Khóa luận tốt nghiệp Trịnh khánh Huyền - K60D
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn khóa luận
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, để đạt tới mục
tiêu, lý tưởng cách mạng, cùng với việc khẳng định trước tiên phải có “Đảng
cách mạng” để lãnh đạo, dẫn dắt con thuyền cách mạng, Hồ Chí Minh hết sức
quan tâm đến việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân nhằm tập hợp, huy
động mọi lực lượng cách mạng, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời
đại để giành thắng lợi.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc trước hết thể hiện tư
tưởng nhân văn của Người, là sự kế thừa truyền thống yêu nước, tinh thần
cộng đồng của dân tộc Việt Nam, nền văn hóa Việt Nam, tư tưởng đoàn kết
quốc tế của chủ nghĩa Mác - Lênin, được xây dựng, bổ sung và phát triển
trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã minh
chứng, khi nào Đảng ta, dân tộc ta đoàn kết một lòng, thực hiện triệt để tư
tưởng đại đoàn kết của Người, thì cách mạng giành được nhiều thành công.
Trong giai đoạn hiện nay, để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đòi hỏi Đảng, Nhà nước phải xây dựng
và phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Sự nghiệp đổi mới
ngày càng phát triển, thúc đẩy quá trình hội nhập của nước ta vào nền kinh tế
thế giới ngày càng mạnh mẽ thì ý nghĩa của bài học nói trên càng có tính thời
sự sâu sắc. Vì vậy, yêu cầu thấm nhuần và vận dụng sáng tạo Tư tưởng Hồ
Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là một điều kiện không thể thiếu, giúp
chúng ta tìm ra những đối sách phù hợp, đưa sự nghiệp đổi mới tiếp tục tiến
lên giành thắng lợi mới. Trong thời gian qua, nhìn chung khối đại đoàn kết
toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân
và đội ngũ trí thức được mở rộng hơn, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, vấn đề đại đoàn kết dân tộc
hiện nay cần phải được xem xét và giải quyết tận gốc rễ trên quan điểm thực
1
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh khánh Huyền - K60D
2. Tình hình nghiên cứu
Đại đoàn kết dân tộc luôn là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng
của cách mạng nước ta. Do đó, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết
liên quan đến vấn đề này.
- Tác phẩm “Trường Chinh Tuyển tập (1937 - 1954)”, Nhà xuất bản Sự
thật, Hà Nội, trong đó có bài viết “Mặt trận dân tộc thống nhất và vấn đề đại
đoàn kết”.
- Tác phẩm “Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh”, của tác giả Phùng
Hữu Phú (Chủ biên), Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1995.
- Tác phẩm “Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến
mối quan hệ dân tộc hiện nay”, của tác giả Phan Hữu Dật (Chủ biên), Nhà
xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001.
- Tác phẩm Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam những chặng đường
vẻ vang, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội (2011), trong đó
có bài viết “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và mặt trận dân
tộc thống nhất” do các tác giả PGS, TS. Phạm Ngọc Anh, TS. Lê Văn Thịnh.
- Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (2008) đã có bài viết “Thành tựu của đất
nước là sức mạnh của đại đoàn kết dân tộc”, Tạp chí cộng sản, số 2 (1946).
- “Về tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh”, của Lê Ngọc, Tạp chí
Lịch sử Đảng, số 3- 1993.
- “Một số suy nghĩ về việc vận dụng, phát triển chiến lược đại đoàn kết
Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới”, của Phùng Hữu Phú, Tạp chí
Lịch sử Đảng, số 3- 1993.
- “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ”, của Hạnh
Nguyễn, Tạp chí Mặt trận, số 72, năm 2009.
- “Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập Mặt trận dân tộc thống nhất
và suốt đời xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc”, của Vũ Kim Trọng, Tạp chí
xây dựng Đảng, năm 2010.
3
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh khánh Huyền - K60D
Mai Châu, tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2008 - 2013.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu: Khóa luận sử dụng phương pháp duy vật
biện chứng mácxít, phương pháp logic, phương pháp lịch sử và các phương
pháp cụ thể như phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê…
6. Đóng góp của khóa luận
- Về lý luận: Khóa luận góp phần làm rõ nội dung Tư tưởng Hồ Chí
Minh về đại đoàn kết dân tộc.
