Đề tài: Thiết kế và sử dụng trò chơi học tập trong hoạt động khám phá môi
trường xung quanh nhằm rèn luyện kĩ năng so sánh cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
MỞ ĐẦU.
I.Lí do chọn đề tài.
Trong những năm gần đây, giáo dục Việt Nam có sự đổi mới mạnh mẽ cho
phù hợp với xu thế chung của thế giới. Giáo dục đề cao phát triển nhân cách con
người mới với những phẩm chất của con người trong thời đại mới mạnh về thể
chất, khỏe về tinh thần, năng động, sáng tạo, có khả năng thích ứng cao với những
thay đổi nhanh chóng của xã hội. Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ
thống giáo dục quốc dân nên cũng không nằm ngoài sự chuyển biến đó. Ngành học
đã đặt ra mục tiêu không cung cấp kiến thức cụ thể mà là cung cấp cho trẻ năng lực
nhận thức chung, giúp cho trẻ thông minh, nhanh nhẹn, ham hiểu biết, thích tìm tòi
khám phá và có một số kĩ năng tư duy cơ bản như: quan sát, so sánh, phân tích,
tổng hợp, khái quát…cũng như một số phẩm chất như độc lập, linh hoạt, tự giác, tự
tin…
Kĩ năng so sánh là một trong những kĩ năng nhận thức cơ bản của trẻ mầm
non. Đó là quá trình dùng trí óc để xác định sự giống nhau hay khác nhau, đồng
nhất hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các đối tượng
nhận thức. So sánh là thao tác tư duy quan trọng trong quá trình nhận thức của con
người nói chung và của trẻ mầm non nói riêng. Nó là cơ sở để trẻ phân biệt sự vật
này với sự vật khác, hiện tượng này với hiện tượng khác, là cơ sở để trẻ nhận biết
thế giới xung quanh một cách chính xác nhất.
Kĩ năng so sánh của trẻ được hình thành và phát triển trong quá trình nhận
biết, lĩnh hội thế giới xung quanh, đặc biệt là trong hoạt động học có chủ đích ở
trường mầm non. Hoạt động khám phá môi trường xung quanh có ưu thế lớn trong
việc phát triển nhận thức cũng như phát triển năng lực tư duy cho trẻ. Thông qua
việc tiếp xúc với các sự vật hiện tượng, trẻ không chỉ nhận biết được các sự vật
hiện tượng một cách riêng lẻ mà còn nhận biết được mối liên hệ giữa các sự vật,
hiện tượng, sự giống nhau và khác nhau giữa chúng. Nhờ vậy mà kĩ năng so sánh
trẻ nói chung.
III. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3.1.Khách thể nghiên cứu.
Quá trình phát triển kĩ năng so sánh của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động
khám phá môi trường xung quanh.
3.2.Đối tượng nghiên cứu.
Thiết kế và sử dụng trò chơi học tập trong hoạt động khám phá môi trường
xung quanh nhằm rèn luyện kĩ năng so sánh cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
IV.Giả thuyết khoa học.
Nếu thiết kế được hệ thống TCHT đa dạng về nhiệm vụ và cách thức so sánh
và sử dụng nó một cách linh hoạt, phù hợp khả năng nhận thức của trẻ và đặc điểm
của hoạt động khám phá môi trường xung quanh thì kĩ năng so sánh của trẻ sẽ
được củng cố và phát triển tốt hơn
V.Nhiệm vụ nghiên cứu.
5.1.Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc thiết kế và sử dụng TCHT
trong hoạt động khám phá MTXQ nhằm rèn luyện kĩ năng so sánh cho trẻ mẫu
giáo 5-6 tuổi.
5.2.Đề xuất thiết kế hệ thống TCHT và hướng dẫn sử dụng trong hoạt động
khám phá MTXQ nhằm rèn luyện kĩ năng so sánh cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
5.3.Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng hiệu quả của hệ thống
TCHT đã thiết kế.
VI.Giới hạn phạm vi nghiên cứu.
6.1.Giới hạn nội dung nghiên cứu: Thiết kế và sử dụng TCHT trong hoạt
động khám phá MTXQ theo chủ đề thực vật và động vật trong thời gian từ tháng 2
đến tháng 5 năm 2014.
