luận văn đại học sư phạm hà nội ngành mầm non Thiết kế trò chơi bằng phần mềm PowerPoint và một số biện pháp sử dụng nhằm hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mẫu giáo 56 tuổi - Pdf 24

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ngành học mầm non là ngành học đầu tiên đặt nền tảng cho việc giáo
dục trẻ. Mục tiêu của ngành giáo dục mầm non (GDMN) là giúp trẻ hình
thành toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể lực, thẩm mĩ và lao động, hình thành
những yếu tố đầu tiên của nhân cách con người.
Giai đoạn lứa tuổi mầm non, trẻ hình thành mạnh mẽ về thể chất, trí
tuệ, tinh thần, trẻ ham hiểu biết, thích tìm tòi mọi thứ xung quanh. Dưới sự
hướng dẫn của giáo viên (GV) trẻ sẽ lĩnh hội được kiến thức một cách chính
xác, đầy đủ hơn. Chính vì vậy mà hình thức tổ chức các hoạt động cho trẻ
càng phong phú, hấp dẫn, gây hứng thú thu hút trẻ, trẻ càng dễ tiếp thu, nhẹ
nhàng lĩnh hội kiến thức. Do đó việc giáo dục theo hình thức truyền thống: cô
đọc - trẻ nghe không còn đem lại hiệu quả cao trong giờ học.
Trong thời đại công nghệ thông tin (CNTT) hiện nay, việc vận dụng
CNTT vào các lĩnh vực trong đời sống ngày càng rộng rãi và không còn xa lạ
nữa. Giáo dục nói chung và GDMN nói riêng cũng đã từng bước tiếp cận với
công nghệ hiện đại. Việc ứng dụng tin học vào giảng dạy là rất cần thiết và
được khuyến khích rất nhiều. Đặc biệt sử dụng những trò chơi (TC) trên máy
tính vào tổ chức các hoạt động cho trẻ mầm non sẽ tạo ra những điều mới lạ
kích thích sự tò mò của trẻ. TC trên máy vi tính với những hiệu ứng vui nhộn,
màu sắc bắt mắt sẽ làm cho trẻ có hứng thú với việc học hơn.
Trong chương trình GDMN, việc dạy trẻ hình thành biểu tượng toán
học sơ đẳng nói chung và dạy trẻ hình thành biểu tượng số lượng (BTSL) nói
riêng là một trong những nhiệm vụ quan trọng. Nhiệm vụ này có thể thực hiện
bằng nhiều hình thức khác nhau, tuy nhiên để phù hợp với đặc điểm tâm lí
của trẻ thì việc sử dụng các trò chơi (TC) đặc biệt là TC tin học để hình thành
BTSL cho trẻ là một trong những cách thức dạy học (DH) được giáo viên
mầm non (GVMN) chú trọng hơn cả.
1
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều phần mềm (PM) hỗ trợ cho GV có
thể ứng dụng vào trong quá trình phát triển biểu tượng toán học nói chung và

4.3. Nghiên cứu thiết kế TC bằng PM PP và biện pháp sử dụng TC
bằng PM PP nhằm hình thành BTSL cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
4.4. Tiến hành thực nghiệm sư phạm sử dụng một số TC bằng PM PP
nhằm hình thành BTSL cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế TC bằng PM PP và một số biện pháp sử dụng phù hợp với
nội dung chương trình dạy trẻ 5-6 tuổi hình thành BTSL, phù hợp với nhu cầu
chơi của trẻ và điều kiện thực tiễn của trường mầm non thì sẽ nâng cao được
hiệu quả hình thành BTSL cho trẻ.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: đọc tài liệu, sách, báo có liên
quan tới đề tài nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lí luận của đề tài.
6.2. Phương pháp quan sát việc thiết kế TC bằng PM PP và biện pháp
sử dụng của GVMN trong các hoạt động dạy trẻ 5-6 tuổi hình thành BTSL.
6.3. Đàm thoại với GVMN về những vấn đề có liên quan tới việc thực
hiện nội dung dạy trẻ 5-6 tuổi hình thành BTSL ở trường MN, việc GVMN
thiết kế TC bằng PM PP và biện pháp sử dụng vào quá trình thực hiện nội
dung GD này với trẻ.
6.4. Phương pháp điều tra bằng phiếu điều tra với GVMN về việc thiết
kế TC bằng PM PP và biện pháp sử dụng vào quá trình dạy trẻ 5-6 tuổi hình
thành BTSL ở trường MN.
6.5. Phương pháp thực nghiệm một số biện pháp sử dụng TC bằng PM
PP nhằm hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi đã xây dựng.
6.7. Sử dụng toán thống kê nhằm xử lí số liệu nghiên cứu.
3
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỆN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Trên thế giới
Trên thế giới, các nước có nền giáo dục hình thành đều chú trọng đến

