Khóa luận tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Để đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông các
nước trong khu vực và trên thế giới, từ nhiều năm nay, nước ta đã đề cập đến
việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học.
Các phương pháp dạy học truyền thống – lấy giáo viên làm trung tâm đang
dần được thay thế bằng các phương pháp dạy học theo hướng tích cực – lấy
học sinh làm trung tâm. Điều này đòi hỏi phải có sự thay đổi về phương pháp
cũng như phương tiện dạy học trong công tác giảng dạy của người giáo viên,
trong đó vấn đề sử dụng các phương tiện trực quan trong dạy học đang được
nhiều giáo viên quan tâm áp dụng.
Môn Địa lí ở nhà trường phổ thông mang đến cho các em những kiến
thức cơ bản về Trái đất, về đặc điểm tự nhiên – dân cư – xã hội – kinh tế của
Thế giới, các quốc gia – khu vực trên Thế giới và của Việt Nam, nghĩa là
phạm vi kiến thức các em tìm hiểu rất rộng lớn, nhiều nơi xa xôi không thể tri
giác trực tiếp được, vì vậy phương tiện trực quan sẽ có vai trò vô cùng quan
trọng trong dạy và học môn Địa lí.
Phương tiện trực quan được các nhà phương pháp đánh giá rất cao
trong giảng dạy địa lí, vì nó có ý nghĩa rất lớn trong việc tiếp thu kiến thức
của học sinh. Thông qua đồ dùng trực quan người học tiến hành quan sát dưới
vai trò chủ đạo của giáo viên để chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và hoạt
động sáng tạo cho bản thân. Dạy học bằng phương pháp trực quan gây hứng
thú học tập cho học sinh, giờ học sôi nổi, giúp học sinh nhận thức bài sâu hơn.
Ngoài kiến thức địa lí được tàng trữ ở kênh chữ dưới dạng các khái niệm thì
các kiến thức địa lí còn được tàng trữ trong kênh hình rất đa dạng, chúng có
tính trực quan cao và tính diễn giải logic các hiện tượng trong dạy học địa lí.
Trong các phương tiện trực quan thì tranh ảnh và videoclip là những phương
tiện hiện đại, có thể phục vụ đắc lực trong việc dạy và học Địa lí. Với nội
Cao Thị Hồng Nhung K60 - TN
trực quan mang lại hiệu quả cao trong dạy học Địa lí.
Cao Thị Hồng Nhung K60 - TN
2
Khóa luận tốt nghiệp
Ở Việt Nam cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến việc sử
dụng kênh hình trong dạy học nói chung trong dạy học Địa lí như:
Cuốn “Bản đồ học” của tác giả Ngô Đạt Tam, xuất bản năm 1976.
Cuốn “Bản đồ giáo khoa” của tác giả Lâm Quang Dốc, xuất bản năm 2003
Cuốn “Lý luận dạy học Địa lí” của tác giả Nguyễn Dược, Nguyễn
Trọng Phúc, xuất bản năm 2000.
Cuốn “Phương pháp dạy học Địa lí theo hướng tích cực” của tác giả
Đặng Văn Đức, Nguyễn Thu Hằng, xuất bản năm 2008.
Cuốn “Phương tiện kĩ thuật trong dạy học Địa lí” của tác giả Nguyễn
Trọng Phúc, xuất bản năm 2001.
Cuốn “Rèn luyện kĩ năng Địa lí” của tác giả Mai Xuân San, tái xuất
bản năm 2001.
Cuốn “Lý luận dạy học Địa lí” của tác giả Đặng Văn Đức, xuất bản
năm 2006.
Cuốn “Một số vấn đề trong dạy học Địa lí ở nhà trường phổ thông” của
tác giả Nguyễn Trọng Phúc, xuất bản năm 2004.
Đặc biệt, hiện nay, với từng bước đổi mới phương tiện dạy học, tranh
ảnh và videoclip là hai loại phương tiện dạy học trực quan được chú trọng
khai thác đưa vào dạy và học Địa lí. Thời gian gần đây, đã có nhiều luận án
Tiến sĩ quan tâm đến việc sử dụng tranh ảnh và videoclip trong dạy học Địa lí
ở trường phổ thông phải kể đến như:
Nguyễn Quốc Tuấn: “Sử dụng phim video giáo khoa trong dạy học Địa
lí lớp 6 ở trường THCS”, Luận án Tiến Sĩ, 2002.
Nguyễn Văn Luyện: “Phương pháp sử dụng Video trong dạy học
Địa lí 11 THPT theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh”, Luận án
Tiến Sĩ, 2005.
động nhận thức trong dạy học Địa lí 11, cụ thể trong 2 bài:
- Bài 10: Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa.
- Bài 11: Khu vực Đông Nam Á.
6. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình tiến hành nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã sử dụng
những quan điểm và phương pháp nghiên cứu chính sau:
Cao Thị Hồng Nhung K60 - TN
4
Khóa luận tốt nghiệp
6.1. Quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm hệ thống
Quá trình sư phạm bao gồm những thành tố có quan hệ với nhau trong
một hệ thống, có cấu trúc nhất định và cùng vận động. Các thành tố đó là mục
đích giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp và phương tiện giáo dục, nhà
giáo dục, người giáo dục, môi trường giáo dục. . . Các yếu tố trên vận động,
phát triển trong mối quan hệ biện chứng với nhau trong cùng một hệ thống.
Trong đó, sự thay đổi thành phần này sẽ kéo theo sự thay đổi thành phần
khác. Mục tiêu của giáo dục hiện nay là trang bị cho học sinh khả năng độc
lập, năng động, sáng tạo, do đó, nội dung dạy học, phương pháp dạy học cũng
phải thay đổi và cải tiến. Xu hướng cải tiến các phương pháp dạy học hiện
nay là nhằm phát huy hơn nữa vai trò chủ động của người học, tìm cách giúp
học sinh có động cơ, thái độ và phương pháp học tập đúng đắn. Ngoài ra, khi
lựa chọn phương pháp dạy học cần phải chú ý đến lứa tuổi bậc học, mức độ
mục tiêu, hoạt động nhận thức của người học, môn học, nội dung bài học mà
lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy học hợp lí.
Vận dụng quan điểm hệ thống để nhìn nhận vai trò, vị trí, chức năng
của tranh ảnh và videoclip trong hệ thống kênh hình và hệ thống phương tiện
dạy học, hệ thống các phương pháp dạy học và quá trình dạy học, thông qua
đó tìm ra các quy trình hợp lí để tổ chức các hoạt động nhận thức nhằm phát
huy tính tích cực của học sinh và đạt được các mục tiêu đào tạo của giáo dục.
nghiên cứu đã được công bố, đặc biệt là các tài liệu liên quan đến phương tiện
dạy học, cũng như các tác phẩm của các tác giả nổi tiếng được tác giả đề tài
xem xét và phân tích.
Việc nghiên cứu đề tài cũng đòi hỏi phái áp dụng phương pháp phân
tích tính hệ thống nghiên cứu tranh ảnh và videoclip. Xem nó như một hệ
thống gồm nhiều yếu tố liên quan đến nhau, trong một cấu trúc chặt chẽ.
Đồng thời đặt đề tài trong một mối quan hệ với phương tiện dạy học nói
chung và kênh hình nói riêng, đây là một yếu tố của quá trình dạy học,
phương pháp cũng như nội dung dạy học.
Cao Thị Hồng Nhung K60 - TN
6
Khóa luận tốt nghiệp
6.2.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn đã được sử dụng rộng rãi trong
nghiên cứu đề tài nhằm tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng tranh ảnh và
videoclip trong các giờ học Địa lí ở trường phổ thông hiện nay. Trong quá
trình nghiên cứu đề tài, một số phương pháp như phương pháp quan sát,
phương pháp điều tra thực tế, phương pháp thống kê đã được sử dụng nhằm
tìm hiểu và xác định rõ quan niệm, thái độ của giáo viên và học sinh về việc
sử dụng tranh ảnh và videoclip theo các mục đích khác nhau cũng như tìm
hiểu các điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất để đạt được mục tiêu đề ra. Dự
giờ và trao đổi trực tiếp với giáo viên việc sử dụng tranh ảnh và videoclip
theo hướng tích cực trong dạy học địa lí cũng là một phương pháp được tiến
hành. Việc điều tra thực tế đã tạo ra những cơ sở quan trọng để lí giải khả
năng thực thi, các điều kiện cần thiết, tác dụng và hạn chế của tranh ảnh và
videoclip khi đưa vào sử dụng để xác định triển vọng và xu hướng phát triển
của đề tài.
Phương pháp thực nghiệm sư phạm được sử dụng nhằm kiểm chứng
các kết quả nghiên cứu lí thuyết của đề tài. Kết quả thực nghiệm là cơ sở quan
trọng để khẳng định độ tin cậy và tính khả thi của những biện pháp nhằm
tập hợp những đối tượng vật chất được giáo viên sử dụng với tư cách là
những phương tiện tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh, và
đối với học sinh, đó là phương tiện để tiến hành hoạt động nhận thức của
mình thông qua đó àm thực hiện những nhiệm vụ dạy học.”[2]
Theo tác giả Đặng Văn Đức: “Phương tiện dạy học là những dụng cụ,
máy móc, thiết bị, vật dụng cần thiết cho hoạt động dạy và học đạt được các
mục tiêu dạy học có hiệu quả hơn. Phương tiện hỗ trợ trong tiết học trên lớp
nhằm làm sang tỏ những điều cần trình bày của giáo viên và trực quan hóa
nội dung bài giảng giúp học sinh tiếp thu dễ dàng và tham gia học tập một
cách chủ động, tích cực.”[4]
Cao Thị Hồng Nhung K60 - TN
8
Khóa luận tốt nghiệp
Còn theo khái niệm của Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa rằng:
“Phương tiện dạy học (còn gọi là đồ dùng dạy học, thiết bị dạy học) là một
vật thể hoặc một tập hợp các vật thể mà giáo viên sử dụng trong quá trình
dạy học để nâng cao hiệu quả của quá trình này, giúp học sinh lĩnh hội khái
niệm, định luật, hình thành các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ cần thiết”
(Từ điển Bách khoa Việt Nam).
