Hướng dẫn học sinh nắm được đặc điểm và giá trị biểu cảm của một số biện pháp tu từ trong chương trình ngữ văn lớp 6 THCS - Pdf 43

MỤC LỤC
STT

NỘI DUNG

TRANG

1.

Mở đầu

2

1.1

Lí do chọn đề tài

2

1.2.

Mục đích

2

1.3.

đối tượng nghiên cứu

2


Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm

15

2

3.

Kết luận - kiến nghị

15

3.1

Kết luận

15

3.2

Kiến nghị

17

3.2

Lời kết

17


tiểu học như: so sánh, nhân hoá, ẩn dụ …Lên cấp THCS các em càng có dịp hiểu thấu
đáo hơn về các biện pháp tu từ, từ đó các em phát hiện và vận dụng vào bài làm của
mình, vì vậy từ thực tế giảng dạy tôi chọn nghiên cứu đề tài “Hướng dẫn học sinh
nắm được đặc điểm và giá trị biểu cảm của một số biện pháp tu từ trong chương
trình Ngữ văn lớp 6 THCS”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Khi nghiên cứu đề tài“Hướng dẫn học sinh nắm được
đặc điểm và giá trị biểu cảm của một số biện pháp tu từ trong chương trình Ngữ văn
lớp 6 THCS” tôi muốn cung cấp cho học sinh kiến thức về đặc điểm, cấu tạo, phân
loại và hiệu quả diễn đạt của các biện pháp tu từ như: So sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán
dụ, .... Từ những kiến thức về các biện pháp tu từ được học, các em có thể tích hợp
trong phần đọc - hiểu văn bản và tạo lập các văn bản tự sự, miêu tả ở lớp 6.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài ngiên cứu của tôi tập trung hướng tới đối tượng
là học sinh lớp 6 THCS. Các em học sinh lớp 6 tuy đã được tiếp cận với một số biện
pháp tu từ ở bậc Tiểu học nhưng để các em hiểu kĩ, hiểu sâu về đặc điểm, giá trị biểu
cảm của các biện pháp tu từ và vận dụng vào trong việc tìm hiểu một văn bản, tạo lập
văn bản thì học sinh cần được cũng cố và nâng cao hơn kiến thức về các biện pháp tu
từ ở lớp 6.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Hướng dẫn học sinh nắm được đặc điểm và
giá trị biểu cảm của một số biện pháp tu từ trong chương trình Ngữ văn lớp 6
THCS.”Tại trường THCS Lam Sơn, tôi đã áp dụng một số phương pháp sau:
2


- Phương pháp lý thuyết.
- Phương pháp thống kê, điều tra thực tế.
- Phương pháp thực nghiệm.


biện pháp tu từ của học sinh lớp 6 trường THCS Lam Sơn đầu năm học 2016-2017
tôi đã thu được kết quả như sau:
Đầu năm
học

Khối
lớp

Số
lượng

Số học sinh
Số học sinh
Số học sinh
đạt yêu cầu
chưa có kỹ còn nhầm lẫn
về nhận biết
năng nhận
khi nhận biết
đặc điểm và biết đặc điểm đặc điểm của
tác dụng của và tác dụng
các biện
3


2016-2017

6

65

- So sánh, trước hết là thao tác của tư duy lô gich: Đem sự vật này đối chiếu
với sự vật khác để tìm ra sự tương đồng hoặc đối lập giữa chúng. Do vậy, so sánh có
giá trị đối với quá trình nhận thức, đem cái chưa biết đối chiếu với cái đã biết để qua
cái đã biết mà nhận thức, hình dung được cái chưa biết.
Ví dụ 1: Nhìn lên bản đồ nước ta, mạch than Đông Bắc phân bố như dáng
một chiếc lưỡi hái khổng lồ đặt ngang châu thổ Bắc Bộ. Trước đây, có người ví nước
ta cong cong như chiếc đòn gánh, hai đầu là hai thúng thóc.
(Thi Sảnh)
Để người đọc dễ hình dung ra vị trí hình dáng của mỏ than, của nước ta, tác giả
đã đem so sánh với những vật dụng quen thuộc của đời sống nông nghiệp như: lưỡi
hái, đòn gánh,…
- Bên cạnh giá trị về nhận thức, so sánh còn có giá trị tạo sắc thái biểu cảm
khác nhau. Cách so sánh nhằm tạo ra các cảm xúc cụ thể, sinh động, tạo tính hình
tượng… gọi là so sánh tu từ.
Ghi chú: Trong mục 2.3.1 Ví dụ 1 được tham khảo từ TLTK số 1

