ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRỊNH THỊ NGÂN HÀ
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG TRÕ CHƠI VÀO DẠY HỌC TỪ LOẠI
TRONG CHƢƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 6
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRỊNH THỊ NGÂN HÀ
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG TRÕ CHƠI VÀO DẠY HỌC TỪ LOẠI
TRONG CHƢƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 6
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 8140111
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ BAN
HÀ NỘI - 2017
DT
Danh từ
3
ĐT
Động từ
4
GV
Giáo viên
5
HS
Học sinh
6
LT
Lƣợng từ
7
TT
Tính từ
ii
Mục lục
Lời cảm ơn .................................................................................................................. i
Mục lục ..................................................................................................................... iii
Danh mục biểu đồ....................................................................................................vii
Danh mục hình vẽ.................................................................................................. viii
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu ...................................................................................... 3
2.1. Ở nƣớc ngoài ........................................................................................................3
2.2. Ở trong nƣớc ........................................................................................................5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................................... 6
3.1. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................6
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ...........................................................................................6
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................... 6
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu...........................................................................................6
4.2. Phạm vi nghiên cứu ..............................................................................................6
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ......................................................................................... 7
6. Cấu trúc luận văn .................................................................................................... 7
CHƢƠNG 1................................................................................................................ 9
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI ......................................................................... 9
1.1. Khái quát về trò chơi và trò chơi dạy học ............................................................ 9
1.1.1. Trò chơi ............................................................................................................9
1.1.2. Trò chơi dạy học .............................................................................................14
2.2.3. Trò chơi thực hành - ứng dụng........................................................................57
2.3. Sử dụng hệ thống trò chơi trong quá trình dạy học ............................................ 63
2.4. Một số lƣu ý khi sử dụng trò chơi vào dạy học ................................................. 76
2.4.1. Một số lƣu ý khi thiết kế giáo án.....................................................................76
2.4.2. Một số lƣu ý khi tổ chức trò chơi ....................................................................78
2.4.3. Một số lƣu ý khác ............................................................................................79
CHƢƠNG 3.............................................................................................................. 81
THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ................................................................................. 81
3.1. Mục đích thực nghiệm ....................................................................................... 81
3.2. Đối tƣợng, nội dung, thời gian thực nghiệm ...................................................... 81
3.3. Phƣơng pháp thực nghiệm ................................................................................. 81
3.4. Thiết kế thực nghiệm sƣ phạm ........................................................................... 81
3.5. Giáo án dạy thực nghiệm ................................................................................... 83
iv
3.6. Kết quả thực nghiệm ........................................................................................ 100
3.7. Kết quả tổng hợp phiếu tham khảo ý kiến giáo viên và học sinh .................... 102
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 109
PHỤ LỤC ............................................................................................................... 111
v
Danh mục bảng
Bảng 1.1. Số lƣợng giáo viên thiết kế trò chơi trong các bài từ loại Tiếng Việt lớp 6
...................................................................................................................................38
Bảng 1.2. Số lƣợng GV sử dụng trò chơi trong các hoạt động của tiết học từ loại .39
Biểu đồ 1.6. Mức độ hào hứng, nhiệt tình tham gia trò chơi của học sinh ...............47
Biểu đồ 1.7. Độ khó của trò chơi dạy học đƣợc giáo viên sử dụng ..........................49
Biểu đồ 3.1. Kết quả xếp loại bài kiểm tra trƣớc thực nghiệm của học sinh ..........101
Biểu đồ 3.2. Kết quả xếp loại bài kiểm tra sau thực nghiệm của học sinh .............102
Biểu đồ 3.3. Mức độ tích cực chủ động học tập của học sinh ................................104
Biểu đồ 3.4. Số lƣợng học sinh yêu thích môn Tiếng Việt – Ngữ Văn ..................106
vii
Danh mục hình vẽ
Hình 1.1. Phân loại danh từ ......................................................................................36
Hình 1.2. Phân loại động từ ......................................................................................37
Hình 1.3. Phân loại phó từ ........................................................................................38
Hình 2.1. Hệ thống trò chơi dạy học từ loại tiếng Việt lớp 6 ..................................52
viii
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới đang chuyển mình qua cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0 với sự thay
đổi lớn lao, toàn diện không chỉ về kinh tế mà cả văn hóa xã hội. Thời kì của trí
thông minh nhân tạo, của vạn vật kết nối, của sự xóa nhòa khoảng cách không gian
đang chứng kiến những sự thay đổi nhƣ vũ bão của mọi ngành nghề. Theo đó, con
ngƣời của thời đại mới cũng phải luôn học hỏi, tu dƣỡng, tự rèn luyện mình để đáp
ứng đƣợc yêu cầu của thời đại. Giáo dục hiện đại là nhân tố quan trọng nhất trong
việc phát triển con ngƣời phù hợp với thời đại. Tuy nhiên, ở Việt Nam một số
phƣơng pháp và quan niệm giáo dục lỗi thời bắt rễ sâu từ thời phong kiến vẫn còn
tồn tại. Ngay cả khi giáo viên nhận ra rằng việc truyền thụ tri thức bằng thông báo
học sinh bị hạn chế. Thay đổi điều này, không có cách nào khác là chúng ta phải đổi
mới phƣơng pháp dạy học. Và đổi mới phƣơng pháp dạy học chính là nhiệm vụ
trọng tâm của giáo dục hiện nay nhằm phát huy tối đa tính tích cực chủ động và
sáng tạo của học sinh. Một trong số những biện pháp rất hiệu quả để đạt đƣợc mục
đích trên là sử dụng trò chơi trong dạy học.