6.2.Giới hạn địa bàn nghiên cứu: một số trường mầm non ở quận Cầu Giấy và
quận Hà Đông Hà Nội.
Trường mầm non Ánh Sao- phường Nghĩa Tân-Cầu Giấy-Hà Nội.
khoa học của đề tài. Sử dụng các bài tập đánh giá để đánh giá sự tiến bộ của trẻ sau
thực nghiệm so với trước thực nghiệm.
7.2.6.Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
Thu thập tư liệu, trao đổi với giáo viên, cán bộ quản lí về những vấn đề có liên
quan đến đề tài.
7.3.Nhóm nhương pháp xử lí số liệu.
Sử dụng những công thức thống kê toán học để xử lí số liệu.
VIII.Những đóng góp mới của đề tài.
8.1.Làm rõ lí luận của việc thiết kế và sử dụng TCHT nhằm rèn luyện kĩ năng
so sánh cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động khám phá MTXQ.
8.2.Đánh giá thực trạng việc thiết kế và sử dụng TCHT để rèn luyện kĩ năng
so sánh cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động khám phá MTXQ.
8.3.Đề xuất cách thiết kế TCHT nhằm rèn luyện kĩ năng so sánh cho trẻ mẫu
giáo 5-6 tuổi trong hoạt động khám phá MTXQ và hướng dẫn giáo viên mầm non
sử dụng những trò chơi này ở trường mầm non.
IX.Cấu trúc luận văn: Gồm 3 phần.
9.1.Phần mở đầu.
9.2.Phần nội dung.
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiến của việc thiết kế và sử dụng TCHT
trong hoạt động khám phá MTXQ nhằm rèn luyện kĩ năng so sánh cho trẻ mẫu
giáo 5-6 tuổi.
Chương 2: Thiết kế và sử dụng TCHT trong hoạt động khám phá MTXQ
nhằm rèn luyện kĩ năng so sánh cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
9.3.Phần kết luận.
NỘI DUNG.
trẻ nhận thức đúng hơn, sâu sắc hơn các thuộc tính khác nhau của những đối tượng
cụ thể…” (A.P.Dapharogiet Những cơ sở giáo dục học mẫu giáo T2). Như vậy, có
nghĩa là nhờ thao tác so sánh mà sự nhận biết về sự vật được chính xác hơn, sâu
sắc hơn sau khi được đối chiếu với sự vật, hiện tượng khác. Nhờ quá trình so sánh
mà chủ thể nhận thức biết được đâu là sự vật này, đâu là sự vật khác. Như vậy, các
quan điểm này đều cho chúng ta thấy rằng, nếu không có quá trình so sánh thì
không nhận thức được, cũng có nghĩa là thực hiện quá trình nhận thức chính là đã
thực hiện hành động so sánh.
Hướng nghiên cứu thứ hai:Nghiên cứu về tiến trình so sánh
-Các nhà nghiên cứu V.V. Bôgôslôpski, A.G. Côbaleva, A.A. Stepanôv cho
rằng thao tác so sánh gồm 8 bước (dẫn theo 3)
1.Xác định so sánh để làm gì, đạt mục đích gì
2.Nêu các đặc điểm của đối tượng cần so sánh
3.Xác định những cách so sánh cơ bản phù hợp với những mục đích đã nêu ra
và những đặc điểm đã tìm được.
4. Xác định những đặc điểm chung theo từng cách so sánh đã dự định.
5. Xác định những đặc điểm riêng theo từng cách so sánh đã dự định.
6. Xác định mức độ chung bản chất và các đặc điểm riêng theo từng cách so
sánh.
7. Nêu lên các đặc điểm đã phát hiện theo tất cả các cách so sánh.
8. Kết luận về sự giống nhau và khác nhau của các đối tượng theo mục đích
so sánh đã đề ra.
Đây không chỉ là các bước thuộc tiến trình so sánh mà còn bao gồm cả một
số yêu cầu cần thực hiện trước khi so sánh. Mặt khác, tiến trình này chưa hợp lí do
sự trùng lặp và phức tạp hoá của 5 bước cuối cùng.
