luận văn đại học sư phạm hà nội Một số biện pháp nâng cao khả năng thể hiện múa cho trẻ mẫu giáo lớn - Pdf 26

A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
“Ước muốn ngày nào, ôm Êp trong tim mai đây là cô giáo”…
Bài hát Êy, câu hát Êy không chỉ là giấc mơ của tôi mà còn là của cả gia
đình tôi, từ khi chóng tôi còn học phổ thông. Cũng như một bài hát đã viết “Mùa
xuân a đi hái hoa, còn tôi đi nuôi dạy trẻ… em yêu những đôi môi đỏ, những đôi
má hồng…”. Đó cũng là mơ ước, là tình yêu giúp tôi lựa chọn theo học nghề cô
giáo mầm non và gắn bó với nghề hơn.
Để đáp ứng với nhu cầu và sự phát triển lớn mạnh của đất nước Đảng ta đã
đặt ra nhiệm vụ phải phát triển nền giáo dục và đào tạo, đặc biệt là luôn quan
tâm đến thế giới trẻ thơ, người xưa có câu “Đi một ngày đàng, học một sàng
khôn”. Vì giáo dục mầm non là nền móng sau này cho các bậc học khác, giáo
dục mầm non là giáo dục toàn bộ đức, trí, thể, mỹ cho trẻ giúp trẻ phát triển toàn
diện.
Mét trong những hoạt động được chú trọng trong trường mầm non đó là
hoạt động giáo dục âm nhạc và múa. Đây là hoạt động góp phần hình thành và
hoàn thiện nhân cách cho trẻ.
“Nghệ thuật múa là một loại hình nghệ thuật đặc thù”, phương tiện thể hiện
chúng là con người, ngôn ngữ được biểu hiện bằng các động tác, dáng dấp, cử
chỉ, điệu bộ, nét mặt cùng với sự chuyển động, hoạt động có tính logic có thể
phản ánh một sự việc, một sự kiện, một tình cảm nào đó hay chuyển tải một nội
dung hoặc tư tưởng… Múa là phương tiện giáo dục thẩm mỹ, nghệ thuật múa là
bức “Điêu khắc sống” để là cho một bức điêu khắc múa, ở múa chính là con
người thể hiện gây Ên tượng sâu sắc tới những người thưởng thức. Nó mang
trong mình về màu sắc, nó có vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện các chức
năng hoạt động.
1
Từ khi cất tiếng khóc chào đời, trẻ đã nghe được những lời ru à ơi của mẹ,
những động tác vuốt ve, âu yếm của người thân. Trẻ cảm nhận được tình yêu
thương đùm bọc đó bằng ánh mắt và một số vận động cơ thể. Lớn lên, khi trẻ
chập chững bước vào trường học đầu tiên – trường học mầm non, những bài hát,

cơ bản, múa mô phỏng, múa minh hoạ, múa biểu hiện – ngôn ngữ. Nhằm phát
triển năng lực cảm thụ, sáng tạo, tưởng tượng và giáo dục thẩm mỹ cho trẻ.
III. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Các cháu mẫu giáo lớn đã được đi học, được làm quen và tiếp xúc với múa
từ lớp mẫu giáo bé.
Các giáo viên được trang bị cơ sở lý thuyết và có năng khiếu trong hoạt
động múa.
Cơ sở vật chất của trường mầm non tương đối đầy đủ đáp ứng các nhu cầu
tổ chức dạy múa cho trẻ.
Việc nghiên cứu đưa vào chương trình giáo dục một số biện pháp nâng cao
khả năng thể hiện múa cho trẻ mẫu giáo lớn sẽ giúp cho trẻ trong giờ học múa
khi tiếp thu các động tác, hình thức minh hoạ mới.
Nếu tổ chức dạy múa cho trẻ bằng nhiều biện pháp phong phú, phù hợp với
nội dung nghệ thuật múa thì sẽ tác động đến trẻ tốt hơn.
Trẻ sẽ thể hiện các tiết mục tốt hơn, trẻ cảm thụ nghệ thuật và thuận lợi
trong việc phát triển toàn diện nhân cách của trẻ.
IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài
- Tìm hiểu thực trạng
+ Chương trình giáo dục âm nhạc, vận động theo nhạc cho trẻ mẫu giáo lớn
hiện nay.
+ Nghiên cứu về khả năng tiếp thu nghệ thuật múa và vận động múa của trẻ
mẫu giáo lớn.
3
+ Thông qua một số bài hát múa lựa chọn, đề xuất ra các biện pháp mới để
nâng cao khả năng múa cho trẻ.
+ Đề xuất sư phạm, rót ra kết luận sư phạm và đề xuất ứng dụng vào thực tế
V. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU – KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng thể hiện
múa cho trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi).

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Nghệ thuật múa là loại hình nghệ thuật có từ sớm nhất của loài người, nó
tồn tại và phát triển theo lịch sử văn hóa và lịch sử phát triển trí tuệ của con
người. Ngay từ thuở bình minh của bộ người nguyên thuỷ, nghệ thuật múa đã
xuất hiện như một nhu cầu thiết yếu trong đời sống văn hoá tinh thần và phát
triển ngày càng hoàn thiện.
Từ thời kỳ xã hội nguyên thuỷ, sang thời kỳ chiếm hữu nô lệ rồi đến thời kỳ
xã hội phong kiến, đến chế độ tư bản và lên chủ nghĩa xã hội. Múa được phát
triển theo từng thời kỳ. Đầu tiên chưa có định hướng, sau đó múa mang tính mô
phỏng, múa thể hiện các nội dung sinh hoạt của con người, rồi múa ngày càng
được nâng cao thành các thể loại múa, hình thức múa và các dòng múa. Đến nay
múa có sự định hướng và hướng con người đến chân – thiện – mỹ, nó chiếm vị
trí quan trọng trong nền văn hoá dân tộc và đời sống văn hoá xã hội. Ta có thể
thấy điều này qua “Mô hình nghệ thuật múa phát triển qua các thời kỳ”.
Nh vậy có thể kết luận: Lịch sử phát triển nghệ thuật múa gắn liền với sự
phát triển của loài người. Múa còn có các chức năng cơ bản giáo dục, phản ánh,
góp phần cải tạo xã hội, định hướng thẩm mỹ và phát triển thể chất. Với những
chức năng này, chúng ta thấy múa rất gần gũi với cuộc sống của con người. Con
người không chỉ là nhu cầu thưởng thức mà còn nhu cầu muốn học, muốn sáng
tạo ra nó. Việc tìm hiểu một số biện pháp nâng cao khả năng thể hiện múa cho
trẻ mẫu giáo lớn là rất cần thiết.
Có rất nhiều tác giải viết về vai trò giáo dục của nghệ thuật múa nói chung
và nghệ thuật múa cho trẻ mẫu giáo nói riêng. Vì múa có tầm quan trọng trong
đời sống con người, nghệ thuật múa có chức năng đóng vai trò rất quan trọng
trong sự phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ. Hiện nay, có rất nhiều nhà sư
6
phạm đi sâu nghiên cứu về nghệ thuật múa cho trẻ mầm non nh: “Cải tiến một số
hình thức vận động theo nhạc cho trẻ 5-6 tuổi”. Dựa vào khả năng tiếp xúc nghệ
thuật của trẻ, tác giả đã đưa ra một số phương pháp mới trong tiết học nhằm phát

tự nhiên và đấu tranh xã hội của con người. Nghệ thuật múa còn chịu ảnh hưởng
của môi trường tự nhiên, kinh tế, văn hoá, xã hội và các tập tục của cộng đồng.
Trải qua thực tiễn lao động có sáng tạo và tiến trình lịch sử mà nghệ thuật múa
ngày một hoàn thiện.
Nghệ thuật múa có những cơ bản la giàu tính cách, khái quát tạo hình dựa
trên cơ sở lao động, sinh hoạt, thể hiện mọi lĩnh vực tình cảm của con người.