- Về thực tiễn:
+ Khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên
cứu, giảng dạy, học tập và tuyên truyền Tư tưởng Hồ Chí Minh.
+ Cung cấp những luận chứng về cơ sở khoa học và thực tiễn cho lãnh
đạo huyện Mai Châu trong việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
Chương 2: Huyện Mai Châu - Tỉnh Hòa Bình với việc vận dụng Tư
tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc trong công tác xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân tộc (2008 - 2013)
5
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh khánh Huyền - K60D
Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
1.1. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh
1.1.1. Khái niệm tư tưởng
Tư tưởng là sự phản ánh hiện thực trong ý thức, là biểu hiện quan hệ
của con người với thế giới xung quanh. “Tư tưởng” ở đây không phải dùng
với ý nghĩa tinh thần - tư tưởng, ý thức tư tưởng của một cá nhân, một cộng
đồng, mà với nghĩa là một hệ thống những quan điểm, quan niệm, luận điểm
vận dụng và phát triển sáng tạo, chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với tình hình
và điều kiện cụ thể Việt Nam trong từng giai đoạn cách mạng.
1.2.1. Truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng
của dân tộc Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc được hình thành trên
những cơ sở tư tưởng - lý luận và thực tiễn rất phong phú. Trước hết, đó là
tinh thần yêu nước gắn liền với ý thức cộng đồng, ý thức cố kết dân tộc, đoàn
kết dân tộc được hình thành và củng cố trong hàng nghìn năm lịch sử đấu
tranh dựng nước và giữ nước của cả dân tộc, tạo thành một truyền thống bền
vững, thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn của mỗi con người Việt Nam.
Tinh thần, ý thức ấy đã tạo nên sức mạnh vô địch của cả một dân tộc để chiến
thắng mọi thiên tai địch họa, làm cho đất nước được trường tồn, bản sắc dân
tộc được giữ vững.
Tất cả đã ghi dấu ấn trong cấu trúc xã hội truyền thống, tạo thành quan
hệ ba tầng chặt chẽ: gia đình - làng xã - quốc gia (nhà - làng - nước) và cũng
trở thành sợi dây liên kết các dân tộc, các giai tầng trong xã hội Việt Nam.
7
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh khánh Huyền - K60D
Truyền thống ấy đã được tiếp nối trong tư tưởng tập hợp lực lượng dân
tộc của các nhà yêu nước trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược
và các thế lực phong kiến tiếp tay cho ngoại bang.
Hồ Chí Minh đã sớm tiếp thu được truyền thống yêu nước - nhân nghĩa
- đoàn kết của dân tộc. Người đã khẳng định “từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ
quốc bị xâm lăng thì tinh thần (yêu nước) ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn
sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn (đoàn kết), nó lướt qua mọi sự hiểm nguy, khó
khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Hơn nữa, còn phải
phát huy truyền thống đó trong giai đoạn cách mạng mới của dân tộc: “phải ra
sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của
tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc
kháng chiến”. [15, tr.172]
vào cuối thế kỷ XIX, đến các phong trào Đông Du, Duy Tân, chống thuế đầu
thế kỷ XX, các thế hệ người Việt Nam yêu nước đã nối tiếp nhau vùng dậy
chống ngoại xâm, nhưng đều thất bại. Thực tiễn hào hùng, bi tráng của dân
tộc đã chứng tỏ rằng, bước vào thời đại mới, chỉ có tinh thần yêu nước thì
không thể đánh bại được các thế lực đế quốc xâm lược. Vận mệnh của đất
nước đòi hỏi phải có một lực lượng lãnh đạo mới, đề ra được một đường lối
cách mạng đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử và những
yêu cầu của thời đại mới, đủ sức quy tụ được cả dân tộc vào cuộc đấu tranh
chống đế quốc thực dân, xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc bền vững
thì mới giành được thắng lợi. Trước khi ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí
Minh đã thấy được những hạn chế trong việc tập hợp lực lượng của các nhà
yêu nước tiền bối, những yêu cầu khách quan mới của lịch sử dân tộc.