Học sinh lớp 6 là lứa học sinh vừa mới rời ghế trƣờng tiểu học với phƣơng
pháp học tập gắn liền với những hoạt động vui chơi theo tiêu chí: Học mà chơi, chơi
mà học, biết mà học không bằng vui mà học. Bƣớc vào cấp học mới với sự thay đổi
môi trƣờng học tập, phƣơng pháp học tập, các em không khỏi bỡ ngỡ, việc giúp các
em thích nghi dần dần là điều vô cùng quan trọng. Dạy học sử dụng trò chơi giúp
cho các em có thêm niềm hứng thú, say mê, có thêm động lực học Tiếng Việt nói
riêng, môn Văn cũng nhƣ các môn khoa học xã hội khác nói chung; tạo nền tảng
kiến thức và hứng thú học tập cho các em ở những năm học tiếp theo. Theo tác giả
Ngô Thu Cúc, có rất nhiều cách để tạo đƣợc tính tích cực, hứng thú học tập cho học
sinh nhƣ: Làm cho học sinh nhận thức đƣợc mục tiêu, lợi ích của bài học; tác động
vào nội dung dạy học; phối hợp các phƣơng pháp và các hình thức dạy học linh hoạt
(tổ chức trò chơi học tập, tổ chức hoạt động học theo nhóm, tổ chức dạy học ngoài
trời…); xây dựng môi trƣờng thân thiện giữa thầy và trò, trò và trò.[1.tr.62]
Bản thân là một giáo viên mới vào nghề, dù kinh nghiệm giảng dạy còn hạn
chế song tôi luôn mong muốn làm thế nào để học sinh của mình năng động sáng
tạo, hứng thú hơn trong học tập, giờ học bớt căng thẳng, bớt áp lực, làm sao cho các
em có cảm giác mỗi ngày đến trƣờng là một ngày vui. Chúng tôi luôn cố gắng
nghiên cứu tìm tòi và áp dụng những phƣơng pháp dạy học nhằm phát huy năng lực
2
của học sinh. Phƣơng pháp sử dụng trò chơi học tập đã đƣợc chúng tôi tìm hiểu, áp
dụng trong thực tế dạy - học Tiếng Việt của mình và bƣớc đầu mang lại hiệu quả rất
tốt. Tuy nhiên, chúng tôi mong muốn xây dựng một hệ thống trò chơi trong dạy học
cho rằng, nhà giáo dục chỉ cần phát triển cái vốn có sẵn của trẻ, ông đề cao vai trò
giáo dục của trò chơi trong quá trình phát triển thể chất, làm vốn ngôn ngữ cũng
nhƣ phát triển tƣ duy, trí tƣởng tƣợng của trẻ. I.B.Bazedov cho rằng, trò chơi là
phƣơng tiện dạy học. Theo ông, nếu trong tiết học, giáo viên sử dụng các phƣơng
pháp, biện pháp chơi hoặc tiến hành tiết học dƣới hình thức chơi thì sẽ đáp ứng
đƣợc nhu cầu và phù hợp với đặc điểm của ngƣời học và tất nhiên hiệu quả tiết học
sẽ cao hơn. Ông đã đƣa ra hệ thống trò chơi học tập dùng lời nhƣ: trò chơi gọi tên,
trò chơi phát triển kỹ năng khái quát tên gọi của cá thể, trò chơi đoán từ trái nghĩa,
điền những từ còn thiếu ... Theo ông, những trò chơi này mang lại cho ngƣời học
niềm vui và phát triển năng lực trí tuệ của chúng. Vào những năm 30-60 của thế kỷ
XX, vấn đề sử dụng trò chơi dạy học đƣợc thể trình bày trong công trình của
R.I.Giucovxkaia, VR.Bexpalova, E.I.Udalsova ... R.I.Giucovxkaia đã nâng cao vị
thế của dạy học bằng trò chơi. Bà chỉ ra những tiềm năng và lợi thế của những tiết
học có sử dụng trò chơi học tập, coi trò chơi học tập nhƣ là hình thức dạy học quan
trọng, giúp ngƣời học lĩnh hội những tri thức mới từ những ý tƣởng đó. Bà bà đã