Phương tiện thể hiện nghệ thuật múa là con người. Quá trình biểu diễn của
con người là quá trình biểu đạt ngôn ngữ, động tác, đội hình, luôn hoà điệu với
nghệ thuật âm nhạc, mỹ thuật. Nó là loại hình nghệ thuật có tính nguyên hợp các
thành tố nghệ thuật biểu diễn.
2. Thực tiễn nghệ thuật múa
Trải qua tiến trình lịch sử nghệ thuật múa đã hình thành 4 hình thái: Múa
dân gian, múa cung đình, múa tôn giáo, múa tín ngưỡng. Trong nghệ thuật múa
chia ra 2 loại: múa mô phỏng và múa biểu diễn.
Nghệ thuật múa có chức năng giáo dục nhận thức, phản ánh giáo dục thẩm
mỹ, văn hoá xã hội, nghệ thuật múa có bản chất là thẩm mỹ, Jan Jooc Nove (Nhà
biên đạo người Pháp) nói: “Động tác là tiếng nói thứ hai của con người, nhưng ta
chỉ nghe được khi tâm hồn bắt nói nói lên”. Có thể nói tất cả những hoạt động
trong ngôn ngữ động tác múa là yếu tố quyết định tới sự tồn tại và phát triển của
nghệ thuật múa, phản ánh hoạt động của xã hội, góp phần cải tạo xã hội. Nghệ
thuật múa tồn tại chính là để phục vụ, nhằm giáo dục đạo đức, nâng cao tính
thẩm mỹ cho con người.
3. Định nghĩa về nghệ thuật múa
8
“Nghệ thuật múa là một loại hình nghệ thuật đặc thù” phương tiện thể hiện
bằng cơ thể con người, ngôn ngữ thể hiện bằng động tác, dáng dấp, cử chỉ, điệu
bộ tình cảm nào đó được hoạch định.
III. VAI TRÒ CHỨC NĂNG CỦA NGHỆ THUẬT MÚA
1. Các chức năng cơ bản của nghệ thuật múa
“Mục tiêu của giáo dục đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đò tạo nhân lực, bồi

cho đều, đẹp và hoàn chỉnh. Không phá đám, không bỏ cuộc giữa chứng đòi hỏi
trẻ phải có tính kỷ luật cao mới làm được.
Múa trên nền nhạc tạo ra những điều kiện cần thiết đối với sự hình thành
những phẩm chất đạo đức, nhân cách của trẻ, đặt ra những cơ sở ban đầu cho văn
hoá chung của người công dân tương lai. Khi múa, trẻ thể hiện động tác bắt
nguồn từ thực tiễn chứ không phải bịa đặt, nên khi múa hát tập thể, trẻ biết cảm
thông và quan tâm đến nhau. Đối với điệu múa dân gian, xúc cảm mang đến cho
trẻ thơ là niềm tự hào dân tộc, trẻ thêm yêu quê hương đất nước. Ngoài ra, ở mỗi
màn múa hoạt cảnh, các hình thức múa cũng đem lại nội dung giáo dục đạo đức
cho trẻ.
1.2. Múa là phương tiện giáo dục trí tuệ cho trẻ mầm non
Múa là phương tiện đẩy mạnh khả năng cảm thụ âm nhạc của trẻ thơ nên nó
cũng gắn liền với sự phát triển trí tuệ của trẻ. Khi múa đòi hỏi trẻ phải chú ý
quan sát, linh hoạt phối hợp các động tác với nhau một cách tuần tự, logic đồng
thời phải lắng nghe giai điệu âm nhạc. Với những tác phẩm múa phức tạp như
các bài hát tập thể, múa dựng hình tượng hoạt cảnh đòi hỏi trẻ phải lắng nghe
giai điệu, nghe nhạc; ghi nhớ diễn, đội hình chuyển động, thứ tự tác động tác
múa, vị trí từng người để điều chỉnh đội hình cho đẹp. Như vậy trên cơ sở liên
kết thống nhất các cơ quan vận đông thính giác, thị giác, giúp trí nhớ trẻ phát
10
triển. Theo từng độ tuổi, các bài tập kỹ năng múa ngày càng khó dần và phức tạp
hơn, đòi hỏi trẻ phải tích cực tư duy, dần dần trẻ có thể tự hình dung ra các động
tác, hình tượng phù hợp với lời ca, làm cho trí tưởng tượng của trẻ ngày càng
phong phó.