- Cấu tạo đầy đủ của so sánh gồm bốn yếu tố: vế A (sự vật được so sánh),
phương diện so sánh, từ so sánh, vế B (sự vật dùng để so sánh). Tuy nhiên khi sử
dụng có thể vắng mặt một (một số) yếu tố nào đó.
Ví dụ 2:
4


- Trẻ em như búp trên cành. (vắng mặt phương diện so sánh - gọi là so sánh
chìm - làm cho người đọc có khả năng liên tưởng ở nhiều phương diện: tươi non, đầy
sức sống, chứa chan hi vọng,…).
- Bác ngồi đó, lớn mênh mông
Trời cao biển rộng, ruộng đồng nước non…
(Tố Hữu)
(vắng mặt từ so sánh)

Núi cao chi lắm núi ơi?
Núi che mặt trời chẳng thấy người thương.
5


(Ca dao)
- Nhân hóa ngoài tác dụng làm cho sự vật được miêu tả trở nên sống động, gần
gũi với con người, còn thường xuyên được sử dụng để làm phương tiện, làm cớ để
con người giải bày tâm sự.
Ví dụ 6:

Đêm qua ra đứng bờ ao
Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ
Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi nhện hỡi, nhện chờ mối ai
Buồn trông chênh chếch sao mai
Sao ơi sao hỡi, nhớ ai sao mờ.
(Ca dao)

Những lời gọi con nhện (Nhện ơi nhện hỡi, nhện chờ mối ai), gọi sao (Sao ơi
sao hỡi, nhớ ai sao mờ) thực chất là nỗi niềm buồn nhớ, trông chờ của con người
trong đêm khuya.
c) Biện pháp tu từ ẩn dụ:
- Ẩn dụ trước hết là một biện pháp chuyển đổi tên gọi nhờ vào sự giống nhau ở
một điểm nào đó giữa các sự vật, sự việc, hiện tượng… Ví dụ: chân người, chân
bàn, chân núi,… là dựa vào sự giống nhau về vị trí. Những ẩn dụ như vậy gọi là ẩn
dụ từ vựng. Chúng không còn sắc thái biểu cảm. Bên cạnh những ẩn dụ từ vựng như
trên, còn có các ẩn dụ từ vựng hóa (ẩn dụ truyền thống). Ẩn dụ từ vựng hóa là những
ẩn dụ, tuy vẫn còn tính hình tượng, nhưng do dùng nhiều nên đang chuyển thành cố
định, có phần mòn sáo, giá trị biểu cảm không cao.

- Lấy bộ phận để gọi toàn thể:
Ví dụ 8:

Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.
(Hoàng Trung Thông)

Trong câu thơ trên Hoàng Trung Thông đã dùng bàn tay (chỉ một bộ phận cơ
thể người) để biểu thị “người lao động”.
- Lấy vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng:
Ví dụ 9:

Vì sao? Trái Đất nặng ân tình
Nhắc mãi tên Người Hồ Chí Minh.
(Tố Hữu)

Trái Đất (vật chứa đựng) biểu thị đông đảo những người sống trên trái đất (vật
bị chứa đựng).
- Lấy đặc điểm, tính chất (dấu hiệu) của sự vật để gọi sự vật:
Ví dụ 10:

Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…
(Tố Hữu)

Câu thơ trên đã dùng áo chàm (y phục) để chỉ “đồng bào Việt Bắc” (thường
mang y phục đó).

