Thiết kế và sử dụng trò chơi vận động mô phỏng nhằm kích thích hứng thú nhận thức cho trẻ mẫu giáo 34 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học - Pdf 34

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc
dân có nhiệm vụ đặt nền móng cơ sở cho việc hình thành và phát triển nhân
cách toàn diện con người mới Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thời kì đổi mới,
công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước và xu hướng phát triển của thời đại.
Có thể nói rằng, những gì trẻ tiếp thu, lĩnh hội được từ thuở ấu thơ đã ảnh
hưởng không nhỏ đến toàn bộ quá trình phát triển trí tuệ nói riêng và nhân
cách sau này của mỗi cá nhân nói chung. Vì vậy trong những năm qua ngành
học Mầm non đã có nhiều đổi mới trong quá trình tổ chức chăm sóc giáo dục
trẻ. Các nội dung giáo dục được tổ chức dưới hình thức các hoạt động phong
phú. Nhưng để các hoạt động này tạo được kết quả như mong nuốn thì một
trong những yêu cầu quan trọng đối với các nhà giáo dục là phải tạo được
hứng thú, đặc biệt là hứng thú nhận thức cho trẻ trong quá trình hoạt động. Vì
hứng thú nhận thức có thể làm tăng hiệu quả của các quá trình nhận thức, làm
tăng khả năng hoạt động, làm nảy sinh khát vọng hành động và hành động
sáng tạo của trẻ. Nhờ hứng thú nhận thức mà trẻ tiến hành hoạt động nhận
thức một cách tự giác, tích cực, và đạt hiệu quả cao hơn. Khi có hứng thú
nhận thức thì hoạt động học tập của trẻ trở nên nhẹ nhàng, sinh động hơn, trẻ
thực hiện các nhiệm vụ học tập tốt hơn và tích cực tìm tòi, sáng tạo hơn trong
quá trình hoạt động. Việc hình thành hứng thú nhận thức có thể tiến hành qua
các hoạt động đa dạng ở trường mầm non như hoạt động vui chơi, hoạt động
âm nhạc, hoạt động tạo hình... Trong đó có hoạt động Khám phá khoa học.
Hoạt động Khám phá khoa học (KPKH) là một trong những hoạt động
quan trọng của trẻ ở trường mầm non. Hoạt động này góp phần tích cực vào
việc phát triển toàn diện các mặt của nhân cách như trí tuệ, tình cảm, đạo đức,
thẩm mỹ, thể chất. Để phát huy tối đa tác dụng giáo dục của hoạt động này thì
trong quá trình tổ chức hoạt động KPKH, nhà giáo dục phải sử dụng những
1





động này, trẻ chỉ hứng thú khi đối tượng “làm quen” xuất hiện, sau đó hứng
thú giảm dần vì sự áp đặt, nhồi nhét kiến thức thông qua hệ thống câu hỏi
nặng nề, khô khan của giáo viên. Chính sự cứng nhắc, thiếu linh hoạt của giáo
viên khi sử dụng các biện pháp trong quá trình tổ chức hoạt động KPKH đã
làm cho hiệu quả của hoạt động không cao.
Xuất phát từ những lí do trên đây, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Thiết kế
và sử dụng trò chơi vận động mô phỏng nhằm kích thích hứng thú nhận
thức cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cách thiết kế và sử dụng trò chơi vận động mô phỏng nhằm
kích thích hứng thú nhận thức cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi trong hoạt động
khám phá khoa học góp phần nâng cao hiệu quả nhận thức của trẻ ở trường
mầm non hiện nay.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu:
Quá trình tổ chức hoạt động khám phá khoa học cho trẻ mẫu giáo 3-4
tuổi ở trường mầm non.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Cách thiết kế và sử dụng trò chơi vận động mô phỏng nhằm kích thích
hứng thú nhận thức cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế được hệ thống TCVĐMP đa dạng, phù hợp với khả năng
nhận thức và vận động của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi, và sử dụng một cách linh
hoạt trong hoạt động KPKH của trẻ ở trường mầm non thì sẽ kích thích hứng
thú nhận thức của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc thiết kế và sử dụng
TCVĐMP nhằm kích thích hứng thú nhận thức cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi

sử dụng nó trong hoạt động KPKH nhằm kích thích hứng thú nhận thức của
trẻ theo giả thuyết khoa học đề ra.
Thời gian thực nghiệm từ 1/4/2012 đến 30/5/2012.
4