1.3. Múa góp phần phát triển thể chất cho trẻ mầm non
Múa là sự biểu hiện của cảm xúc âm nhạc bằng hình thể, động tác, tư thế
của con người. Khi trẻ múa đòi hỏi sự hoạt động của toàn thân, nên từ đó huy
động được tất cả các cơ quan trong cơ thể cùng tham gia hoạt động. Nhịp điệu
nhanh, sự tuần hoàn của máu tăng, hô hấp tăng, trẻ thở nhanh, mạnh làm nở
phổi, bài tiết ra nhiều mồ hôi. Trẻ tích cực múa làm cho hệ vận động phát triển,

Nghệ thuật múa là một hình thái ý thức xã hội. Nó ra đời do nhu cầu của
con người trong cuộc sống để biểu đạt nhận thức, hoạt động, tư tưởng, tình cảm
của mình. Khi con người mới được tiến hoá từ loài vượn, ngôn ngữ múa đã trở
thành nhu cầu của xã hội nguyên thuỷ, ban đầu nó mang trong mình yếu tố kịch
câm. Mỗi khi muốn truyền đạt kinh nghiệm lao động, săn bắt… họ thường dùng
ngôn ngữ múa để diễn đạt, để mọi người cùng học tập, bắt chước, hoặc khi muốn
tập thể cùng thống nhất phải dùng ngôn ngữ múa để đồng nhất sức lực, hành
động.
Trong quá trình lao động, tình cảm của con người trong xã hội ngày càng
gắn bó yêu thương, lúc đó họ lại cùng nhau cầm tay reo hò, nhảy múa xung
quanh đống lửa. Những điệu múa chỉ dừng lại ở chỗ dậm chân, vỗ tay, hò reo
biểu lộ sự phấn khích của mình. Ngày nay, sự phát triển của nghệ thuật múa còn
là con đường giáo dục tốt nhất. Thông qua múa có thể làm rung động những trái
tim, khối óc, làm cho cong người xích lại gần nhau hơn. Tính chất giáo dục của
múa không mạnh mẽ dữ dội mà nhẹ nhàng bền bỉ nhưng không kém phần sâu
sắc.
12
Nghệ thuật múa còn giúp con người thể hiện sự dạt dào, say mê, bay bổng,
tình yêu trong lao động, tình yêu lứa đôi, tình yêu quê hương đất nước. Múa đạt
được mục tiêu là đưa con người đến sự hoàn thiện của nhân cách.
Múa là tấm gương phản ánh đời sống hiện thực, là sự chọn lọc, nhào nặn có
sáng tạo của người nghệ sĩ. Thông qua các động tác được cách điệu đã đem đến
cho người xem những tư tưởng, nội dung cần thiết.
2.2. Vai trò của nghệ thuật múa đối với trẻ trong trường mầm non
Đối với trẻ mầm non, nghệ thuật múa góp phần hình thành nhân cách của
trẻ. Nghệ thuật múa còn là phương tiện để giáo dục đạo đức, thẩm mĩ, trí tuệ, thể
chất cho trẻ.
Múa mang lại cho trẻ thơ một thế giới kỳ diệu không ngừng chuyển động,
gợi cho trẻ những cảm giác thú vị, thoả mãn nhu cầu khao khát được hiểu biết và
được hoạt động của trẻ. Đồng thời tác động mạnh mẽ đến sự phát triển tâm lý,

quanh, do đó mà năng khiếu nghệ thuật thường được nảy sinh. Ngay từ tuổi nhỏ,
trẻ luôn say mê mong ước tạo ra được nhiều cái đẹp, ước mình đẹp hơn.
Đến tuổi mẫu giáo tư duy của trẻ đã chuyển dần từ tư duy trực quan hành
động sang tư duy trực quan hình tượng. Việc thay thế này giúp trẻ nhìn sự vật,
hiện tượng một cách toàn diện, chứ không tách rời từng mảng, từng bộ phận một
cách khô cứng.