-Nhà tâm lí học A.A. Liublinskaia (1978) quan niệm thao tác so sánh đòi hỏi
sự phân tích có mục đích mỗi đối tượng đem so sánh, đòi hỏi sự xác định cái giống
nhau và khác nhau của các dấu hiệu của chúng. Như vậy, theo bà, tiến trình thao
gặp ở trẻ khi so sánh là trẻ thường chú ý đến đặc điểm bên ngoài không đặc trưng
của các đối tượng so sánh (3;31). Vì vậy, cần có những biện pháp phù hợp để giúp
trẻ hoàn thiện thao tác so sánh.
Bên cạnh đó, N.N.PODIACÔP chỉ ra rằng khi nhận biết những đối tượng
khác nhau, trẻ dừng sự chú ý của mình vào những dấu hiệu không chủ yếu. Chúng
nói đến sự khác nhau về cấu trúc và chức năng của đối tượng, ghi nhận sự khác
nhau của những dấu hiệu bên ngoài-màu sắc, hình dáng…nhưng không nói đến sự
khác nhau chủ yếu của các đối tượng (28;116).
Nhận định này cho thấy các nghiên cứu về đặc điểm so sánh của trẻ mầm
non là tương đồng với nhau. Các nghiên cứu đều cho rằng khi so sánh các đối
tượng trẻ thường chỉ chú ý đến đặc điểm nổi bật bên ngoài mà chưa đi sâu vào bản
chất bên trong của đối tượng.
Những nghiên cứu trên đã chỉ ra cho chúng thấy được những hạn chế trong
KNSS của trẻ mẫu giáo, từ đó giúp chúng ta định hướng trong việc giúp trẻ hoàn
thiện KNSS.
Hướng nghiên cứu thứ tư: Nghiên cứu TCHT đối với sự phát triển trí tuệ, rèn
luyện KNSS cho trẻ mẫu giáo.
E.I.Chikhieva –người đã rất thành công trong việc kế thừa tư tưởng dạy học
bằng chơi và kết hợp giữa nền giáo dục cổ truyền với nền giáo dục hiện đại, đã
đánh giá cao vai trò của TCHT đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ. Bà đã cho rằng:
“TCHT bao giờ cũng có sự dự tính trước nhằm đồng thời phát triển một số năng
lực và phẩm chất trí tuệ như sự chú ý, sự cố gắng, nỗ lực, trí tuệ…’’(17;27).
Trong công trình nghiên cứu TCHT bằng lời nhằm hình thành tính độc lập tư
duy của trẻ mẫu giáo lớn, A.K.Bônđarencô đã chứng minh tính hiệu quả của
TCHT. Bên cạnh đó tác giả chỉ ra mối liên hệ giữa việc tổ chức cho trẻ chơi với
quá trình tích cực hóa tư duy của trẻ: “TCHT nếu được tổ chức tốt sẽ tạo điều kiện
tích cực hóa quá trình tư duy của trẻ” (17;29). Khi tham gia vào TCHT, tham gia
giải quyết nhiệm vụ nhận thức cũng như điều khiển hành động chơi trẻ cần phải sử
bậc sơ khai lên bậc chính thức (3).
Các nghiên cứu về KNSS của trẻ mầm non ở trong nước thường đi sâu
nghiên trong các lĩnh vực cụ thể, nhưng qua đó cũng cho chúng ta thấy rằng KNSS
có một vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển nhận thức của trẻ, là định
hướng cho nhà giáo dục trong quá trình phát triển nhận thức cho trẻ nói riêng và
phát triển toàn diện nhân cách trẻ nói chung
Hướng nghiên cứu thứ 2: Nghiên cứu về quá trình hình thành KN so sánh
GS.Phạm Tất Dong, có 4 giai đoạn hình thành KN, mỗi giai đoạn có một đặc
điểm, đặc trưng và yêu cầu nhất định.
+ Giai đoạn 1: Giai đoạn này được gọi là giai đoạn hình kĩ năng sơ bộ.
+ Giai đoạn 2: Con người có tri thức về các phương thức thực hiện hành động
và sử dụng kĩ xảo đã có. Đây là giai đoạn hoạt động với những kĩ năng chưa thành
thạo.
+ Giai đoạn 3: Con người có những kĩ năng chung, cần thiết cho mọi hoạt
động khác nhau.