7.3. Phương pháp thống kê giáo dục: Thu thập, xử lí kết quả nghiên cứu.
8. Những đóng góp mới của đề tài
- Hệ thống hoá cơ sở lí luận của việc thiết kế và sử dụng hệ thống
TCVĐMP nhằm kích thích hứng thú nhận thức cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi
trong hoạt động khám phá khoa học.
- Làm rõ thực trạng thiết kế và sử dụng TCVĐMP nhằm kích thích hứng
thú nhận thức cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học.
- Đề xuất cách thiết kế và hướng dẫn sử dụng một số TCVĐMP nhằm
kích thích hứng thú nhận thức cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi trong hoạt động khám
phá khoa học.

5


NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ
SỬ DỤNG TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG MÔ PHỎNG NHẰM KÍCH THÍCH
HỨNG THÚ NHẬN THỨC CHO TRẺ MẪU GIÁO 3-4 TUỔI
TRONG HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ KHOA HỌC
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Trên thế giới
TCVĐ có ý nghĩa to lớn đối với sự hình thành và phát triển nhân cách,
cho nên không ít tác giả nước ngoài nghiên cứu xây dựng loại trò chơi này

phát triển một số năng lực, phẩm chất vận động, nhận thức cho trẻ mẫu giáo.
- Các nhà giáo dục dân chủ thế kỷ XVII (J.A. Cômenxki, J. Lôckơ, J.J.
Rutxô, Petxtalôgi,...) nghiên cứu xây dựng TCVĐ như một “môi trường”
nhằm hướng người học tích cực giành kiến thức, kỹ năng bằng cách khám
phá, sáng tạo. Đặc biệt, không được áp đặt trẻ theo ý muốn của người lớn mà
phải căn cứ vào đặc điểm của trẻ để tổ chức hoạt động giáo dục.
- Các nhà giáo dục tiến bộ K.D. Uxinxki, E.I. Chikhiêva xuất phát từ
quan điểm duy vật luôn luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng và
tổ chức hoạt động của người thầy giáo, coi TCVĐ như một hình thức giúp
người học tích cực vận động, nhận thức.
- Sang thế kỷ XX, kế thừa quan điểm của các nhà giáo dục tiến bộ, các
nhà giáo dục học Xô viết (N.K. Krupxkaia, A. Macarencô,...) nhấn mạnh vai
trò của TCVĐ đối với sự phát triển thể lực, TCVĐ được coi là phương pháp
để củng cố sự chính xác, phát triển sự khéo léo, sức mạnh của trẻ.
- Các nhà giáo dục học Xô Viết (L.X. Vưgôtxki, A.N. Leonchiev, D.B.
Encônhin, A.A. Liublinxkaia, A.V. Daparôgiet,...) với quan điểm duy vật biện
chứng, cho rằng: TCVĐ là một phương tiện để rèn luyện tính tích cực vận
động, nhận thức cho trẻ. Nguyên tắc xây dựng là đa dạng, phát triển, phát huy
7