Trong quá trình đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã tiến hành
khảo sát tình hình các nước tư bản chủ nghĩa và các nước thuộc địa ở hầu
khắp các châu lục. Người đã nghiên cứu các cuộc cách mạng tư sản, đặc biệt
là Cách mạng Mỹ và Cách mạng Pháp, nguyên nhân dẫn đến thắng lợi của
giai cấp tư sản, cũng như tại sao những cuộc cách mạng tư sản vẫn chỉ là cách
9
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh khánh Huyền - K60D
mạng không đến nơi. Tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh của các
dân tộc thuộc địa, Hồ Chí Minh thấy rõ sức mạnh tiềm ẩn to lớn của họ và
cũng thấy rõ những hạn chế, các dân tộc thuộc địa chưa có được sự lãnh đạo
đúng đắn, chưa biết đoàn kết lại, chưa có tổ chức và chưa biết tổ chức.
Cách mạng Tháng Mười Nga cùng với V.I.Lênin, người lãnh đạo thắng
lợi cuộc cách mạng đó, đã đưa Hồ Chí Minh đến bước ngoặt quyết định trong
việc tìm đường cứu nước. Từ chỗ chỉ biết đến cách mạng Tháng Mười một
cách cảm tính, Người đã nghiên cứu để hiểu một cách thấu đáo con đường
Cách mạng Tháng Mười và những bài học kinh nghiệm quý báu mà cuộc cách
mạng này đã đem lại cho phong trào cách mạng thế giới, đặc biệt là bài học
về huy động, tập hợp lực lượng quần chúng công nông đông đảo để giành và
để thực hiện đoàn kết dân tộc. Nhờ tư tưởng nhất quán và chính sách mặt
trận đúng đắn, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng thành công
khối đại đoàn kết dân tộc, đưa cách mạng Việt Nam giành được nhiều
thắng lợi to lớn. Hồ Chí Minh viết: “Đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh,
nhân dân ta đã làm Cách mạng tháng Tám thành công, lập nên nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa.
Đoàn kết trong Mặt trận Liên Việt, nhân dân ta đã kháng chiến thắng
lợi, lập lại hòa bình ở Đông Dương, hoàn toàn giải phóng miền Bắc.
Đoàn kết trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhân dân ta đã giành được
thắng lợi trong công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo chủ nghĩa và trong sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc”. [18, tr.604]
Từ thực tiễn, Hồ Chí Minh đã khái quát thành nhiều luận điểm có tính
chân lý về vai trò của khối đại đoàn kết.
Đoàn kết làm ra sức mạnh. Hồ Chí Minh rất nhiều lần nhấn mạnh luận
điểm này. Người viết: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết chặt
chẽ, thì chúng ta nhất định có thể khắc phục mọi khó khăn, phát triển mọi
11
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh khánh Huyền - K60D
thuận lợi và làm trọn nhiệm vụ nhân dân giao phó” [16, tr.392]; “Đoàn kết là
một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành lấy thắng
lợi” [16, tr.397]; “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi” [19, tr.22];
“Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”…[19, tr.154]
1.3.2. Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của
cách mạng
Đại đoàn kết dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, đồng thời cũng là
nhiệm vụ hàng đầu trong mọi giai đoạn cách mạng. Nhấn mạnh vấn đề này là
nhấn mạnh tới vai trò của thực lực cách mạng. Bởi vì, cách mạng muốn thành
công nếu chỉ có đường lối đúng thì chưa đủ, mà trên cơ sở của đường lối
đúng, Đảng phải cụ thể hóa thành những mục tiêu, nhiệm vụ và phương pháp
cách mạng phù hợp với từng giai đoạn lịch sử để lôi kéo, tập hợp quần chúng,
mối liên hệ cả quá khứ và hiện tại, họ là chủ thể của khối đại đoàn kết dân tộc
và đại đoàn kết dân tộc thực chất là đại đoàn kết toàn dân.
Nói đại đoàn kết dân tộc cũng có nghĩa là phải tập hợp được tất cả mọi
người dân vào một khối trong cuộc đấu tranh chung. Theo ý nghĩa đó, nội
hàm khái niệm đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất phong phú, nó
bao gồm nhiều tầng, nhiều cấp độ các quan hệ liên kết qua lại giữa các thành
viên, các bộ phận, các lực lượng xã hội của dân tộc từ nhỏ đến lớn, từ thấp
đến cao, từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới… Hồ Chí Minh đã nhiều lần
nói: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu dài… Ta
đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải
đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có lòng phụng sự Tổ quốc
và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ” [16, tr.438]. Từ “ta” ở đây là chủ
thể, vừa là Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng, vừa là mọi người dân Việt
Nam nói chung.