+ Giai đoạn 4: Con người sử dụng một cách sáng tạo những KN khác nhau.
Đây là giai đoạn cao nhất của sự phát triển KN. Ở trình độ này con người dễ thực
hiện được công việc.
Quan điểm này cũng theo khuynh hướng KNSS được hình thành trên cơ sở
của KN và kinh nghiệm, kiến thức cũ, không đề cập đến vai trò của nhà giáo dục
trong sự hình thành KNSS.
Ngoài ra theo TS.Trần Thị Phương thì quá trình hình thành KNSS cho trẻ
được trải qua 4 giai đoạn:
Giai đoạn 1:Dựa trên vốn hiểu biết và các kĩ xảo đã có sẵn trong sinh hoạt để
tìm ra cách thức thực hiện hành động so sánh. Trẻ thực hiện hành động so sánh
nhưng chưa đầy đủ và thiếu chính xác theo phương thức “thử và sai”.
Giai đoạn 2: Quan sát hành động mẫu (kèm theo lời giải thích hành động
mẫu) của người lớn và làm theo mẫu để có được sự hiểu biết về cách thức thực
tượng về các sự vật, hiện tượng, con người…và các mối quan hệ của chúng dưới
dạng hình ảnh mà trẻ tiến hành các thao tác tư duy với nhiệm vụ đơn giản (6;128).
Đối với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi “về một số thao tác trí tuệ cần tập cho trẻ như so
sánh, phân tích các chi tiết, các thuộc tính, những sự vật hiện tượng giống nhau,
khác nhau…(6;tr179-186). Nghiên cứu đã chỉ cho chúng ta thấy được đặc điểm
phát triển thao tác so sánh của trẻ mầm non cũng như việc cần thiết phải rèn luyện
thao tác này cho trẻ góp phần phát triển nhận thức.
Cũng đồng tình với hai quan điểm trên TS.Trần Thị Phương cũng cho rằng
ngay từ lứa tuổi nhà trẻ thì trẻ đã có hoạt động so sánh. Tuy nhiên, so sánh của trẻ
đến thời kì mẫu giáo nhỡ 4-5 tuổi vẫn chưa đạt tới giai đoạn so sánh chính thức, trẻ
vẫn bị chi phối bởi các đặc điểm nổi bật bên ngoài. Khi bước sang giai đoạn 5-6
tuổi thì thao tác so sánh của trẻ đạt đến mức phát triển mới: giai đoạn so sánh chính
thức.
Như vậy, tất cả các quan điểm đều có sự thống nhất với nhau về đặc điểm
phát triển KNSS của trẻ mẫu giáo, các nghiên cứu đều chỉ ra được sự hạn chế trong
quá trình thực hiện hành động so sánh của trẻ, giúp cho các nhà giáo dục nhận ra
được vấn đề cần giải quyết khi rèn luyện KNSS cho trẻ, giúp cho hoàn thiện KNSS
của mình.
Hướng nghiên cứu thứ tư: Nghiên cứu TCHT đối với sự phát triển trí tuệ, rèn
luyện KNSS cho trẻ mẫu giáo.
Theo PGS.TS.Nguyễn Thị Hòa thì trong khi chơi các TCHT trẻ biết sử dụng
một số thao tác tư duy (so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa) để giải quyết
nhiệm vụ của TC đặt ra (17;47). Như vậy, TCHT đã tạo cơ hội cho trẻ được rèn
luyện các thao tác tư duy, giúp cho các thao tác tư duy được phát triển và hoàn
thiện. Bên cạnh đó, chúng ta cũng thấy rằng rất nhiều TCHT được sử dụng với
mục đích nhận biết các đối tượng trong thế giới xung quanh. Trẻ cần phải thực
hiện hành động so sánh mới có thể nhận biết, phân biệt được các đối tượng với
nhau.
Paul Hersey, kỹ năng là khả năng sử dụng tri thức, các phương pháp, kĩ thuật và
thiết bị cần thiết cho việc thực hiện các nhiệm vụ nhất định có được từ kinh
nghiệm, giáo dục và đào tạo (7).Theo X.I.Kixegop, kỹ năng là khả năng thực hiện
có hiệu quả hệ thống hành động phù hợp với mục đích và điều kiện thực hiện hệ
thống này (20).Xavie Roegier thì cho rằng: kỹ năng là khả năng thực hiện một cái
gì đó, đó là một hành động được thực hiện (16). GS. Nguyễn Quang Uẩn, PGS.TS
Ngô Công Hoàn, Trần Quốc Thành cho rằng, KN là năng lực của con người biết
vận dụng các thao tác của một hành động theo đúng quy trình(9).