tính tự do, tự lực, sáng tạo, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, với đặc điểm cá
nhân, hài hoà với nền văn hoá mà trẻ đang sống, mang tính linh hoạt. Đây là
quan điểm tiến bộ, phù hợp với nền giáo dục hiện đại nên được ứng dụng rất
rộng rãi ở nhiều khu vực và quốc gia trên thế giới.
Xu hướng 3: Nghiên cứu và sử dụng TCVĐ nhằm phát triển nhận thức
cho trẻ mẫu giáo
Các tác giả Dorothy D.Sullivan, Beth Davey... trong tác phẩm “Các
trò chơi như là một phương tiện để học tập” đã chỉ ra những dạng trò chơi
có thể sử dụng cho việc tích cực hoá các hoạt động học tập và cho việc

cứu sau:
- Nghiên cứu lý luận về ý nghĩa, bản chất, phân loại, cấu trúc,... của
TCVĐ ( Nguyễn Ánh Tuyết, Phạm Thị Châu, Hoàng Thị Bưởi, Đặng Hồng
Phương, Trần Đồng Lâm, Đinh Mạnh Cường, Phạm Vĩnh Thông, Lưu Chí
Liêm, Bùi Thị Việt, Phan Thị Thu,...). TCVĐ được xem như một phương
tiện nhằm rèn luyện vận động cho trẻ, nhấn mạnh đến bản chất xã hội của
trò chơi, phân loại và xây dựng trò chơi theo từng mặt phát triển của trẻ.
Tuy nhiên, những trò chơi này chưa đi sâu vào mục đích tăng hứng thú
nhận thức cho trẻ MG 3-4 tuổi.
- Nghiên cứu xây dựng TCVĐ nhằm kích thích hứng thú nhận thức
cho trẻ MG 3-4 tuổi như một hình thức, phương pháp, biện pháp giáo dục
(Trương Kim Oanh, Nguyễn Sinh Thảo,...). Các TCVĐ được xây dựng để
đưa vào các hoạt động khác nhau trong chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ
(hoạt động chung có mục đích giáo dục, hoạt động ngoài trời, hoạt động
chiều,...) và được thể hiện rõ ở chương trình cải cách giáo dục mẫu giáo,
chương trình đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục trẻ mầm non.
Một số trò chơi đã chứa đựng đầy đủ các thành phần cấu trúc và các yếu tố
nâng cao tính tích cực nhận thức cho trẻ MG 3-4 tuổi. Tuy nhiên những trò
9


chơi này còn ít ỏi, thiếu tính hệ thống, thực tiễn, chưa xuyên suốt qua các
độ tuổi và chưa phù hợp với khả năng của trẻ nên chỉ mới đáp ứng được
một phần yêu cầu kích thích hứng thú nhận thức cho trẻ MG 3-4 tuổi, nhất
là trong hoạt động KPKH.
- Trong chương trình Giáo dục mầm non, TCVĐ vừa là nội dung học
(trong chương trình luyện tập cho trẻ), vừa là phương pháp tổ chức vui
chơi, nghỉ ngơi tích cực và cũng là phương tiện giáo dục thể chất cho trẻ
mầm non. Nội dung TCVĐ được sắp xếp theo các chủ đề nên rõ ràng hơn,
tuy nhiên số lượng vẫn còn ít, một số trò chơi chưa đầy đủ các thành phần

thẳng về trí tuệ cho trẻ. Vì vậy việc nghiên cứu thiết kế và sử dụng TCVĐMP
nhằm kích thích hứng thú nhận thức cho trẻ MG 3-4 tuổi sẽ là một đóng góp
mhỏ làm phong phú thêm cơ sở lí luận và nâng cao hiệu quả giáo dục trẻ ở
các trường mầm non hiện nay.
1.2. Cơ sở lí luận của việc thiết kế và sử dụng TCVĐMP nhằm kích
thích hứng thú nhận thức cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi trong hoạt động KPKH
1.2.1. Hứng thú nhận thức và vai trò của nó đối với sự phát triển trẻ em
1.2.1.1. Khái niệm “hứng thú nhận thức”
a) Hứng thú
Hứng thú là một thuộc tính tâm lí điển hình của cá nhân, có vai trò vô
cùng quan trọng đối với hoạt động của con người trong xã hội. Thuật ngữ
“hứng thú” được xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau.
 Quan niệm hứng thú là thuộc tính bẩm sinh, bản năng:
Các nhà tâm lí học tư sản đã thừa nhận vai trò to lớn của hứng thú trong
đời sống nói chung và trong nhận thức nói riêng nhưng không nhìn thấy bản
chất xã hội, lịch sử của hiện tượng tâm lí này ở con người, do đó dẫn đến
quan điểm duy tâm phiến diện trong việc hiểu bản chất hứng thú. Họ coi hứng
thú mang tính bản năng sinh vật, hoặc chỉ thấy thuần túy yếu tố tinh thần, xã
hội của nó. Kết quả là họ hạ thấp vai trò của giáo dục, giáo dưỡng và hoạt
động có ý thức của con người.
11