Ghi chú: Trong mục 2.3.1 Ví dụ 7,8,9,10 được tham khảo từ TLTK số 1


xúc nhiều hơn. Câu so sánh lúc nào cũng có dụng ý nghệ thuật và có hai vế đ ược so
sánh và vế so sánh. Giữa hai vế thường xuất hiện từ so sánh: như, tựa, bằng, sánh với
v.v.
Ví dụ 12: Trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường
thành vô tận.
(Đoàn Giỏi)
Cách sử dụng của Đoàn Giỏi khá độc đáo vv́ tác giả đem hình ảnh “rừng đước
dựng lên cao ngất ” so với hình ảnh “hai dãy trường thành vô tận” nhằm tái hiện cụ
thể, sinh động vẻ đẹp chắc chắn, kiên cố, giàu sức sống của rừng đước hai bên bờ
dòng sông Năm Căn. Từ đó gợi cho người đọc tình yêu, sự gắn bó với sông nước Cà
Mau dù chưa một lần đặt chân đến.
Thứ hai là giá trị của biện pháp tu từ ẩn dụ:
Bên cạnh biện pháp tu từ so sánh ta thấy các tác giả còn sử dụng biện pháp tu
từ ẩn dụ (ví ngầm, so sánh ngầm). Ðể có sự hiểu biết thấu ðáo ngýời ta thýờng dùng
Ghi chú: Trong mục 2.3.1 Ví dụ 11,12 được tham khảo từ TLTK số 1

những từ ngữ mà nghĩa đen được chuyển sang nghĩa bóng nhờ sự so sánh ngầm. Ðó
là phương thức ẩn dụ như:
Ví dụ 13:

Ngày ngày Mặt Trời đi qua trên lăng

8


Thấy một Mặt Trời trong lăng rất đỏ.
(Viếng lăng Bác -Viễn Phương)
Các em thấy được cách sử dụng nghệ thuật ẩn dụ của nhà thơ rất có hiệu quả vì
thông qua hình ảnh mặt trời là vầng thái dương (nghĩa đen) tác giả đã tạo ra một hình
ảnh so sánh ngầm sâu sắc tế nhị làm cho người đọc hình dung ra hình ảnh của Bác Hồ


Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau viết nói gì hôm nay…
(Tố Hữu)

Ghi chú: Trong mục 2.3.1 Ví dụ 13,14,15 được tham khảo từ TLTK số 1

Nhà thơ lấy hình ảnh của “áo chàm” để nói đến những người dân Việt Bắc
những người đã nuôi dưỡng che chở cho cách mạng, có nhiều tình cảm, ân tình với
bộ đội. Vì thế mà khi cách mạng dành thắng lợi, giây phút chia tay với bao lưu luyến,
bùi ngùi, xúc động không nói nên lời giữa người đi và người ở.
9


2.3.2. Tìm hiểu về một số biện pháp tu từ đã học thông qua việc tích hợp với các
phân môn khác:
Để nâng cao chất lượng cho học sinh THCS về việc học các biện pháp tu từ thì
bản thân giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn trong nhà trường không thể chỉ
cung cấp kiến thức trong giờ Tiếng Việt, mà phải kết hợp việc củng cố kiến thức về
các biện pháp tu từ thông qua giờ Văn học, giờ Tập làm văn, tổ chức cho các em hái
hoa kiến thức ở một số chủ điểm trong giờ hoạt động ngoài giờ lên lớp để giúp các
em hiểu và vận dụng được các biện pháp tu từ.
a) Tìm hiểu về một số biện pháp tu từ đã học thông qua giờ Văn học.
- Ví dụ 1: Khi dạy bài thơ Mưa của Trần Đăng Khoa (Ngữ văn 6, Tập II, Tiết
100).
Mục đích ở bài này là làm cho học sinh cảm nhận được sức sống, sự phong
phú, sinh động của bức tranh thiên nhiên và tư thế của con người được miêu tả trong
bài thơ. Đồng thời nắm được nét đặc sắc trong nghệ thuật miêu tả thiên nhiên của bài
thơ, đặc biệt là phép nhân hóa.
Trong quá trình giảng dạy bài này, giáo viên cần phải chú trọng đến việc hướng