Tóm lại, kỹ năng là khả năng lựa chọn những tri thức, kinh nghiệm trong
hoàn cảnh cụ thể để thực hiện hoạt động một cách hiệu quả, thành thạo trên cơ sở
nắm vững phương thức, cách thức hành động.
*Khái niệm “so sánh”
Khi bàn về khái niệm so sánh cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau, có
quan điểm nhìn nhận “so sánh” là một quá trình nhận thức, có quan điểm thì nhìn
nhận “so sánh “ là một trong những thao tác tư duy cơ bản.
Đại điện cho khuynh hướng xem xét so sánh trong một quá trình nhận thức:
“So sánh là quá trình dùng trí óc để xác định sự giống nhau hay khác nhau, sự
đồng nhất hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các đối
tượng nhận thức(10;151) là các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lũy,
Đinh Văn Vang. Bên cạnh đó, các tác giả Tạ Ngọc Thanh, Nguyễn Thành Nhân
cũng cho rằng: so sánh là quá trình dùng trí óc để các định sự giống nhau hay khác
nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất giữa các sự vật hiện tượng, “so sánh là
nhìn vào cái này để xem cái kia, để thấy sự giống nhau, khác nhau hoặc sự hơn
kém” (26;27). So sánh là cách thức giúp trẻ tìm ra điểm giống nhau và khác nhau
trong các vật thể. Đối với các vật cụ thể, có thể so sánh theo các bình diện như kích
cỡ, hình dáng, số lượng, màu sắc,…Các khái niệm trừu tượng có thể được so sánh
về chức năng, vị trí, mức độ…(14,29). Tuy nhiên, đối với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thì
việc thực hiện thao tác so sánh thường được tiến hành trên những đối tượng cụ thể
cho là sự hướng dẫn và tổ chức luyện tập giúp cho trẻ có khả năng sử dụng
những tri thức, kinh nghiệm và các giác quan phù hợp để tìm ra điểm giống
nhau hay khác nhau, điểm tương đồng hay khác biệt giữa hai hay nhiều đối
tượng một cách vững vàng, thành thạo.
1.2.1.2.Quá trình tâm lý hình thành thao tác so sánh.
*Các giai đoạn hình thành hoạt động trí tuệ của Galpêrin
Theo P.Ia.Galpêrin và J.Lompscher, muốn hình thành các thao tác trí tuệ,
người ta không thể chỉ biết đó là những thao tác nào, được tiến hành trên đối
tượng, với những nội dung, phương tiện ta sao mà điều cơ bản là phải hiểu rõ cách
thực hiện chúng. Các thao tác trí tuệ mới hay các thao tác ở trình độ cao hơn
thường không bao giờ xuất hiện với một chất lượng tương ứng ngay từ đâu, nên
chúng phải được hình thành một cách khoa học. Theo họ thì thoạt tiên thao tác trí
tuệ phải được hỗ trợ bởi hành động thực tiễn để trẻ có thể tri giác những sự thay
đổi ở đối tượng của hoạt động trí óc một cách trực tiếp và lấy đó làm điểm xuất
phát của những hành động bộ phận tiếp theo. Tuy nhiên, sự hỗ trợ đó phải giảm
dần tùy theo trình độ tiếp thu hành động để khi các thao tác trí tuệ đã được “chuyển
vào trong” hay “nội tâm hóa”, thì chính các hành động có đối tượng sẽ nhanh
chóng trở thành không cần thiết nữa. Galpêrin đã đề ra các giai đoạn hình thành
hành động trí tuệ “chuyển” một khái niệm từ hình thức vật chất bên ngoài vào bên
trong.