Cùng với sự phát triển tư duy thì trí tưởng tượng của trẻ cũng trở nên phong
phú hơn, trẻ có khả năng dùng vật này thay thế cho vật khác và hành động với
vật thay thế nh đồ vật có thật.
Việc biết sử dụng các hệ thống ký hiệu khác nhau để biểu thị các sự vật hiện
tượng của hiện thực, làm giàu thêm trí tưởng tượng của trẻ. Ví dụ: từ chiếc bánh
thành trống, thìa thành dùi, cái tăm thành cuống diêm, cuộn tờ giấy thành micro
để hát
14
Một đặc điểm nữa về sự phát triển tâm lý của trẻ là khả năng bắt chước và
thích bắt chước. Nhờ khả năng này mà trẻ có thể tiếp nhận hay nói một cách
khác “bắt chước” một cách nhanh chóng những bài luyện tập múa theo sự hướng
dẫn của cô giáo.
2. Đặc điểm phát triển vận động ở trẻ
Đến tuổi mẫu giáo, trẻ đã dần hoàn thiện một số chức năng, trẻ đi đứng chạy
nhảy vững vàng. Tuy nhiên, xương trẻ còn mềm do có nhiều sụn. Về khả năng
vận động trẻ biết phối hợp nhịp nhàng giữa tay, chân. Theo tài liệu “Tâm lý vận
động” của Viện nghiên cứu trẻ em thuộc Viện khoa học giáo dục thì trẻ mầm
non đã biết giữ thăng bằng trực quan cảm tính. Do đó các hoạt động vui chơi
nhảy múa là điều kiện để trẻ bộc lộ nhu cầu giao tiếp với mọi vật xung quanh,
làm cho trẻ có năng lực cảm thụ nghệ thuật một cách tốt nhất.
3. Khả năng cảm thụ nghệ thuật múa ở trẻ 5-6 tuổi
Các vận động cơ thể của trẻ gần như thành thạo, khả năng nghe nhạc của trẻ
cũng phát triển hơn vì vậy nghệ thuật múa rất phù hợp với trẻ. Trẻ có khả năng
thực hiện tốt các động tác khi được tiếp xúc với các tác phẩm múa phù hợp.

mẫu giáo.
* Hạn chế
- Trình độ múa và sáng tạo nghệ thuật múa cho trẻ của giáo viên mầm non
còn hạn chế.
- Đa số các giáo viên chỉ thực hiện dạy trẻ một số bài múa đơn giản như
trong chương trình gợi ý. Múa chỉ mang ý nghĩa vận động theo lời ca.
- Bộ môn giáo dục âm nhạc ở trường mầm non có rất Ýt bài múa, mà đa số
là các bài vận động theo nhạc.
- Múa gắn liền với giờ học giáo dục âm nhạc, mà chưa được tách rời thành
một hoạt động học tập độc lập.
16
- Cơ sở vật chất cho của các trường mầm non phụ vụ cho bộ môn múa còn
nghèo nàn, chưa đúng quy cách và chưa được quan tâm nhiều.
- Còn nhiều trẻ Ýt có điều kiện tiếp xúc múa nên khả năng múa còn hạn chế.
Đa số trẻ chỉ biết vỗ tay theo nhịp, theo tiết tấu, vận động theo nhạc và múa minh
hoạ một số bài đơn giản.
CHƯƠNG II: NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MÚA CHO
TRẺ HIỆN NAY Ở TRƯỜNG MẦM NON LIÊN CƠ
I. KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRA
1. Địa bàn điều tra
Trên cơ sở quan sát điều tra về việc tổ chức cho trẻ múa ở một số lớp mẫu
giáo 5 tuổi ở trường mầm non Liên cơ. Tôi nhận thấy rằng cơ sở vật chất của
trường là tương đối đầy đủ, nhưng diện tích lớp rất chật hẹp, số trẻ trong cùng
một lớp quá đông. Vì vậy, chưa có phòng tập múa đủ tiêu chuẩn. Trẻ tập múa ở
trong lớp, sân trường, đây cũng là một trong những khó khăn của nhà trường
trong việc luyện tập và phát triển năng khiếu múa cho trẻ.
