pháp tu từ: Ẩn dụ, hoán dụ, phép đối, phép điệp…………………………7
I.Giúp học sinh nắm vững kiến thức về lí thuyết mà trước hết là các
khái niệm về các biện pháp tu từ…………………………………………........7
II.Giúp học sinh tìm hiểu và nhận thức được vị trí vai trò và tầm quan trọng