phục vụ mục tiêu GDMN của Bộ giáo dục các nước tham gia chương trình.
-Hỗ trợ chuyên môn cho GV mầm non ứng dụng hiệu quả công nghệ
mới vào quá trình dạy và học thông qua các khoá tập huấn và hình thành
nghiệp vụ.
-Hỗ trợ các tiến trình đổi mới GDMN thông qua ứng dụng công nghệ.
Việc ứng dụng CNTT trong giáo dục nói chung và GDMN nói riêng là
nhu cầu cấp thiết để đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp, hình
thức tổ chức giáo dục trẻ, là yêu cầu của xã hội đòi hỏi một lực lượng lao
động có chất lượng cao thích nghi với sự hình thành nhanh của thông tin
truyền thông. Chính vì thế cần đặt nền móng cho trẻ lứa tuổi trước khi đến
trường.
Có thể nói khởi nguồn vấn đề ứng dụng CNTT trong việc giáo dục trẻ
là cho trẻ chơi những TC điện tử. TC điện tử được thiết kế và cài đặt vào các
thiết bị điện tử hoặc máy vi tính. Nghiên cứu về TC điện tử đối với trẻ em, bà
Esther Gabriel- chuyên gia tâm lý học Mỹ về những vấn của TC điện tử đã có
nhận xét như sau: “Trong khi chơi TC điện tử, trẻ có thể tiến bộ về tư duy, vì
trẻ phải thu nhận nhiều thông tin vừa phải ghi nhớ, suy diễn và xử lý thông tin
nhanh. TC này giúp cho trẻ phản xạ nhạy bén và hình thành óc tưởng tượng,
nhất là các TC có nội dung về các cuộc phiêu lưu và các pha mạo hiểm. TC
điện tử cũng có thể giúp cho trẻ cách học cần thiết để đạt tới một mục đích.
Không nên quên rằng trẻ vừa chơi lại vừa sử dụng máy tính thì trẻ có khả
năng mở mang kiến thức về tin học”.
5
1.1.2. Trong nước
Việc ứng dụng CNTT trong giáo dục ở Việt Nam được triển khai từ
những năm đầu của thế kỉ 21. Đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường,
đặc biệt là tích cực sử dụng phương tiện dạy học hiện đại trong giảng dạy đang
được nhà nước và xã hội quan tâm. Việc ứng dụng CNTT vào dạy học là phù
hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Như vậy, việc ứng dụng
CNTT vào dạy học là một nhu cầu cấp thiết đối với hệ thống giáo dục Việt Nam

Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT trong GDMN chỉ thực sự mạnh mẽ từ
năm 2000 với việc đưa chương trình IBM Kidsmart như là một giải pháp giáo dục
tổng thể được nghiên cứu rất kỹ lưỡng bởi các chuyên gia giáo dục và CNTT nổi
tiếng trên thế giới. Kidsmart mang đến các trường mầm non và trung tâm văn hoá
thiếu nhi thiết bị hiện đại, PM giáo dục, tập huấn GV, phương pháp giáo dục mới
và hàng loạt các cơ hội học tập trao đổi kinh nghiệm và chia sẻ giữa các GV,
chuyên gia giáo dục và cộng đồng. Theo TS. Trần Lan Hương: “Khi bắt đầu đưa
chương trình Kismart vào thử nghiệm, nhiều người đã đặt nghi vấn liệu máy tính
có hợp với lứa tuổi mẫu giáo, có đóng vai trò giáo dục và ảnh hưởng đến sự hình
thành giao tiếp xã hội, ngôn ngữ trẻ hay không? Bây giờ đã có thể khẳng định nó
là chương trình dạy học tích cực, có thể coi như một bộ sưu tập phong phú về các
chiến lược giáo dục”
1.2. Cơ sở lí luận của đề tài
1.2.1. BTSL và sự hình thành BTSL của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
a. Khái niệm biểu tượng và BTSL
Biểu tượng là những hình ảnh của những sự vật, hiện tượng của thế
giới xung quanh, được hình thành trên cơ sở các cảm giác và tri giác đã xảy ra
trước đó, được giữ lại trong ý thức hay là những hình ảnh mới được hình
thành trên cơ sở những hình ảnh đã có từ trước.
Biểu tượng toán học là hình ảnh cụ thể về những dấu hiệu toán học (số
lượng, kích thước, hình dạng, không gian và thời gian…) mà con người đã tri
7
giác trước đây được tái hiện trong óc khi chúng không còn trực tiếp tác động
vào các giác quan của ta nữa.
Số lượng là khái niệm chỉ số phần tử có trong một tập hợp tại một
không gian và thời điểm xác định. Khái niệm số lượng có liên quan đến tập
hợp, số lượng là một trong những thuộc tính đặc trưng của tập hợp, bất kỳ
một tập hợp nào cũng xác định được độ lớn (số lượng) nhất định của nó, dù
là các phần tử thuận nhất hay không thuần nhất.
Biểu tượng số lượng là những hình ảnh về đặc trưng số lượng của các

qua đó trẻ hiểu sâu sắc hơn ý nghĩa của khái niệm đơn vị - đơn vị của phép
đếm có thể là cả nhóm vật chứ không chỉ là từng vật riêng lẻ.
Hơn nữa dưới tác động của dạy học, trẻ mẫu giáo lớn không chỉ biết
đếm xuôi mà còn biết đếm ngược trong phạm vị 10, trẻ nhận biết các số từ 1-
10. Trẻ hiểu rằng mỗi con số không chỉ được diễn đạt bằng lời nói mà còn có
thể viết, và muốn biết số lượng của các vật trong nhóm không nhất thiết lúc
nào cũng phải đếm, mà đôi lúc chỉ cần nhìn con số biểu thị số lượng của
chúng. Việc cho trẻ làm quen với các con số có tác dụng hình thành tư duy
trừu tượng cho trẻ, hình thành khả năng trừu suất số lượng khỏi những vật cụ
thể, dạy trẻ thao tác với các kí hiệu – các con số.
Như vậy, trẻ 5-6 tuổi cần tiếp tục hình thành biểu tượng về tập hợp,
bước đầu cho trẻ làm quen với một số phép tính trên tập hợp, điều đó tạo cơ
sở cho trẻ học các phép tính đại số sau này ở trường phổ thông. Tiếp tục dạy
trẻ đếm trong phạm vị 10, giúp trẻ hiểu sâu sắc hơn khái niệm đơn vị, tạo tiền
đề cho trẻ hiểu bản chất của các phép tính đại số mà trẻ sẽ học ở trường phổ
thông. Dạy trẻ làm quen với các bài toàn đơn giản trên các tập hợp cụ thể
bằng cách phân tích để biết cái gì đã cho, cái gì cần tìm, để tìm cái đó phải
làm như thế nào? Đó chính là cơ sở để trẻ học tốt môn toán sau này ở trường
phổ thông.
9
1.2.2. Quá trình hình thành BTSL cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
a. Nội dung hình thành BTSL cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
Dạy trẻ đếm trong phạm vi 10 và đếm theo khả năng. Nhận biết các
chữ số, số lượng và số thứ tự trong phạm vi 10.
So sánh số lượng các nhóm đối tượng trong phạm vi 10
Biết thêm, bớt trong phạm vi 10 nhằm biến đổi số lượng. Hiểu được
mối quan hệ số lượng trong phạm vi 10.
Biết tách một nhóm đối tượng ra làm hai nhóm nhỏ theo nhiều cách
khác nhau và xếp thứ tự trong phạm vi các số đã học.
Nội dung hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi không chỉ