lêu nghêu như gã nghiện thuốc phiện”, “đã thanh niên rồi mà cánh chỉ ngắn củn đến
giữa lưng hở cả mạng sườn như người cởi trần mặc áo gi-lê”.
- Ví dụ: Khi dạy học sinh về ca dao, dân ca:
Giáo viên cần giúp học sinh phát hiện và hiểu được giá trị tạo hình, giá trị biểu
cảm của một số biện pháp tu từ để từ đó nắm được nội dung của những câu, bài ca
dao. Vì thơ ca trữ tình dân gian là nơi bộc lộ rõ nhất tâm hồn dân tộc. Ý nghĩa cơ bản
của thơ ca trữ tình dân gian là biểu đạt những tư tưởng, tình cảm và cảm xúc của
nhân dân. Những tư tưởng, tình cảm và cảm xúc ấy được chuyển tải thông qua những
hình ảnh giàu giá trị tạo hình và qua một thế giới nghệ thuật lung linh sắc màu. Một
trong những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc của ca dao là ẩn dụ và so sánh.
- So sánh:
+ So sánh giúp ta nhận thức sâu sắc hơn phương tiện nào đó của sự vật, hiện
tượng. Nhờ so sánh mà các khái niệm, đặc điểm, thuộc tính trừu tượng trở nên rõ
ràng, dễ hiểu.
Ví dụ 3:

Thân em như trái bần trôi,
Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu.

Thân phận con người là khái niệm trừu tượng được cụ thể hoá bởi hình
ảnh trái bần trôi. Hình ảnh so sánh giúp cho việc thể hiện rõ thân phận trôi nổi, bất
lực của người phụ nữ trong xã hội xưa.
+ So sánh là biện pháp tạo hình giúp cho bài ca dao tăng tính chất tượng hình
nghệ thuật
Ví dụ 4:

Đường vô xứ Huế quanh quanh,
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.
Ai vô xứ Huế thì vô…


Ở đây trong nghĩa hiển ngôn ta tiếp nhận được đặc điểm và suy ra mối quan hệ
giữa gạo tám xoan, nồi đồng (những thứ đáng giá) với nước cà (là thứ vô giá trị) là
mối quan hệ khập khiễng không tương xứng, từ nhận thức về mối quan hệ giữa các
sự vật ấy giúp người tiếp nhận liên tưởng về những sự khập khiễng trong cuộc đời, về
những sự vô tâm, vô tình, hờ hững của những mối quan hệ giữa con người.
Như vậy rõ ràng ẩn dụ đã tạo ra một lối tư duy mới cả về phương diện miêu tả
sự vật cụ thể lẫn những khái niệm trừu tượng, không định hình, khó đong đếm.
+ Ý nghĩa thẩm mỹ: Biện pháp ẩn dụ giúp cho tác giả dân gian diễn tả được
những điều thầm kín, thậm chí những điều khó nói nhất, khó diễn đạt nhất bằng
những hình tượng nghệ thuật vừa khái quát vừa giàu chất thơ.
Ví dụ 7:

Quả đào tiên ruột mất vỏ còn
Buông lời hỏi bạn, lối mòn ai đi.