 Hứng thú là kết quả của sự hình thành và phát triển nhân cách cá nhân
Tâm lí học mác-xít, đặc biệt là tâm lí học Xô Viết đã khắc phục những
sai lầm trên của tâm lí học tư sản đưa việc nghiên cứu nhận thức đạt được
những thành công đáng kể. Quan điểm xem xét hứng thú theo quan điểm duy
vật biện chứng. Họ coi hứng thú không phải là cái trừu tượng vốn có trong
mỗi cá nhân mà là kết quả của sự hình thành và phát triển nhân cách cá nhân,
nó phản ánh một cách khách quan thái độ đang tồn tại ở con người.

- I.F. Kharlamop trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học
sinh như thế nào” đã nêu: Hứng thú - đó là nhu cầu nhuốm màu sắc cảm xúc
đi trước giai đoạn gây động cơ và làm cho hoạt động của con người có tính
chất hấp dẫn.
- Trong từ điển Tâm lí học, hứng thú được coi là một biểu hiện của nhu
cầu, làm cho chủ thể tìm cách thỏa mãn nhu cầu tạo ra khoái cảm thích thú.
 Một số quan niệm về hứng thú của Việt Nam
- Tiêu biểu là nhóm của tác giả: Phạm Minh Hạc - Lê Khanh - Trần
Trọng Thủy cho rằng: Khi ta có hứng thú về một cái gì đó, thì cái đó bao giờ
cũng được ta ý thức, ta hiểu ý nghĩa của nó đối với cuộc sống của ta. Hơn nữa
ở ta xuất hiện một tình cảm đặc biệt với nó, do đó hứng thú lôi cuốn, hấp dẫn
chúng ta về phía đối tượng của nó tạo ra tâm lí khát khao tiếp cận đi sâu vào
nó. PGS Trần Trọng Thủy còn khẳng định thêm rằng: “Hứng thú là sự thể
hiện xúc cảm của những nhu cầu nhận thức của con người”.
- GS. TS Nguyễn Khắc Viện: “Hứng thú là biểu hiện của một nhu cầu,
làm cho chủ thể tìm cách thỏa mãn, tạo ra khoái cảm, thích thú”.
- GS Nguyễn Quang Uẩn trong giáo trình “Tâm lí học đại cương” có
đưa ra khái niệm : “Hứng thú là thái độ đặc thù của cá nhân với đối tượng vừa
có ý nghĩa với cuộc sống, vừa có khả năng đem lại khoái cảm cho cá nhân