Giai đoạn 1: Lập cơ sở định hướng của hành động: giai đoạn này trẻ có thể tự
làm theo phương thức thử và sai, tự thực hiện hành động hoặc cũng có thể được
hướng dẫn nhưng sự hướng dẫn chỉ ứng với một hành động cụ thể nên trẻ sẽ gặp
khó khăn trong những tình huống mới. Bên cạnh đó có loại định hướng có sự
hướng dẫn của giáo viên. Loại định hướng này hướng dẫn trẻ cách phân tích hành
động mới giúp trẻ phát hiện ra các điểm tựa, các điều kiện để thực hiện đúng hành
động. Loại định hướng này giúp trẻ nắm được cách phân tích, trên cơ sở đó giúp
trẻ có thể làm các hành động khác một cách dễ dàng hơn.Trong nghiên cứu này để
Như vậy, ngôn ngữ bên ngoài đã chuyển thành ngôn ngữ bên trong.
Năm giai đoạn trên luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Qua năm giai đoạn này,
nội dung của đối tượng không thay đổi mà chỉ có sự thay đổi về hình thức của nó,
nghĩa là thay đổi về mặt tâm lý, từ một hành động vật chất bên ngoài biến thành
hành động trí óc bên trong. Những luận điểm của P.Ia.Galpêrin không những hấp
dẫn về mô tả mà còn vạch ra được bản chất và cơ chế của một quá trình hình thành
cái tâm lý, trí tuệ từ cái vật chất bên ngoài. Giá trị to lớn trong công trình nghiên
cứu của P.Ia.Galpêrin là lấy hành động làm cơ sở hình thành hành động trí tuệ.
*Đặc điểm tư duy của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
Đặc điểm phát triển tư duy: trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đã phát triển cả ba loại tư:
Tư duy trực quan-hành động, tư duy trực quan-hình tượng, tư duy trừu tượng.
Trong đó, kiểu tư duy trực quan hình tượng vẫn chiếm ưu thế. Đặc biệt kiểu tư duy
trực quan-sơ đồ xuất hiện, nó là bước trung gian của sự chuyển tiếp từ tư duy trực
quan-hình tượng đến tư duy loogic. Tư duy trực quan-sơ đồ vẫn mang tính chất
hình tượng nhưng bản thân hình tượng đã trở nên khác trước. Hình tượng đã mất đi
những yếu tố rườm rà mà chỉ còn giữ lại những yếu tố giúp trẻ phản ánh một cách
khái quát về những sự vật, hiện tượng, chứ không phản ánh từng chi tiết riêng lẻ.
Kiểu tư duy này giúp cho trẻ phản ánh mối liên hệ khách quan giữa các sự vật, hiện
tượng
Trên cơ sở những lý luận của P.Ia.Galpêrin về các giai đoạn của một thao tác
tư duy, đặc điểm phát triển tư duy cũng như đặc điểm phát triển kĩ năng so sánh
của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thì chúng tôi cho rằng quá trình hình thành KNSS trải
qua các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Xác định nhiệm vụ so sánh, nhận biết dấu hiệu so sánh.
Giai đoạn 2: Thao tác đối chiếu để so sánh
Giai đoạn 3: Giải thích hành động so sánh đã thực hiện
Các giai đoạn này tương ứng với ba giai đoạn đầu theo quan điểm
P.Ia.Galpêrin, hai giai đoạn tiếp theo sẽ dần dần hình thành khi tư duy của trẻ
Khiếm khuyết ở trẻ
Dạng sơ khai của thao tác so sánh có đặc điểm là diễn ra một cách tự nhiên
ngay khi mới tri giác sự vật, nhận ra rất nhanh một thuộc tính bên ngoài nào đó (về
màu sắc hay kích thước) đang bao trùm sự vật và gây ấn tượng mạnh mẽ đối với
trẻ khiến trẻ dễ dàng so sánh ngay với các sự vật khác mà không qua sự phân tích
nào cả. Đây là biểu hiện rõ nét thường gặp ở trẻ lên ba khi trẻ tri giác toàn bộ. Mức
độ so sánh ở dạng này còn thấp và hời hợt, trẻ thường phát hiện ra các thuộc tính
khác nhau nhanh hơn là thuộc tính giống nhau giữa các sự vật.