Người còn chỉ rõ, trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân
phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, giải quyết hài hòa mối
13
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh khánh Huyền - K60D
quan hệ giai cấp - dân tộc để tập hợp lực lượng, không được phép bỏ sót một
lực lượng nào, miễn là lực lượng đó có lòng trung thành và sẵn sàng phục vụ
Tổ quốc, không là Việt gian, không phản bội lại quyền lợi của của dân chúng
là được. Với tinh thần đoàn kết rộng rãi như vậy, Hồ Chí Minh đã định hướng
cho việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trong suốt tiến trình cách mạng
Việt Nam, từ cách mạng giải phóng dân tộc tới cách mạng dân chủ nhân dân
và từ cách mạng dân chủ nhân dân tới cách mạng xã hội chủ nghĩa.
1.4.2. Đại đoàn kết dân tộc phải biến thành sức mạnh vật chất, có tổ
chức là Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc không thể chỉ dừng
lại ở quan niệm, ở những lời kêu gọi, những lời hiệu triệu mà phải trở thành
một chiến lược cách mạng, trở thành khẩu hiệu hành động của toàn Đảng,
khác nhau, tên gọi của mặt trận dân tộc thống nhất theo đó, cũng có thể khác
nhau: Hội phản đế đồng minh (1930), Mặt trận Dân chủ (1936), Mặt trận
nhân dân phản đế (1939), Mặt trận Việt Minh (1941), Mặt trận Liên Việt
(1946), Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (1960), Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam (1955, 1976). Song thực chất chỉ là một, đó là tổ chức chính
trị - xã hội rộng lớn của nhân dân Việt Nam, nơi quy tụ, tập hợp đông đảo các
giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đảng phái, các tổ chức và cá nhân yêu
nước ở trong và ngoài nước, phấn đấu vì mục tiêu chung là độc lập dân tộc,
thống nhất của Tổ quốc, tự do và hạnh phúc của nhân dân.
Theo Hồ Chí Minh, Mặt trận dân tộc thống nhất phải được xây dựng
theo các nguyên tắc sau đây:
- Thứ nhất, Mặt trận dân tộc thống nhất phải được xây dựng trên nền
tảng khối liên minh công - nông - trí thức, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
- Thứ hai, Mặt trận dân tộc thống nhất phải hoạt động trên cơ sở bảo
đảm lợi ích tối cao của dân tộc, quyền lợi cơ bản của các tầng lớp nhân dân
15
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh khánh Huyền - K60D
- Thứ ba, Mặt trận dân tộc thống nhất phải hoạt động theo nguyên tắc
hiệp thương dân chủ, bảo đảm đoàn kết ngày càng rộng rãi và bền vững
- Thứ tư, Mặt trận dân tộc thống nhất là khối đại đoàn kết chặt chẽ, lâu
dài, đoàn kết thực sự, chân thành, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ
1.5. Điều kiện để thực hiện đại đoàn kết dân tộc
1.5.1. Để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc phải kế thừa truyền
thống yêu nước, nhân nghĩa, đoàn kết của dân tộc và lòng khoan dung độ
lượng của con người
Để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân phải kế thừa truyền thống yêu
nước - nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc. Truyền thống này được hình thành,
củng cố và phát triển trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước hàng ngàn
năm của cả dân tộc, trở thành giá trị bền vững, thấm sâu vào tư tưởng, tình
cảm, tâm hồn của mỗi người con Việt Nam, được lưu truyền qua các thế hệ từ
1.5.2. Đoàn kết phải được xây dựng trên cơ sở đảm bảo những lợi
ích tối cao của dân tộc, lợi ích của nhân dân lao động và các quyền thiêng
liêng của con người
Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất trong tư tưởng đại
đoàn kết của Hồ Chí Minh. Hạt nhân của nguyên tắc này là giải quyết đúng
đắn mối quan hệ lợi ích phức tạp, chồng chéo giữa cá nhân - tập thể, gia đình
- xã hội, bộ phận - toàn thể, giai cấp - dân tộc, quốc gia - quốc tế theo phương
châm chỉ đạo là dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết và tất cả do con người.