17
Trình độ giáo viên của trường đạt chuẩn (trung cấp) trở lên, nhiệt tình với
công việc, yêu nghề, mến trẻ. Trẻ học tập tại trường đều khoẻ, tâm sinh lý phát
triển bình thường. Các cháu phần lớn đến trường ngay từ tuổi nhà trẻ và theo học

1. Phương pháp dạy của giáo viên
- Về phương pháp dạy của giáo viên: Hầu hết các giáo viên còn quá phụ
thuộc vào phân phối chương trình và hướng dẫn trong bài soạn gợi ý của trẻ,
chưa mạnh dạn thay đổi, sáng tạo các hình thức và dàn dựng các động tác mới.
Giáo viên chưa sưu tầm bổ sung những bài múa ngoài chương trình để mở rộng
nhận thức của trẻ, tránh sự nhàm chán của trẻ, phát triển khả năng cảm thụ và
yêu thích nghệ thuật múa.
Trên thực tế cho thấy trẻ được làm quen với các động tác múa minh hoạ
bằng các hình thức khác nhau, xem các buổi biểu diễn vào chiều thứ 6, xem các
buổi biểu diễn của ngày lễ hội trong trương trình mầm non, xem qua băng hình
hoặc trên tiết học âm nhạc.
đơn điệu chưa phù hợp với nội dung, giáo viên chưa thể hiện được sắc thái.
Trên tiết dạy giáo dục âm nhạc cho trẻ, giáo viên chỉ dạy một cách thụ động, dập
khuôn, máy móc. Vì thế chưa gây cho trẻ được sự say mê, yêu thích những điệu
múa mới.
Qua điều tra một số lớp mẫu giáo lớn, tôi thấy giờ tổ chức cho trẻ nghe một
số bài hát có tính chất vui tươi, rộn ràng và có thể cho trẻ múa cùng cô thì giáo
viên lại không làm như vậy. Thậm chí có bài cô không múa minh hoạ lời ca mà
chỉ hát cho trẻ nghe, cho trẻ nghe qua đàn, qua băng đĩa. Còn các bài hát cô có
múa minh hoạ thì những động tác còn và tình cảm qua động tác minh hoạ. Như
vậy, giáo viên thực hiện chương trình còn dập khuôn máy móc, chưa phát huy
cao tính sáng tạo nghệ thuật, chưa khai thác được nhiều yếu tố trong bài hát để
có thể làm cho tiết học phong phó, sinh động. Đặc biệt, các cô giáo chưa chú ý
19
lựa chọn các bài ngoài chương trình có nội dung và tính chất phù hợp với trẻ để
đưa vào bài dạy.
2. Khả năng tiếp nhận của trẻ
Các cháu rất thích múa, dù chỉ là múa vài bài trong chương trình. Dù giáo
vien tạo cho trẻ niềm say mê múa thì trẻ vẫn say sưa thể hiện một cách tự nhiên,
vui vẻ. Điều đó chứng tỏ rằng múa là một nhu cầu thiết yếu của trẻ, trẻ sẽ được

+ Bài hát múa phải đáp ứng được yêu cầu giáo dục, phù hợp với sở thích và
khả năng tiếp thu của trẻ.
+ Bài hát múa phải có nội dung gắn liều với các hiện tượng tự nhiên, xã hội
gần gũi với trẻ.
+ Về âm nhạc: Nó có hình tượng rõ ràng trong sự thống nhất với lời ca, nhịp
điệu dễ nhớ, dễ thể hiện các động tác minh hoạ.
Tóm lại: Những bài hát được lựa chọn không phải là mới, nó có nội dung
phản ánh hiện thực gần gũi với trẻ. Tôi sử dụng những biện pháp khác nhau
trong mỗi bài, tích hợp các bộ môn khác vào bài dạy để có hiệu quả giáo dục tốt
hơn với trẻ.