Quả đào tiên là loại quả quý nhưng cái quý nhất là ruột thì lại mất rồi, chỉ còn
lại cái vỏ mà thôi. Ngụ ý bài ca dao này nói về một cô gái không còn giữ được phẩm
chất, nhân cách. Vậy thiết nghĩ ít có cách diễn đạt nào tế nhị, bóng bẩy và hay như
thế.
+ Ý nghĩa biểu cảm: Trong đặc điểm của loại hình nghệ thuật sáng tác theo
phương thức trữ tình, cái đọng lại trong lòng người tiếp nhận không chỉ ở chỗ sự vật
ấy được phản ánh ra sao mà quan trọng là tình cảm, trạng thái tâm hồn của con người
thể hiện như thế nào qua cách phản ánh ấy.
Trong thơ ca trữ tình dân gian, tính chất trữ tình đặc biệt được thể hiện qua các
thán từ “trách ai”, “tiếc thay”...
Ví dụ 8:

Tiếc thay hạt gạo trắng ngần
Đã vo nước đục lại vần than rơm.


xuân như nói với em về một tình yêu đời tha thiết. Ôi ! Mùa xuân, mùa xuân đẹp quá
đi thôi !
Bài tập 3: Dựa theo bài Vượt thác, hãy viết một đoạn văn ngắn tả dượng
Hương Thư đưa thuyền vượt qua thác dữ.
Gợi ý: Nước từ trên cao phóng giữa hai vách đá dựng đứng như một bàn tay
khổng lồ muốn đẩy thuyền lùi lại. Dượng Hương Thư đánh trần đứng sau lái co
người phóng sào chống trả với sức nước để đưa thuyền tiến lên. Trông dượng
Hương Thư không kém gì một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ: các bắp thịt
cuồn cuộn, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa, ghì trên ngọn
sào. Đến chiều tối, thuyền đã vượt qua thác Cổ Cò. Mọi người trên thuyền đều thở
phào nhẹ nhõm. Ai nấy lại bình thản như chưa có chuyện gì xảy ra.
Bài tập 4: Viết một bài văn miêu tả cảnh sân trường giờ ra chơi.
Gợi ý: Tiếng trống giờ ra chơi đã vang lên bên tai mỗi học sinh. Từ các lớp,
học sinh ùa ra như những chú chim non, tò mò muốn bước ra ngoài không gian.
Nắng đuổi bắt chùm lộc non xanh mơn mởn, rồi đứng lại bên những cành phượng vĩ
đỏ rực đang khoe sắc.
Dưới gốc cây đa già sừng sững, các bạn gái rủ nhau chơi nhảy dây. Những đôi
chân xinh xắn ấy, cùng bạn nhảy dây từng bước uyển chuyển. Bạn nào bạn nấy cũng
cố gắng nhảy thật nhịp nhàng, để đáp lại sự cổ vũ nhiệt tình của các bạn xung
quanh. Ngỡ rằng, đây chính là những thiên thần bé nhỏ, đang chơi đùa trong khung
13


cảnh ngây thơ, trong sáng của tuổi học trò. Gần đó là trò chơi đá cầu cũng lí thú
không kém. Quả cầu nhiều màu sắc như bảy màu tinh tú của cầu vồng. Nó được đôi
chân khoẻ khoắn, nhanh nhẹn của các bạn nam làm cho có sức sống. Chẳng có thể
nhìn thấy quả cầu xinh xinh đâu nữa, mà chỉ thấy đôi chân nhanh nhẹn thoắt lên,
thoắt xuống của các bạn. Mấy bạn đứng xem, người thì chăm chú nhìn quả cầu tung
lên hạ xuống, người thì trổ tài dự đoán xem bàn chân nào khéo nhất. Cuối cùng, bạn
Nam lớp tôi cũng giành chiến thắng bởi những cú đá hiểm hóc. Thật sung sướng!