13


trong quá trình hoạt động” . Khái niệm này vừa nêu được bản chất của hứng
thú, vừa gắn hứng thú với hoạt động của cá nhân.
Còn trong cuốn “Đề cương bài giảng Tâm lí học trẻ em và Tâm lí học
sư phạm” [5] đã định nghĩa “Hứng thú là sự định hướng có lựa chọn của cá
nhân vào những sự vật hiện tượng của thực tế xung quanh. Sự định hướng đó
được đặc trưng bởi sự vươn lên thường trực tới nhận thức, tới những kiến
thức mới ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn”. Và “Khi nói đến hứng thú chúng

thích sự phát triển cá tính con người. Khi nhận thấy sự tiến bộ của mình trong
học tập, họ cảm thấy hào hứng vì thế họ sẽ dũng cảm đi thẳng tới những khó
khăn mới, sẽ làm việc với tất cả nhiệt tình của mình để chiến thắng khó khăn.
Vì vậy Usinxki đã nói: “ Hứng thú nhận thức không những là phương tiện dạy
học có kết quả, nó còn có tác dụng kích thích việc giáo dục đạo đức. Những
hứng thú huyền hoặc trống rỗng sẽ làm cho trẻ sao lãng cái đẹp, cái đạo đức,
sẽ không giúp đạt tới mục đích giáo dục”.
Hứng thú nhận thức của con người thể hiện nhu cầu nhận thức nhằm
thúc đẩy khuynh hướng của cá nhân dựa trên sự nhận thức được mục đích của
hoạt động; tạo điều kiện cho sự định hướng, làm quen với các sự kiện mới và
góp phần phản ánh thế giới hiện thực một cách đầy đủ và sâu sắc hơn. Hứng
thú mang tính chủ quan thể hiện ở trạng thái xúc cảm trong quá trình nhận
thức và chú ý đến đối tượng. Việc thoả mãn hứng thú không làm lụi tàn hứng
thú mà ngược lại còn tạo ra hứng thú mới, nâng cao mức độ hoạt động nhận
thức. Trong tiến trình phát triển của mình, hứng thú có thể chuyển thành niềm
đam mê, nó như là một biểu hiện của nhu cầu thực hiện do chính hứng thú tạo
ra. Độ bền vững của hứng thú một mạt được thể hiện bằng thời gian tồn tại và
cường độ của hứng thú, mặt khác nó được xác định bằng sự nỗ lực của cá
nhân vượt qua khó khăn khi thực hiện hoạt động của mình. Như vậy, hứng
thú nhận thức chính là khuynh hướng lựa chọn đặc biệt của cá nhân đối với

15


quá trình nhận thức và nó có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động nói chung và
trò chơi vận động mô phỏng của trẻ nói riêng.
1.2.1.2. Vai trò của hứng thú nhận thức đối với sự phát triển trẻ mầm
non nói chung, quá trình hoạt động của trẻ nói riêng
Khi nghiên cứu về hứng thú nói chung và hứng thú nhận thức nói riêng,
các nhà tâm lí học cho rằng, đây là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối

phát triển của hứng thú thì hứng thú có thể chuyển thành niềm đam mê.
Hứng thú là niềm vui của tuổi ấu thơ, học tập say sưa là thời niên thiếu
hạnh phúc. Còn nhiệm vụ công tác giáo dục là dạy đứa trẻ biết cách trân trọng
tất cả những gì tốt đẹp sinh động và cảm thụ sâu sắc giá trị của toàn bộ những
gì quan trọng nhất trong đời sống văn hóa của loài người. Hứng thú đó là tình
cảm, niềm vui là sự cảm thụ giá trị của cuộc sống và phát hiện ra các giá trị.
“Bất hạnh thay những người không say mê hứng thú đối với bất kỳ một công
việc gì. Số phận dù có mến người ấy tới đâu chăng nữa, người ấy cũng cảm
thấy công việc mình làm buồn chán và đơn điệu”.
Việc dạy và học kích thích sức mạnh nội tâm đến chừng mực nào đó thì
nó sẽ có sức lôi cuốn, hấp dẫn tới chừng mực ấy. Ngược lại, tất cả những gì
lôi cuốn làm ta say mê cũng đều kích thích các sức mạnh nội tâm của chúng
ta. Mà kích thích sức mạnh nội tâm chính là phát huy mọi năng lực của người
học. Hứng thú dẫn đến hiểu biết. Đây được xem như là một qui luật của sự
nhận thức. Nhiều nhà bác học quan niệm hứng thú là sự say mê hiểu biết và
nhận thức. Nhưng hứng thú nhất định sẽ động chạm tới tình cảm và sự xúc
động của chúng ta nữa.
Chúng ta kích thích trẻ hành động, còn trẻ phải tự hành động. Chúng ta
cung cấp cho các em một cái gì đó thuộc về bên ngoài, các em phải biến cái
đó thành của mình. Từ đó, đứa trẻ không chỉ được người khác giáo dục mà
các em còn tự giáo dục mình. Đứa trẻ không chỉ là đối tượng giáo dục mà còn
là chủ thể giáo dục nữa. Các em không chỉ thích nghi với thế giới mà còn tự
thay đổi thế giới quanh mình, riêng việc đứa trẻ được sinh ra cũng đã làm cho
17