soạn thảo ra một số tiết học và trò chơi đồng thời đƣa ra một số yêu cầu khi xây
dựng chúng. Bên cạnh đó, tính tích cực cũng đƣợc các nhà khoa học nhƣ
B.P.Exipov, A.M.Machiuskin (Liênxô); Okon (Balan), Skinner, Bruner (Mỹ),
Xavier, Roegiers (Pháp)... nghiên cứu theo các khía cạnh khác nhau. Thứ nhất,
nghiên cứu và xem xét tính tích cực nhận thức của ngƣời học trong mối quan hệ
giữa nhận thức và tình cảm, ý chí (A.I.Serbacov, I.F.Kharlamov, R.A.Nhidamov,
V.Okon ...). Hƣớng nghiên cứu này đã bổ trợ rất nhiều cho các nhà giáo dục trong
việc tìm kiếm những con đƣờng và điều kiện cần thiết nhằm phát huy tính tích cực
nhận thức của ngƣời học. Thứ hai, nghiên cứu về bản chất và cấu trúc của tính tích
cực nhận thức của ngƣời lớn và trẻ em, trong đó đặc biệt lƣu ý tới vai trò chủ động
và chủ thể trong quá trình nhận thức (B.P.Êxipop, LP.Anstova, Xavier Roegiers,
Jean-Marc Denomme, Madedine Roy...). Các tác giả này coi tính tích cực nhận thức
là thái độ của chủ thể nhận thức đối với đối tƣợng nhận thức thông qua việc huy
động các chức năng tâm lý ở mức độ cao nhằm giải quyết những vấn đề nhận thức.
dừng lại ở phạm vi nghiên cứu chủ yếu là trẻ mẫu giáo, tiểu học.
Tóm lại, điểm qua các kết quả nghiên cứu trên cho thấy từ trƣớc đến nay,
chúng tôi thấy tuy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về trò chơi dạy học nhƣng
chƣa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào việc thiết kế và sử dụng trò chơi
dạy học nhằm bổ trợ cho việc dạy học từ loại Tiếng Việt lớp 6.
5
Những công trình nghiên cứu nêu trên là cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài:
“Thiết kế và sử dụng trò chơi vào dạy học từ loại trong chương trình Ngữ Văn lớp
6”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn của việc sử dụng trò chơi trong dạy
học, luận văn đề xuất hệ thống trò chơi nhằm bổ trợ cho việc dạy học từ loại trong
chƣơng trình Ngữ văn lớp 6 và cách thức sử dụng những trò chơi đó vào dạy học
nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh góp phần nâng cao chất lƣợng dạy học từ
loại tiếng Việt trong chƣơng trình Ngữ Văn lớp 6 nói riêng, dạy học tiếng Việt nói
chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nhƣ: hứng thú học
tập của học sinh, trò chơi trong dạy học và tác dụng của việc sử dụng trò chơi trong
dạy học.
- Khảo sát thực trạng sử dụng trò chơi trong dạy học Từ loại (Ngữ Văn 6).
- Đề xuất hệ thống trò chơi và cách thức sử dụng những trò chơi trong hệ
thống đó vào dạy học Từ loại (Ngữ Văn 6).
- Thực nghiệm sử dụng hệ thống trò chơi vào dạy học Từ loại (Ngữ Văn 6)
để đánh giá tính khả thi của những đề xuất trong luận văn.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Phương pháp thực nghiệm: Chủ động tác động vào đối tƣợng và quá trình
diễn biến sự kiện mà đối tƣợng tham gia để hƣớng sự phát triển của chúng theo mục
tiêu dự kiến của mình.