Trong quá trình dạy học, GV cần chuẩn bị đầy đủ đồ dùng dạy học
như: đồ dùng cho hoạt động mẫu của cô, đồ dùng để ôn luyện kiến thức
cũ, tổ chức TC, đồ dùng cho hoạt động hình thành kiến thức mới của trẻ…
Quá trình hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi được tiến hành trên tiết học
như sau:
- Xác định mục tiêu của hoạt động
- Chuẩn bị các điều kiện để tổ chức các hoạt động nhằm hình thành
BTSL cho trẻ.
- Các tiến hành hoạt động
+ Bước 1: Ôn các kiến thức cũ (kiến thức cũ là kiến thức có liên quan
trực tiếp đến nội dung dạy ở bước 2)
+ Bước 2: Làm quen kiến thức mới
+ Bước 3: Luyện tập qua hệ thống bài tập hoặc TC (tăng dần mức độ
khó với trẻ) để củng cố kiến thức, kỹ năng vừa có.
+ Bước 4: Vận dụng (sử dụng kiến thức, kỹ năng đã có để giải quyết
một số tình huống trong thực tế hoặc tạo ra sản phẩm bằng các phương tiện
khác nhau)
11
- Giai đoạn 3: Củng cố, ứng dụng kiến thức, kỹ năng nhận biết
BTSL đã học vào các hoạt động khác nhau.
GV nên kết hợp việc tổ chức cho trẻ luyện tập đếm, thêm, bớt, tách
gộp, nhận biết các số từ 1 đến 10 qua các hoạt động khác nhau: hoạt động vui
chơi, học tập, lao động…và trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của trẻ.
Ví dụ: sau khi dạy trẻ đếm đến 8, nhận biết chữ số 8 trên tiết học toán,
trong hoạt động góc GV cho trẻ đếm các loại sỏi, đá, hột hạt có số lượng 8, vẽ
và tô màu 8 bông hoa…Hay trong giờ làm quen với tác phẩm văn học cô cho
8 người dùng lên đọc thơ, sử dụng 8 chiếc ghế trong TC tìm chỗ…
1.2.3. Giới thiệu phần mềm PowerPoint
Trong đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu và sử dụng
Microsoft PowerPoint 2010, bởi đây là là phiên bản mới của Microsoft

như menu, các thanh công cụ cũng chứa các lệnh có liên quan giúp người
dùng dễ dàng thực hiện các thao tác như lập trình diễn mới, chèn thêm slide,
thay đổi kiểu màu nền…
- Các chế độ hiển thị của PP:
Trong PP có 3 chế độ hiển thị khác nhau: Normal View (xem ở chế độ
bình thường); Slide sorter view (xem tất cả slide); Slide show from current
slide (xem toàn màn hình). 3 chế độ này được đặt ở góc dưới cùng bên trái
của giao diện.
13
Mỗi chế độ là một cách để chúng ta quan sát và làm việc với PM. Điều
này còn tuỳ thuộc vào công việc chúng ta làm ở những thời điểm khác nhau
có thể chọn những chế độ hiển thị khác nhau.
- Tạo một Presention:
Với PP, ta có thể tạo Presention bằng cách sử dụng Auto Conten
Wizard bằng cách sử dụng một kiểu mẫu có sẵn hoặc tạo một trình diễn trống.
- Tạo siêu liên kết (Hyperlink)
Tạo siêu liên kết là một tính năng rất đặc biệt ở trong PP, siêu liên kết
(Hyperlink) giúp cho người dùng có thể nhanh chóng chuyển từ một đối
tượng này sang một đối tượng khác mà không cần phải tìm kiếm hay thao tác
nhiều lần. Không những thế, chức năng siêu liên kết còn cho phép kết nối bài
giảng tới một file EXE bên ngoài, mà có thể là một bài giảng PP khác đã được
đóng gói, hoặc bất kỳ một PM nào khác.
- Tạo các hiệu ứng hoạt hình:
Với PP, người dùng có thể tạo ra các hiệu ứng hoạt hình rất ấn tượng
như: làm chữ bay, hình ảnh chuyển động, in nghiêng, bóng đổ…Các hiệu ứng
này có thể sử dụng kết hợp với nhau, đồng thời mỗi loại cũng có thể thay đổi
14
được các tham số một cách tuỳ ý, vì vậy sẽ tạo được rất nhiều các kết quả đẹp
mắt đồng thời tạo các hiệu ứng chuyển động và biến đổi.
- Kỹ thuật Trigger (kỹ thuật cò súng):