thế giới thay đổi ít nhiều. Việc thỏa mãn hứng thú không làm tàn lụi hứng thú
mà ngược lại còn tạo ra hứng thú mới, nâng cao mức độ hoạt động nhận thức.
L.X Xôlôvâytrích đã nói: “Bằng cách phát triển hứng thú đối với các hình
thức hoạt động khác nhau, chúng ta sẽ phát huy một trong những năng lực

trẻ đối với hoạt động vui chơi, học tập, với môi trường và hoạt động lao động
của con người. Khi hoạt động một cách hứng thú, trẻ sẽ năng nổ khám phá
đối tượng một cách sâu sắc và toàn diện. Nhờ đó mà các chức năng và phẩm
chất tâm lí được hình thành và phát triển. Trong việc nâng cao chất lượng
giáo dục, nếu nhà trường nắm được những hứng thú của trẻ và biết tác động
theo hướng những hứng thú lành mạnh, hơn nữa, nếu biết căn cứ vào yêu cầu
giáo dục mà tạo ra những điều kiện thích hợp để gây hứng thú mới cho trẻ,
phù hợp với yêu cầu giáo dục, thì sẽ giúp cho trẻ phát triển tốt mà không tốn
công, tốn thì giờ. Nắm được hứng thú của trẻ sẽ giúp cho việc xây dựng nội
dung chương trình và phương pháp giảng dạy thích hợp với từng lứa tuổi.
- Đối với hiệu quả của hoạt động:
“Hứng thú như bàn tay của người nghệ sĩ có khả năng gõ vào những
phím đàn năng lực vốn có của con người để tạo ra những âm thanh tuyệt diệu
của hiệu quả hoạt động nhận thức của con người” [40]. Đúng vậy, trong bất
cứ một công việc gì nếu có hứng thú làm việc con người sẽ có cảm giác dễ
chịu với hoạt động, làm nảy sinh khát vọng hành động và hành động có sáng
tạo. Ngược lại, nếu hứng thú không được thỏa mãn sẽ dẫn đến cảm xúc tiêu
cực. Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, hứng thú sâu sắc tạo ra nhu
cầu gay gắt của cá nhân, cá nhân thấy cần phải hành động để thỏa mãn hứng
thú. Như Uxinxki đã nói: “Một sự học tập nào mà chẳng có hứng thú gì cả và
chỉ tiến hành bằng sức mạnh cưỡng bức thì sẽ giết chết lòng ham muốn học
tập của người học. Nó sẽ làm cho óc sáng tạo của người học thêm mai một, nó
sẽ làm cho người ta thờ ơ với hoạt động này”.
Như vậy, ta có thể nhận thấy được vai trò của hứng thú đối với hoạt
động nói chung và hoạt động nhận thức nói riêng của con người. Do đó, trong
quá trình chăm sóc và giáo dục ở trường mầm non, người giáo viên cần có
19