Dạng chính thức của thao tác so sánh có đặc điểm là không diễn ra ngay khi
mới tri giác sự vật mà phải trải qua một quá trình trên cơ sở quan sát kỹ (tức là tri
giác có chủ định). Sự vật được tri giác rồi phân tích ra nhiều bộ phận, nhiều thuộc
tính giúp cho việc so sánh được kĩ càng, sau cùng là so sánh từng bộ phận hay từng
thuộc tính của sự vật, hiện tượng để tìm ra điểm giống nhau hay khác nhau giữa
chúng. Dạng chính thức của thao tác so sánh không tự nhiên mà có mà phải trải
qua một quá trình luyện tập công phu với sự hướng dẫn của người lớn. Nắm được
tiến trình so sánh sẽ giúp cho việc so sánh được sâu sắc hơn, toàn diện hơn không
những về phương diện bên ngoài mà còn cả phương diện bên trong.
Như vậy, rèn luyện kĩ năng so sánh cho trẻ 5-6 tuổi là quá trình luyện tập
nhằm giúp trẻ nâng thao tác so sánh từ cấp thấp-so sánh ở cấp sơ khai lên đến bậc
cao-dạng thứ cấp, giúp cho hoạt động được thực hiện một cách có hiệu quả.
1.2.1.3.Đặc điểm so sánh của trẻ 5-6 tuổi.
Hoạt động so sánh của trẻ phải được thực hiện với các đối tượng nhất định,
phụ thuộc vào kiến thức, kinh nghiệm của trẻ do đặc điểm của lứa tuổi về nhận
thức, kinh nghiệm, cảm xúc mà kĩ năng so sánh của trẻ có những đặc điểm sau:
-Trẻ có thể so sánh những đối tượng quen thuộc gần gũi xung quanh trẻ. Các
đối tượng này có thể là vật thật, tranh ảnh, mô hình đều phù hợp với khả năng tư
duy của trẻ. Tuy nhiên để khắc phục hạn chế của kiểu so sánh ở mức độ sơ khai,
hơn đối với việc giải quyết các nhiệm vụ so sánh đặt ra.
Như vậy, những đặc điểm về KNSS của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi sẽ là cơ sở để
giáo viên có phương pháp tác động phù hợp, khắc phục những hạn chế trong quá
trình trẻ thực hiện hoạt động so sánh, giúp cho KNSS của trẻ phát triển lên mức độ
cao hơn-so sánh chính thức.
1.2.1.4.Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành kĩ năng so sánh của trẻ
mẫu giáo 5-6 tuổi.
Trong quá trình thực hiện hành động so sánh cũng như quá trình hình thành
kĩ năng so sánh của trẻ đều chịu sự tác động của những yếu tố chủ quan cũng như
những tác động khách quan. Dựa vào bản chất của hoạt động so sánh cũng như đặc
điểm phát triển của trẻ mầm non tôi nhận thấy có một số yếu tố ảnh hưởng đến
việc hình thành kĩ năng so sánh của trẻ như sau:
a.Phương tiện so sánh.
*Về đối tượng so sánh:
Hoạt động so sánh thường dựa trên những phương tiện so sánh sau: so sánh
bằng vật thật, so sánh bằng mô hình, so sánh bằng tranh ảnh, so sánh bằng lời.
Nhưng đối với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi chỉ có 3 loại phương tiện so sánh: so sánh
bằng vật thật, so sánh bằng mô hình, so sánh bằng tranh ảnh. Phương tiện so sánh
bằng lời không phù hợp với trẻ mầm non. Các phương tiện này đều là những
phương tiện trực quan.
Hoạt động so sánh cũng như các hoạt động khác của con người là luôn cần có
đối tượng để tác động và tương tác trong quá trình hành động. Đặc biệt, đối với trẻ
mầm non thì điều này càng có ý nghĩa quan trọng vì tư duy của trẻ là tư duy trực
quan hành động, tư duy trực quan hình tượng. Vì vậy, quá trình tư duy của trẻ hay
quá trình thực hiện các thao tác tư duy không thể thiếu đồ dùng trực quan. Tuy
nhiên, để đảm bảo quá trình thực hiện hành động so sánh được diễn ra dễ dàng và
có hiệu quả thì phương tiện so sánh phải đảm bảo một số yêu cầu sau:
-Phương tiện so sánh bằng vật thật: vật được chọn làm vật mẫu để so sánh