Theo Hồ Chí Minh, lợi ích tối cao của dân tộc là độc lập, chủ quyền và
toàn vẹn lãnh thổ, là bình đẳng, dân chủ, tự do. Lợi ích tối cao này là ngọn cờ
đoàn kết, là sức mạnh dân tộc và là nguyên tắc bất di bất dịch của cách mạng
Việt Nam. Đó cũng là nguyên tắc bất biến trong tư tưởng Hồ Chí Minh để
Người tìm ra những phương pháp thực hiện nguyên tắc đó trong chiến lược
đại đoàn kết dân tộc mình. Tóm lại, muốn đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân
phải giải quyết đúng đắn các mối quan hệ lợi ích dân tộc. Song, khi giải quyết
các mối quan hệ lợi ích này phải đặt quyền lợi dân tộc, quyền lợi Tổ quốc,
quyền lợi toàn dân lên trên hết, lên trước hết.
17
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh khánh Huyền - K60D
1.5.3. Tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của dân
Tin vào dân, dựa vào dân là một nguyên tắc cơ bản trong tư tưởng đại
đoàn kết Hồ Chí Minh. Bởi vì, theo Người dân là gốc rễ, là nền tảng của đại
đoàn kết, dân là chủ thể của đại đoàn kết, là nguồn sức mạnh vô tận, và vô
địch của khối đại đoàn kết, quyết định thắng lợi của cách mạng. Để thực hành
đoàn kết rộng rãi cần có niềm tin vào nhân dân. Với Hồ Chí Minh, yêu dân,
tin dân, dựa vào dân, sống đấu tranh vì hạnh phúc của nhân dân là nguyên tắc
tối cao. Nguyên tắc này dựa trên cơ sở:
Một là, sự tiếp nối truyền thống dân tộc “nước lấy dân làm gốc”, “chở
thuyền và làm lật thuyền cũng là dân”. Hồ Chí Minh cũng từng nói “Dễ mười
lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong” [14, tr.293]. Với
“Đoàn kết là một truyền thống cực kì quý báu của Đảng và nhân dân ta. Các
đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí
của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. [20, tr.497]
1.5.5. Đại đoàn kết rộng rãi, lâu dài, đoàn kết chặt chẽ theo lập
trường giai cấp công nhân
Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói “Đoàn kết của ta không những rộng rãi
mà còn đoàn kết lâu dài… Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập
của Tổ quốc, ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà” [16, tr.438]. Như
vậy theo Hồ Chí Minh, đoàn kết toàn dân trong các tổ chức Mặt trận dân tộc
thống nhất phải rộng rãi và lâu dài, đoàn kết không phải là một thủ đoạn chính
trị, mà còn là một chính sách dân tộc, một chính sách nhất quán của Đảng và
Nhà nước ta.
Theo Người, Đảng Cộng sản Việt Nam phải đoàn kết lâu dài với các
đảng phái và các đoàn thể yêu nước khác trong mặt trận dân tộc thống nhất,
không phải đoàn kết nhất thời.
Về đoàn kết rộng rãi hay đại đoàn kết, theo tư tưởng Hồ Chí Minh là
đoàn kết hết thảy các lực lượng, các cá nhân yêu nước trong dân tộc, không
19
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh khánh Huyền - K60D
để bỏ sót một lực lượng, một cá nhân nào đứng ngoài các tổ chức của Mặt
trận dân tộc thống nhất, nhưng đoàn kết phải được tổ chức theo lập trường
giai cấp công nhân.
Nguyên tắc đoàn kết rộng rãi, lâu dài theo lập trường giai cấp công
nhân là kết quả của nhà tổ chức vĩ đại Hồ Chí Minh, biến khẩu hiệu nổi tiếng:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”
[18, tr.607] thành hiện thực, thành sức mạnh tinh thần, trí tuệ, thành sức mạnh
vật chất vô cùng to lớn đánh thắng những thế lực thù địch, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc ngày càng vững mạnh.
1.6. Phương pháp đại đoàn kết dân tộc
1.6.1. Phương pháp tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng
đoàn kết toàn dân tồn tại, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng,
củng cố Nhà nước cách mạng, nhất là Ủy ban nhân dân các cấp, nơi trực tiếp
tổ chức, quản lý điều hành mọi hoạt động của đời sống xã hội.