Phương pháp thống kê toán học: Thống kê toán học các tiêu chí đánh giá
sau thực nghiệm phục vụ cho việc phân tích đánh giá trong quá trình nghiên cứu.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính
của luận văn gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở khoa học của đề tài. Trong chƣơng này, chúng tôi trình bày
những cơ sở lý luận của việc thiết kế và sử dụng trò chơi vào dạy học Từ loại trong
7
môn Ngữ Văn 6; đƣa ra những cơ sở thực tiễn của nội dung phần từ loại tiếng Việt
trong chƣơng trình Ngữ Văn 6 và việc thiết kế, sử dụng trò chơi vào dạy học Từ
loại trong môn Ngữ Văn 6.
Chƣơng 2: Xây dựng hệ thống trò chơi và cách thức sử dụng hệ thống trò
chơi vào dạy học từ loại trong chƣơng trình Ngữ Văn 6. Nội dung chính của chƣơng
là hệ thống trò chơi và cách thức sử dụng trò chơi vào dạy học Từ loại trong môn
Ngữ Văn 6.
Chƣơng 3: Thực nghiệm. Ở chƣơng này, chúng tôi trình bày thực nghiệm sƣ
phạm áp dụng hệ thống trò chơi đề xuất vào sáu bài từ loại cụ thể trong chƣơng
trình Ngữ Văn 6 là Danh Từ, Động Từ, Tính từ, Chỉ từ, Số từ và Lƣợng từ, Phó từ.
Phần kết luận: Đƣa ra những ý kiến tổng hợp của tác giả sau khi thực hiện
nghiên cứu việc xây dựng và sử dụng trò chơi trong dạy học từ loại Tiếng Việt môn
Ngữ Văn 6.
8
Chơi mà đƣợc việc, đƣợc việc mà vẫn thoải mái nhƣ chơi.
9
Chơi và hoạt động chơi bắt đầu từ đời sống trẻ thơ, với bản chất sinh học và
tâm lý tự nhiên của nó. Trong khi đó trò chơi lại có nguồn gốc xã hội, có bản chất
lao động và sinh hoạt và bắt đầu từ ngƣời lớn. Các trò chơi nói chung đều do ngƣời
lớn chứ không phải do các cháu bé bày ra. Tuy vậy ngƣời lớn bày ra trò chơi lại nhờ
căn cứ vào hiện tƣợng chơi và hoạt động chơi của trẻ em. Tóm lại, chơi là kiểu hành
vi hoặc hoạt động tự nhiên, tự nguyện, có động cơ thúc đẩy là những yếu tố bên
trong quá trình chơi và chủ thể không nhất thiết theo đuổi những mục tiêu và lợi ích
thực dụng một cách tự giác trong quá trình đó. Bản thân quá trình chơi có sức cuốn
hút tự thân và các yếu tố tâm lý của con ngƣời trong khi chơi nói chung mang tính
chất vui đùa, ngẫu hứng, tự do, cởi mở, thƣ giãn; có khuynh hƣớng thể nghiệm
những tâm trạng hoặc tạo ra sự khuây khỏa cho mình.
Hoạt động chơi là hình thái đặc biệt của sự chơi, chỉ có ở ngƣời. Quá trình
chơi diễn ra ở hai cấp độ: Cấp độ hành vi và cấp độ hoạt động. Bản chất của sự chơi
ở động vật và ở một số hình thức chơi ở ngƣời (nhất là ở trẻ nhỏ) là hành vi có tính
tự nhiên, giống nhƣ nhiều dạng vận động thông thƣờng khác trong sinh hoạt và đời
sống. Với tƣ cách là hoạt động, sự chơi diễn ra theo nhu cầu của chủ thể, đƣợc điều
khiển bởi động cơ bên trong quá trình chơi. Yếu tố động cơ là căn cứ phân biệt rõ
hoạt động chơi với những dạng hoạt động khác. Hoạt động chơi là dạng chơi có ý
thức, có nội dung văn hóa - xã hội, dựa trên các chức năng tâm lý cấp cao và chỉ có
ở ngƣời, không có ở động vật. Sự phân loại hoạt động dựa vào phân biệt các động
cơ của chúng có thể giúp chúng ta giải thích rõ hơn bản chất của hoạt động chơi.
Động cơ chơi khác những động cơ khác ở một số điểm chủ yếu sau: Động cơ của
hành động chơi nằm trong hành động và quá trình thực hiện hành động và nó biến
mất khi hoạt động chơi kết thúc, hoặc nó chuyển thành động cơ có nội dung khác.