trách nhiệm trong việc khơi dậy niềm hứng thú bên trong của mỗi đứa trẻ. Đó

thống, có TCVĐ Loại TCVĐ có phân vai gồm những trò chơi có nội dung mô
phỏng cuộc sống con người hay động vật và hành động chơi là hành động mô
phỏng hành vi các nhân vật (là con người hay con vật đã được nhân cách hóa)
như trò chơi: Cáo và Thỏ, Mèo đuổi chuột,… Phần lớn các trò chơi này là trò
chơi tập thể, số lượng trẻ chơi có thể khác nhau (từ 5 đến 25 cháu) và một
cháu giữ vai chính, tất cả các cháu còn lại đóng một vai.
- Loại TCVĐ không có vai: trong trò chơi này tất cả người chơi có
nhiệm vụ như nhau, ai cũng phải thực hiện các vận động theo luật chơi đã
được xác định rõ ràng trên tinh thần thi đua để xem ai giỏi hơn (như trò chơi:
nhảy dây, chạy tiếp sức, chuyền bong,…). Thường trẻ được chia thành nhiều
đội để thi đua trong các đội với nhau. TCVĐ không có vai có sử dụng dụng
cụ như “ném bóng vào rổ”…
Nếu căn cứ vào cách thức tổ chức chơi thì người ta phân trò chơi này
thành TCVĐ theo cá nhân và TCVĐ theo nhóm. Nếu căn cứ vào các dạng vận
động cơ bản thì lại có rất nhiều trò chơi vận động khác nhau như trò chạy tiếp
sức, trò ném bóng,… Nhưng thông thường, người ta phân TCVĐ thành hai
loại, đó là TCVĐ có phân vai và TCVĐ không phân vai. Đây là kiểu phân
loại mang tính chất đặc trưng nhất của trò chơi trẻ em.
Trò chơi vận động mô phỏng là một cách phân loại của trò chơi vận
động. Vì vậy chúng ta có thể dựa trên khái niệm trò chơi vận động để đưa ra
khái niệm TCVĐMP: “TCVĐMP là trò chơi có luật, do người lớn hay trẻ em
sáng tạo ra, có sự phối hợp hoạt động trí óc và vận động cơ thể nhằm mô tả
đặc điểm của sự vật hiện tượng, hành vi của con người xung quanh”.
Đa số những TCVĐ dành cho trẻ là những trò chơi mang tính chủ đề,
phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí, khả năng tư duy, tưởng tượng của trẻ. Chủ
đề của trò chơi thường lấy từ cuộc sống thực tế xung quanh và thường thể
hiện những hình ảnh về các hiện tượng tự nhiên, xã hội, các hành vi của con
vật. Do đó, TCVĐMP mang đậm tính hiện thực.
21