- Khả năng tích hợp đa phương tiện:
PM PP cho phép GV có thể dễ dàng chèn tranh ảnh, âm thanh, video
được chọn lọc từ CD, Internet hay tư liệu tự sưu tầm của GV vào các slide để
chiếu phóng lớn lên màn hình một cách đa dạng, sinh động và đảm bảo tính
trực quan cao. Điều đó, vừa giúp trẻ được tri giác về đối tượng, tập hợp số
lượng các đối tượng một cách rõ nét, vừa có tác động đến kỹ năng quan sát,
trí tưởng tượng, cũng như hình thành tư duy ngôn ngữ cho trẻ.
- Tiết kiệm thời gian, công sức chuẩn bị đồ dùng trực quan:
Theo phương pháp dạy học truyền thống, để chuẩn bị cho một tiết dạy
về biểu tượng số lượng GV phải đầu tư khá nhiều thời gian và công sức cho
việc chuẩn bị đồ dùng, như vậy GV sẽ không còn thời gian để đầu tư vào nội
dung bài giảng, điều đó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của giờ học. Nhưng với
PM PP, GV sẽ dễ dàng tạo ra nhiều đồ dùng trực quan bằng cách tìm kiếm và
dán vào slide.
- Tác động đến nội dung hình thành BTSL:
Khi thiết kế TC trên PP, mỗi TC được sắp xếp trên một slide và sắp xếp
theo trình tự nội dung hình thành BTSL giúp cho trẻ hiểu được thứ tự nội
dung hình thành BTSL, nắm được kiến thức, kỹ năng từ dễ đến khó, từ đơn
giản đến phức tạp.
Với nội dung đếm số lượng: GV có thể chèn nhiều đối tượng trên một
slide cho trẻ đếm, khi trẻ sử dụng chuột kích vào đối tượng để đếm thì con số
sẽ hiện ra, đồng thời trẻ vừa hình thành được khả năng đếm, vừa nhận biết
được chữ số.
Đối với nội dung so sánh, thêm bớt số lượng, chia nhóm đối tượng ra
thành 2 nhóm nhỏ với các cách khác nhau: GV có thể thiết kế nhiều dạng bài
tập khác nhau theo cấp độ từ dễ đến khó, đơn giản đến phức tạp để trong một
16
lần chơi trẻ vừa củng cố được kiến thức, kỹ năng đã học vừa mở rộng thêm
những kiến thức, kỹ năng mới.
- Dễ dàng sửa đổi và bảo quản:

giáo dục thành nhu cầu của bản thân.
Chỉ có thể qua những hoạt động phong phú được tổ chức tốt với phương
châm tập trung vào trẻ em (vì trẻ- vì sự hình thành của trẻ, do trẻ- trẻ chủ động
khởi xướng, dựa vào trẻ- huy động kinh nghiệm của trẻ và dựa vào đặc điểm
riêng của từng trẻ) mới bảo đảm sự hình thành của trẻ được thuận lợi.
Quan điểm 4: Tích hợp là con đường hình thành của trẻ thơ và tích hợp
cũng chính là bản chất của khoa học GDMN [26;103]. GDMN tạo thành một
hệ thống tác động đồng bộ đến nhân cách toàn vẹn của trẻ thông qua nhiều
hình thức mang tính tích hợp. Ứng dụng CNTT nói chung và phần mềm TC
nói riêng ở trường mầm non là một hoạt động tác động khá đồng bộ đến nhân
cách trẻ và hoạt động này mang tính tích hợp cao.
Quan điểm 5: GDMN cần gắn trẻ với cuộc sống con người
Gắn trẻ với cuộc sống của người lớn là xu thế đang hình thành mạnh mẽ ở
nhiều nước tiên tiến. Gắn trẻ với cuộc sống người lớn nhằm giúp trẻ thống nhất
thế giới biểu tượng với cuộc sống thực của con người, tạo cho trẻ một thái độ
tích cực đối với đời sống xã hội xung quanh mà sau này trẻ có nhiệm vụ cải tạo
và xây dựng nên. Tổ chức cho trẻ chơi các TC trên máy vi tính đã làm được
điều đó.
Quan điểm 6: GDMN chủ trương kết hợp giáo dục trẻ trong nhóm với
việc cá biệt hoá quá trình giáo dục đối với mỗi trẻ.
Sử dụng các TC có tác dụng giáo dục trên máy vi tính là một phương
tiện rất hữu hiệu trong việc giáo dục trẻ trong nhóm. Khi nhóm trẻ cùng chơi
TC trên máy tính kích thích sự hình thành các quan hệ xã hội như phân lượt,
đàm phán làm việc nhóm và cộng tác với nhau. Mặt khác, GV tổ chức hoạt
động này cũng cần chú ý tới những đặc điểm tâm sinh lí và hoàn cảnh hình
thành riêng của từng trẻ.
18
1.3. Cơ sở thực tiễn
1.3.1. Thực trạng việc thiết kế TC bằng PM PP và biện pháp sử dụng
nhằm hình thành BTSL cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong trường mầm non