Vì vậy, tôi lựa chọn những bài hát sau:
1. Đi học
2. Múa cho mẹ xem
3. Inh lả ơi
2. Các biện pháp
* Biện pháp kế thừa
21
- Nghe trực tiếp: Cô hát múa, trẻ hát múa, xem bạn hát múa
- Nghe qua phương tiện: Nghe đài, nghe tivi, nghe đàn
* Biện pháp bổ sung
- Cô và cháu múa minh hoạ có sử dụng các loại dụng cụ, quần áo, trang
phục múa, ô màu, gùi đeo
- Cải tiến hình thức dạy múa cũ, áp dụng các hình thức đã học để dạy các
hình thức múa: múa minh hoạ, múa biểu diễn, múa sinh hoạt.
II. TIẾN HÀNH THỰC NGHIỆM
1. Địa bàn thực nghiệm
Tôi tiến hành thực nghiệm ngay tại trường mình đang công tác là trường
Mầm non Liên Cơ - TP Lạng Sơn – Tỉnh Lạng Sơn. Cơ sở vật cất của trường
còn gặp nhiều khó khăn, diện tích lớp chật hẹp. Nhưng trường có đội ngũ giáo
viên tương đối đồng đều, có năng khiếu về hát múa. Trường đã có nhiều thành

ngắn gọn thu hút trẻ tập trung chó ý vào bài nhằm gây hứng thú ngay từ đầu tiết
học. Khi muốn trẻ múa cùng cô giáo thì cô giáo phaỉ dùng biện pháp múa mẫu
chọn vẹn cả bài. Sau đó mới dùng lời ngắn gọn, dễ hểu để phân tích từng động
tác cho trẻ.
Tuỳ theo nội dung từng bài múa mà sử dụng các thủ thuật khác nhau để gây
hứng thú cho trẻ khi tiếp nhận những bài múa đó ở cả hai nhóm đối chứng và
thực nghiệm. Khi tính phần trăm, tôi đều đo ở cả 3 mức độ và cho điểm ở mỗi
mức độ đó. Việc cho điểm ở mỗi mức độ nhằm tính X để ra điểm trung bình
trong mức độ tập trung chó ý, hứng thú múa cho trẻ ở từng bài.
Thang đánh giá được chia ở mức độ sau:
- Mức độ cao (3 điểm): Trẻ thực hiện được 3 tiêu chí đó là đúng động tác,
đúng nhạc, diễn cảm.
23
- Mức độ trung bình (3 điểm): Trẻ thực hiện được 3 tiêu chí đó là đúng động
tác và đúng nhạc,
- Mức độ thấp (1 điểm): Trẻ thực hiện được 1 trong 2 tiêu chí đó là đúng
động tác nhưng không đúng nhạc hoặc đúng nhạc nhưng không đúng động tác.
Để tính % X tôi dùng phương pháp quan sát để cho điểm từng mức độ.
Cách tính %: T = S x 100/P
Trong đó: T là số phần trăm trẻ hứng thú múa ở mức độ đó
S là số trẻ hứn thú múa ở mức độ đó
P là tổng số trẻ tham gia thực nghiệm
Cách tính X: X = Q/P
Trong đó: X là tổng số điểu trung bình của trẻ ở cả 3 mức độ
Q là tổng điểm cộng lại
P là tổng số trẻ tham gia thực nghiệm
Tôi tiến hành đưa ra các biện pháp, các động tác múa mới vào nhóm thực
nghiệm và có sử dụng biện pháp kế thừa có sẵn trong chương trình, còn nhóm
đối chứng tôi chỉ sử dụng biện pháp, phương pháp và các động tác như trong bài
soạn gợi ý.

Kết quả % như sau:
- Mức độ 1: 15%
- Mức độ 2: 30%
- Mức độ 3: 55%
X = 1,6%
Bảng 1: Mức độ hứng thú trước khi thực hiện
Bài
Hứng thú múa
Mức độ 1 Mức độ 2 Mức độ 3 X (%)
1 20% 35% 45% 1,75%
2 25% 40% 35% 1,9%
3 15% 30% 55% 1,6%
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status