Hiện tƣợng này thƣờng xảy ra trong các quan hệ giữa chơi và học, giữa chơi và làm,
trƣờng hợp của chơi, nhƣng đây là dạng chơi ở ngƣời, có ý thức; có động cơ xã hội
và văn hóa; có nội dung nhận thức, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ. Hoạt động chơi
đƣơng nhiên là chơi, nhƣng không phải mọi hiện tƣợng chơi nào cũng là hoạt động
chơi. Có nhiều hiện tƣợng chơi chỉ là hành vi hay động thái biểu hiện những khả
năng và nhu cầu bản năng của cá thể sinh vật hoặc ngƣời.
b) Khái niệm trò chơi
Theo tác giả Đặng Thành Hƣng [6.tr.254], trò chơi là thuật ngữ có hai nghĩa
khác nhau tƣơng đối xa: (1) Một kiểu loại phổ biến của chơi chính là chơi có luật
(tập hợp quy tắc định rõ mục đích, kết quả và yêu cầu hành động) và có tính cạnh
tranh hoặc tính thách thức đối với ngƣời tham gia; (2) Những thứ công việc đƣợc tổ
chức và tiến hành dƣới hình thức chơi, nhƣ chơi, bằng chơi, chẳng hạn: học bằng
11
chơi, giao tiếp bằng chơi, rèn luyện thân thể dƣới hình thức chơi… Trò chơi nói
chung và Trò chơi giáo dục nói riêng hoàn toàn có bản chất xã hội, mang nội dung
và giá trị xã hội. Nói đến trò chơi nào cũng vậy, đều là nói đến luật lệ, quy tắc,
nhiệm vụ, yêu cầu, tức là có tổ chức và thiết kế. Nếu không có những thứ đó, thì
không có trò chơi, mà chỉ có sự chơi đơn giản. Một số nhà Tâm lý - Giáo dục học
theo trƣờng phái Sinh học nhƣ K.Gross, S.Hall, V.Stern ... cho rằng trò chơi là do
bản năng quy định, chơi chính là sự giải tỏa năng lƣợng dƣ thừa. Còn G.Piagie cho
rằng, trò chơi là hoạt động trí tuệ thuần túy, là một nhân tố quan trọng đối với sự
phát triển trí tuệ. Trên quan điểm macxit, các nhà khoa học Xô Viết đã khẳng định
trò chơi có nguồn gốc từ lao động và mang bản chất xã hội, đƣợc truyền thụ từ thế
hệ này sang thế hệ khác chủ yếu bằng con đƣờng giáo dục.
Nhƣ vậy, trò chơi là tập hợp các yếu tố chơi, có hệ thống và có tổ chức, vì
thế luật hay quy tắc chính là phƣơng tiện tổ chức tập hợp đó. Tóm lại, trò chơi chính
là sự chơi có luật, những hành vi chơi tùy tiện, bất giác không gọi là trò chơi.
c) Nguyên tắc chung để phân loại trò chơi
trƣờng hợp ngƣợc lại, trò chơi gồm các luật lệ, quy tắc phóng tác và những mục
đích, cách đặt giải thƣởng có tính rất sáng tạo.
Cách tiếp cận lịch sử: (1) Những trò chơi dân gian, có tính truyền thống. Đó
là những trò chơi thƣờng đi kèm với lễ hội, liên hoan và sinh hoạt cộng đồng truyền
thống nhƣ múa lân, chơi cầu mây, thi nấu cơm trên thuyền, chơi trốn tìm, thi vật
v.v... Chúng thƣờng có hình thức đặc trƣng của văn hoá dân tộc và có nội dung
nghiêng về giải trí, tiêu khiển, thƣ giãn, vui vẻ, bồi dƣỡng đời sống tinh thần của
con ngƣời. (2) Những trò chơi hiện đại, có tính chất công nghiệp và văn minh. Đó là
những trò chơi đƣợc thiết kế và tổ chức theo phong cách hiện đại, có sự tham gia
của các yếu tố công nghệ, nghệ thuật, sƣ phạm, tâm lý và các khoa học khác; với
nội dung phản ánh các hoạt động, quan hệ, quá trình và tình huống xã hội hiện đại.
Ví dụ: Trò chơi xây dựng hay lắp ráp các cấu kiện, mô hình kỹ thuật; trò chơi điện
tử nhƣ lái xe, bắn súng, các môn thi đấu thể thao mới xuất hiện....Chúng thƣờng phổ
biến ở nhiều nền văn hoá khác nhau và có nội dung nghiêng về phản ánh hiện thực
đƣơng đại.