- Phương pháp thống kê và xử lí số liệu.
e. Kết quả
• Nhận thức của GV về vai trò của việc hình thành biểu tượng số
lượng cho trẻ 5-6 tuổi.
Đại đa số các GV đều nhận thấy rằng việc hình thành biểu tượng số
lượng cho trẻ 5-6 tuổi đóng một vai trò rất quan trọng đối với việc giáo dục
trẻ mầm non (85% ý kiến GV cho là rất quan trọng, còn lại đánh giá là quan
trọng). Tuy nhiên GV chưa nhận thức đầy đủ và chính xác về nội dung cần
hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi (45% nhận thức đúng, 55%
nhận thức chưa đúng)
• Đánh giá của GV về việc ứng dụng CNTT vào quá trình hình thành
BTSL cho trẻ 5-6 tuổi.
Qua quá trình điều tra chúng tôi nhận thấy GV đã nhận thức được vai trò,
ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT vào quá trình giảng dạy nội dung hình thành
BTSL. 100% ý kiến GV cho rằng việc ứng dụng CNTT vào quá trình hình thành
biểu tượng số lượng là cần thiết. Theo họ, CNTT mang lại sự mới mẻ cho giờ
học, trẻ sẽ hứng thú hơn và tiết dạy sẽ đạt được hiệu quả giáo dục cao.
• Thực trạng về việc sử dụng PM PP để thiết kế bài giảng và thiết kế TC.
Đối với GV mầm non, PM PP đã trở thành một PM rất gần gũi và hữu
ích trong việc hỗ trợ thiết kế bài giảng cũng như thiết kế một số TC đơn giản
phục vụ cho quá trình học tập và giảng dạy. Qua phiếu điều tra cho thấy,
100% GV đã từng sử dụng PP để thiết kế bài giảng. Một số GV đã bước đầu
sử dụng PP để thiết kế TC nhằm hình thành BTSL cho trẻ trong những kì thi
GV giỏi, khảo sát chuyên đề…
• Những khó khăn mà GV thường gặp trong việc sử dụng PM PP để
thiết kế TC.
20
Bảng 1.1: Kết quả đánh giá của GV về những khó khăn thường gặp
trong việc sử dụng PM PP để thiết kế TC.
Những khó khăn Số lượng