Về các đoàn thể chính trị - xã hội, theo Hồ Chí Minh đây là sợi dây gắn
kết Đảng với nhân dân, gắn kết nhân dân với nhau, thực hiện đoàn kết và
cũng là nơi thể hiện sức mạnh đoàn kết. Vì vậy, theo Người xây dựng củng
cố, phát triển, đoàn kết các tổ chức quần chúng hay các đoàn thể chính trị -
xã hội trong Mặt trận dân tộc thống nhất thực sự là vấn đề chiến lược.
1.6.3. Phương pháp xử lý các mối quan hệ nhằm mở rộng tới
mức cao nhất trận tuyến cách mạng và thu hẹp tới mức tối đa trận
tuyến thù địch
Trong cuộc đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp trong phạm vi một nước
cũng như trên thế giới bao giờ cũng phân định thành ba tuyến lực lượng: cách
mạng - trung gian - phản cách mạng. Cuộc đấu tranh giữa cách mạng và phản
21
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh khánh Huyền - K60D
cách mạng, thành bại của cuộc cách mạng không chỉ phụ thuộc vào sức mạnh
của hai lực lượng đối địch, mà nó còn phụ thuộc một phần rất lớn vào việc bên
nào lôi kéo được lực lượng trung gian. Phương pháp đại đoàn kết của Hồ Chí
Minh là phương pháp xử lý mối tương quan ba chiều đó, phương pháp xử lý các
mối quan hệ của Hồ Chí Minh theo phương châm dĩ bất biến ứng vạn biến.
Trong phương pháp đại đoàn kết của Hồ Chí Minh có phương pháp xử
lý mối quan hệ ba chiều là cách mạng - trung gian - phản cách mạng. Hồ Chí
Minh đã xử lí hài hòa giữa chiến lược và sách lược, giữa cứng rắn trong
nguyên tắc và mềm dẻo linh hoạt trong giải pháp, từ đó làm cho mọi tầng lớp
nhân dân tin vào chính sách đại đoàn kết của Đảng Cộng sản Việt Nam, tạo ta
lực - thế - thời cho cách mạng để giành lấy thắng lợi.
22
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh khánh Huyền - K60D
Tiểu kết chương 1
khoảng thế kỷ XIII. Thời nhà Trần, Mường Mai thuộc lộ Đà Giang, thị
trấn Gia Hưng, xứ Hưng Hóa. Dưới triều Nguyễn, Mai Châu gồm tổng
Thanh Mai và tổng Bạch Mai. Kể từ thời Pháp thuộc, châu Mai Châu
thuộc phủ Chợ Bờ, tỉnh Mường Hòa Bình. Tháng 10 - 1890, châu Mai
Châu và châu Đà Bắc được hợp làm một gọi là Mai Đà. Sau một thời gian
tồn tại, châu Mai Đà lại tách thành hai và được giữ nguyên đến năm 1941
thì Mai Châu và Đà Bắc lại tái hợp thành châu Mai Đà. Sau khi cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn
của cách mạng, ngày 21-9-1956, Thủ tướng Chính phủ kí nghị định chia
huyện Mai Đà thành huyện Mai Châu và Đà Bắc.
- Về vị trí địa lí:
Mai Châu, một huyện vùng cao phía Tây Bắc có vị trí chiến lược quan
trọng của tỉnh Hòa Bình. Huyện nằm trong tọa độ địa lý 20
0
24 - 20
0
45 vĩ độ
Bắc và 104
0
31 - 105
0
16 kinh độ Đông. Theo số liệu thống kê năm 2009,
huyện Mai Châu có tổng diện tích tự nhiên là 564km
2
(chiếm 11,1% tổng diện
tích toàn tỉnh). Phía Tây Bắc giáp huyện Mộc Châu (tỉnh Sơn La), phía Tây
Nam giáp huyện Quan Hóa (tỉnh Thanh Hóa), phía Đông Bắc giáp huyện Đà
Bắc, phía Đông Nam giáp huyện Tân Lạc vì vậy đây là cửa ngõ lên Tây Bắc
và sang Lào.
24
độ dốc trung bình từ 30 đến 35
0
, độ cao trung bình so với mực nước biển
25