mèo,... hoặc những phương tiện đồ dùng xã hội: đoàn tàu, xe ô tô, tàu thuỷ,
máy bay,... Nội dung vận động được hình tượng hoá như vậy sẽ lôi cuốn sự
hứng thú, tích cực của trẻ và trẻ tiếp nhận dễ dàng hơn.
+ Hành động chơi là hệ thống những động tác (thao tác) vận động mà
trẻ phải thực hiện trong quá trình chơi. Trong TCVĐMP, các vận động của nó
bao giờ cũng mang tính bắt chước. Hệ thống các động tác vận động thường có
những lời ca, tiếng hát có vần, có nhịp đi kèm: trẻ vừa hát vừa chạy nhảy, vừa
hát vừa bò,...
+ Luật chơi là những quy định, quy ước mà trẻ phải tuân theo trong khi
chơi. Luật chơi ở đây không gò đứa trẻ vào một khuôn mẫu cứng nhắc xong
nó trở thành động cơ thúc đẩy trẻ vận động tích cực. Ví dụ, trong trò chơi
“Ếch hái lá về nhà” luật chơi đưa ra là băt buộc mỗi chú ếch phải mang về ít
nhất một chiếc lá để xây nhà.
Trong TCVĐMP, mọi trẻ đều được tham gia. Có hoạt động tập thể nên
có sự ganh đua. Trong đó yếu tố thắng – thua đã kích thích tính tích cực vận
động của trẻ. Song điều lý thú hơn là dù thắng hay thua, mọi trẻ đều vui vẻ,
thoải mái, không hề buồn bã.
Tóm lại, TCVĐMP là phương tiện tăng hứng thú nhận thức quan trọng
cho trẻ mẫu giáo. Thông qua TCVĐMP các nhiệm vụ nhận thức dưới dạng các
trò chơi, nhờ đó mà trẻ củng cố biểu tượng về đối tượng vừa được khám phá,
đồng thời rèn luyện thân thể một cách hào hứng, tích cực, vui vẻ và thoải mái.
1.2.2.3. Vị trí TCVĐMP trong hoạt động khám phá khoa học
Khám phá khoa học là một nội dung giáo dục cơ bản trong trường mầm
non. Theo quan điểm của rất nhiều nhà khoa học, cách tốt nhất để hoạt động
khoa học là phải làm khoa học. Đối với trẻ mầm non làm khoa học cũng chính
là quá trình khám phá nó. Đây là những hoạt động “Tìm kiếm để phát hiện ra
cái mới, cái ẩn giấu” (Từ điển Tiếng Việt). Hoạt động Khám phá khoa học là
hoạt động mà trẻ được tiếp xúc, tìm hiểu, khám phá các đối tượng trong môi


24


dụng trò chơi. Với mục tiêu nhằm hệ thống hoá, khái quát hoá kiến thức nên sử
dụng phương pháp đàm thoại, trò chơi,... Hoạt động KPKH có mục đích
dưới sự hướng dẫn của giáo viên có ba phần:
- Phần I: Mở đầu: Trong phần này giáo viên cần sử dụng các biện
pháp để định hướng cho hoạt động nhận thức của trẻ
Hoạt động của trẻ chỉ đạt hiệu quả cao khi bản thân mỗi đứa trẻ phải
có hứng thú với chính hoạt động đó, mà muốn có hứng thú thì trước hết
phải tạo cho trẻ có được xúc cảm, tình cảm tốt với đối tượng làm quen, gây
cho trẻ sự tò mò, để làm nẩy sinh ở trẻ mong muốn được khám phá, tìm
hiểu đối tượng ngay bằng chính khả năng của mình. Do vậy, đối với trẻ
mầm non, định hướng hoạt động nhận thức cho trẻ cũng có nghĩa là gây
hứng thú cho trẻ với đối tượng nhận thức mà GV muốn giúp trẻ khám phá
đặc điểm, tính chât của nó trong phần trọng tâm.
Trong phần này GV có thể tổ chức cho trẻ chơi trò chơi, hát hay đọc
thơ, kể chuyện hoặc cho trẻ tham quan mô hình... có nội dung liên quan
đến đề tài. Ở đây, GV có thể lựa chọn TCVĐMP phù hợp với đề tài để tổ
chức như một biện pháp gây hứng thú cho trẻ.
- Phần II: Trọng tâm: Tổ chức cho trẻ khám phá đối tượng thông qua
các hoạt động cụ thể hấp dẫn trẻ.
Mục đích của phần này là cung cấp cho trẻ tri thức, hình thành một
số kỹ năng và giáo dục thái độ đúng đắn đối với thế giới xung quanh, giải
quyết các nhiệm vụ nhận thức chính cho trẻ. Vì vậy phần trọng tâm được tổ
chức thông qua các hoạt động cụ thể như: Họat động bổ sung kiến thức;
hoạt động mở rộng kiến thức và hoạt động củng cố kiến thức. Cụ thể:
+ Hoạt động bổ sung kiến thức cho trẻ: Hoạt động này giúp trẻ khám
phá và tìm hiểu dối tượng bằng chính các hoạt động với sự tham gia của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status