đủ đáp ứng, mặt khác sau khi học mà lại cho trẻ ngồi ngay vào máy sẽ khiến lớp
láo nháo, GV không quản lí được trẻ. Chính những lí do đó sẽ không đảm bảo
được hiệu quả của hoạt động.
Phần đông GV tổ chức cho trẻ chơi TC trên PM PP ở tất cả các thời
điểm (chiếm 55%). Theo họ, TC trên máy tính luôn hấp dẫn trẻ nên tổ chức ở thời
điểm nào đi chăng nữa trẻ vẫn hứng thú, đồng thời các thao tác trên máy cũng như
nhiệm vụ học tập ở các TC phải cho trẻ rèn luyện nhiều thì mới thành thạo và nắm
được kiến thức hiệu quả.
- Thời gian:
Qua kết quả khảo sát cho thấy, ý kiến của các GV về thời gian tổ chức
cho trẻ chơi TC trên PM PP khác nhau: cho trẻ chơi 15-20 phút (chiếm 17%); 20-
25 phút (chiếm 15%); số đông ý kiến cho trẻ chơi 25-30 phút (60%); số ít GV cho
trẻ chơi trên 30 phút (chiếm 8%). Từ kết quả trên, ta có thể nhận thấy rằng nhà
trường chưa có kế hoạch, thời gian cụ thể cho việc tổ chức hoạt động này, vì thế
mỗi GV lại cho trẻ chơi TC ở trong khoảng thời gian khác nhau. Việc tổ chức cho
trẻ chơi TC trên PM PP trong thời gian quá dài hoặc quá ngắn đều không mang lại
hiệu quả và không đáp ứng được mục tiêu đề ra.
- Hình thức:
10% GV cho rằng nên tổ chức cho trẻ chơi TC trên PP theo hình thức
cá nhân; 65% số GV cho rằng nên tổ chức theo nhóm, mỗi nhóm gồm 2-3
trẻ/máy, vì số lượng máy không đáp ứng đủ mỗi trẻ một máy và khi chơi theo
nhóm trẻ sẽ có cơ hội giao tiếp với nhau, giúp đỡ học hỏi nhau; 25% số GV
được điều tra cho rằng nên tổ chức theo hình thức cả lớp, vừa không tốn nhiều
thời gian, vừa giúp GV bao quát được trẻ.
• Về một số biện pháp sử dụng TC trên PM PP
Bảng 1.2: Kết quả đánh giá của giáo viên về biện pháp
22
sử dụng TC trên PM PP
Biện pháp Số lượng
Lập kế hoạch tổ chức cho trẻ chơi TC bằng PM PP 14%

xã Quảng Lạc- huyện Nho Quan
b. Nội dung đánh giá
Đánh giá mức độ hình thành BTSL bao gồm:
Dạy trẻ đếm trong phạm vi 10 và đếm theo khả năng. Nhận biết các
chữ số, số lượng và số thứ tự trong phạm vi 10.
So sánh số lượng các nhóm đối tượng trong phạm vi 10
Biết thêm, bớt trong phạm vị 10 nhằm biến đổi số lượng. Hiểu được
mối quan hệ số lượng trong phạm vị 10.
Biết tách một nhóm đối tượng ra làm hai nhóm nhỏ theo nhiều cách
khác nhau và xếp thứ tự trong phạm vi các số đã học.
c. Các tiêu chí và thang đánh giá
Tiêu chí đánh giá
- Tiêu chí 1: Đếm, xác định số lượng trong phạm vi các số đã học,
khái quát số lượng các nhóm đối tượng bằng thẻ số (5 điểm)
- Tiêu chí 2: So sánh số lượng các nhóm đối tượng (5 điểm)
- Tiêu chí 3: Thêm, bớt trong phạm vị số đã biết (5 điểm)
- Tiêu chí 4: Chia số lượng một nhóm đối tượng thành 2 nhóm theo
các cách khác nhau và khái quát kết quả chia bằng con số (5 điểm)
Thang đánh giá:
Dựa vào các tiêu chí ở trên, chúng tôi xây dựng nội dung bài khảo sát
nhằm đánh giá mức độ hình thành BTSL của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi bằng hệ
thống bài tập bao gồm: 4 bài tập theo 4 tiêu chí, mỗi bài tập gồm những bài
tập nhỏ, mỗi bài tập nhỏ được 1 điểm (hệ thống bài tập ở phụ lục 2) Tổng
điểm tối đa cho tất cả các bài khảo sát là 20 điểm. Dựa trên kết quả thực hiện
bài khảo sát của từng trẻ, chúng chúng tôi phân loại mức độ hình thành BTSL
của trẻ. Cụ thể:
- Mức độ 1: Giỏi (18-20 đ)
- Mức độ 2:Khá (14-17 đ)
24
- Mức độ 3: Trung bình (10-13 đ)

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status