Cách tiếp cận tâm lý: (1) Những trò chơi thi đấu, có tính chất tranh đua để
giành thành tích tốt nhất hoặc vƣợt qua thử thách một cách xuất sắc nhất. Đó là
những trò chơi có tập hợp quy tắc, luật lệ chặt chẽ nhằm định rõ mục đích, kết quả,
hoặc yêu cầu về thành tích phải vƣợt qua, buộc những ngƣời tham gia phải nỗ lực
ganh đua với nhau để giành thành tích cao nhất. (2) Những trò chơi không thi đấu,
không có tính chất thi thố, tranh đua. Đó là những trò chơi chỉ có mục đích thắng
13
đối thủ, loại đối thủ khỏi cuộc chơi hoặc thắng chính trò chơi, có tính chất "không
nhất thì bét", không thắng thì thua mà không có quá trình đánh giá, xem xét và xếp
hạng thành tích. Chẳng hạn các trò đánh cờ vây đôi, đánh cờ với máy tính điện tử,
chọi gà, chơi quyền anh, giải các bài toán vui hay lắp ghép các mô hình kỹ thuật...là
những trò chơi không thi đấu.
những đặc trƣng ấy, đƣợc gọi là trò chơi giáo dục, cho dù chúng đƣợc sử dụng trong
hay ngoài nhà trƣờng, trong hay ngoài ngành giáo dục. Chức năng cải thiện tri thức,
kỹ năng hoặc những đặc điểm tâm sinh lý của ngƣời tham gia của trò chơi giáo dục
cũng chính là tiêu chuẩn để lựa chọn trò chơi, đồ chơi thích hợp với độ tuổi và đặc
điểm cá nhân của trẻ. Nói cách khác, không có trò chơi cụ thể nào luôn luôn là trò
chơi giáo dục đối với mọi đứa trẻ và ở mọi giai đoạn lứa tuổi. Những trò chơi không
phải là trò chơi giáo dục đa số là những trò chơi dân gian hay cổ truyền, đó là những
kiểu chơi bài dựa vào may rủi, rút thăm, chơi xúc xắc, chơi đố theo lối đoán mò….
Trong xã hội hiện đại, gần nhƣ mọi trò chơi đƣợc sáng tạo ra đều có chức năng giáo
dục, ít hay nhiều đều có thể đƣợc sử dụng vào mục đích giáo dục. Vấn đề là đánh
giá và lựa chọn chúng nhƣ thế nào để sử dụng có hiệu quả cao nhất, đúng mục đích
nhất.
Trò chơi dạy học là trò chơi giáo dục đƣợc lựa chọn và sử dụng trực tiếp để
dạy học, tuân theo mục đích, nội dung, các nguyên tắc và phƣơng pháp dạy học, có
chức năng tổ chức, hƣớng dẫn và động viên trẻ hay học sinh tìm kiếm và lĩnh hội tri
thức, học tập và rèn luyện kỹ năng, tích luỹ và phát triển các phƣơng thức hoạt động
và hành vi ứng xử xã hội, văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ, pháp luật, khoa học, ngôn
ngữ…; cải thiện và phát triển thể chất. Tức là tổ chức và hƣớng dẫn quá trình học
tập của học sinh khi các em tham gia trò chơi gọi là tổ chức trò chơi dạy học. Các
nhiệm vụ, quy tắc, luật chơi và các quan hệ trong trò chơi dạy học đƣợc tổ chức
tƣơng đối chặt chẽ trong khuôn khổ các nhiệm vụ dạy học và đƣợc định hƣớng vào
mục tiêu, nội dung học tập.
Trò chơi dạy học đƣợc sáng tạo ra và đƣợc sử dụng bởi các nhà giáo và
ngƣời lớn dựa trên những khuyến nghị của lý luận dạy học, đặc biệt là của lý luận
dạy học các môn học cụ thể. Chúng phản ánh lý thuyết, ý tƣởng và mục tiêu của nhà
giáo, là một trong những hoạt động giáo dục không tuân theo bài bản cứng nhắc
nhƣ những giờ học. Do đó, cách gọi tên trƣớc đây là trò chơi học tập thật ra chƣa
chính xác, bởi vì học sinh không xây dựng và thiết kế chúng, ý tƣởng và mục tiêu
của trò chơi không phải do học sinh đề ra, học sinh cũng không tiến hành trò chơi
mà là tham gia trò chơi. Đó là một loại hoạt động giáo dục do giáo viên tiến hành để