Đôi mắt em liếc....................dao cau
Miệng cười.....................hoa ngâu
Cái khăn đội đầu.....................hoa sen.
Ghi chú: Trong mục 2.3.2 phần c Ví dụ được tham khảo từ TLTK số 3

14


Câu 3: Hình ảnh nào sau đây trong bài thơ Mưa của Trần Đăng Khoa không
phải là hình ảnh nhân hóa:
a) Cây dừa sải tay bơi
b) Cỏ gà rung tai nghe
c) Bố em đi cày về
d) Kiến hành quân đầy đường
Câu 4: Hãy tìm hai ví dụ về biện pháp tu từ ẩn dụ và biện pháp tu từ hoán dụ.
Câu 5: Trong câu thơ sau tác giả Trần Đăng Khoa đã sử dụng kiểu ẩn dụ nào?
Gọi tên kiểu ẩn dụ đó?
Ngoài thềm rơi chiếc lá đa
Tiếng rơi nghe mỏng như là rơi nghiêng.
Câu 6: Chỉ ra các biện pháp tu từ trong các ví dụ sau:
a. Thân em như trái bần trôi,
Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu.
b. Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau viết nói gì hôm nay…
c. Trâu ơi, ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta.
d. Bác đã đi rồi sao, Bác ơi!
Mùa thu đang đẹp, nắng xanh trời.
2.4. Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục và bản thân,đồng
nghiệp và nhà trường.

tu từ

15


20162017

6

65

50 (76,9%)

11 (16,9%)

04 (6,2%)

3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận chung
Có thể nói rằng môn Ngữ văn trong nhà trường đóng vai trò vô cùng quan
trọng. Đó là môn học vừa hình thành nhân cách vừa bồi đắp tâm hồn cho học sinh.
Trong thời đại hiện nay, khoa học kĩ thuật phát triển rất nhanh, môn Ngữ văn sẽ đem
lại trong tâm hồn con người, giữ lại những cảm giác nhân văn để con người tìm đến
với con người, tìm đến cái đẹp, để trái tim hòa cùng nhịp đập trái tim. Được sự quan
tâm của Đảng và Nhà nước đối với ngành Giáo dục, cùng với sự say mê và tình yêu
nghề, sự sáng tạo của các thầy cô, tôi tin tưởng rằng kết quả học Ngữ văn của các em
sẽ tốt hơn, các em sẽ yêu thích, ham mê môn Ngữ văn hơn nữa.
2. Một số đề xuất, kiến nghị
- Đối với phụ huynh: Quan tâm hơn nữa đến việc học hành của con em mình
như tạo điều kiện về thời gian cho con học tập, vui chơi thích hợp.

1. Sách giáo khoa và sách giáo viên Ngữ văn 6,7,8 - Nguyễn Khắc Phi - Nhà
xuất bản Giáo dục, năm 2014
2. Hệ thống câu hỏi Ngữ văn – Tác giả Trần Đình Sử - Nhà xuất bản Giáo dục,
năm 2012
3. Bồi dưỡng thường xuyên chu kì 2013- 2014;
4. Thiết kế bài giảng Ngữ văn theo hướng tích hợp - Hoàng Hữu Bội - Nhà
xuất bản Giáo dục, năm 2010

17


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP
PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN

Họ và tên tác giả: Khúc Thị Thu
Chức vụ và đơn vị công tác: Trường THCS Lam Sơn

TT

1.

Tên đề tài SKKN

Cấp đánh giá
xếp loại
(Phòng, Sở,
Tỉnh...)

Kết quả

học tập môn Ngữ văn của học
sinh lớp 7 trường THCS Lam
Sơn bằng cách dạy học theo
hướng tích cực thông qua bài thơ
"Tiếng gà trưa" của Xuân Quỳnh

*
----------------------------------------------------

18


SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGỌC LẶC
TRƯỜNG THCS LAM SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÊN ĐỀ TÀI
Hướng dẫn học sinh nắm được đặc điểm và giá trị biểu cảm
của một số biện pháp tu từ trong chương trình ngữ văn lớp 6 THCS

Người thực hiện: Khúc Thị Thu
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Lam Sơn
SKKN thuộc lĩnh vực môn: Ngữ văn

THANH HÓA NĂM 2017


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status