Từ những cách hiểu như trên, ta có thể hiểu một cách khái quát:
Phương tiện dạy học là một tập hợp tất cả các phương tiện vật chất cần thiết
mà người giáo viên và học sinh sử dụng trong quá trình dạy học nhằm đạt
được mục đích dạy học. Đó là những công cụ giúp người giáo viên tổ chức,
điều khiển quá trình dạy học (thông báo thông tin, tổ chức – kích thích hoạt
động nhận thức, kiểm tra, đánh giá…) và những công cụ giúp người học sinh
lĩnh hội tri thức cũng như tổ chức hoạt động nhận thức của mình có hiệu quả.
1.1.2. Phân lọai phương tiện dạy học
Có nhiều cách phân loại khác nhau tùy thuộc vào tiêu chí, dấu hiệu
phân loại khác nhau. Dưới đây xin giới thiệu một số cách phân loại phương
tiện dạy học.
- Chế tạo phức tạp: đòi hỏi sự thiết kế, chế tạo công phu, vật liệu đắt
tiền, cấu tạo phức tạp, giá thành cao, sử dụng tiện lợi và tuổi thọ cao v.v
1.2. Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học Địa lí
Phương tiện dạy học trực quan: “là những công cụ, phương tiện mà
giáo viên và học sinh sử dụng trong quá trình dạy học nhằm xây dựng cho
học sinh những biểu tượng về sự vật, hiện tượng, hình thành khái niệm thông
qua sự tri giác trực tiếp bằng các giác quan của người học”. [6]
N.N.Baranxki đưa ra khái niệm thiết bị dạy học địa lí: là những phương
tiện trực quan, nó là một nhân tố ảnh hưởng lớn đến sự tổ chức và kết quả của
việc giảng dạy địa lý ở nhà trường. Các thiết bị đó bao gồm: Phòng địa lý, bản
đồ giáo khoa, quả cầu địa lý, tranh ảnh treo tường, biểu đồ, đồ thị
Theo Nguyễn Dược - Nguyễn Trọng Phúc: “Trong bộ môn Địa lí, các
phương tiện và thiết bị gồm có một phần cơ sở vật chất truyền thống hay hiện
Cao Thị Hồng Nhung K60 - TN
10
Khóa luận tốt nghiệp
đại tạo điều kiện cho việc giảng dạy môn học như: phòng bộ môn Địa lí, vườn
Địa lí…, toàn bộ các đồ dùng giảng dạy và học tập trực quan như: bản đồ,
tranh ảnh, mô hình, mẫu vật, dụng cụ quan trắc, đo đạc, các thiết bị nghe nhìn
và cuối cùng là các tài liệu để cung cấp những tri thức cơ bản cho giáo viên và
học sinh như: sách giáo khoa Địa lí, các sách báo tham khảo Địa lí…”.[2]
Từ những ý kiến trên, có thể thấy phương tiện trực quan trong môn địa
lí là các phương tiện dạy học (vật thật, vật tượng trưng, mô hình, tranh vẽ, sơ
đồ,…) diễn tả một đối tượng, hiện tượng tự nhiên, kinh tế - xã hội. Nói cách
khác, phương tiện dạy học trực quan trong môn địa lí là những phương tiện
(công cụ) mà giáo viên và học sinh sử dụng trong quá trình dạy học nhằm
cung cấp tri thức địa lí, rèn luyện kỹ năng cho học sinh thông qua sự tri giác
trực tiếp bằng các giác quan. Phương tiện dạy học trực quan trong môn địa lí
bao gồm chủ yếu các phương tiện sau:
- Bản đồ giáo khoa Địa lí: Bản đồ là một trong những phương tiện tốt nhất
họa cho bài học một cách sinh động. Mặt khác, tranh ảnh Địa lí cũng là nguồn
tài liệu để khai thác thông tin, khai thác tri thức, tìm tòi và rèn luyện khả năng
tư duy. Từ đó giúp học sinh hình thành các khái niệm và biểu tượng địa lí một
cách dễ dàng, chính xác mà lại tiết kiệm thời gian.
- Videoclip Địa lí
Trong hệ thống các phương tiện dạy học, videoclip được xếp vào loại
phương tiện dạy học hiện đại.
Khái niệm videoclip được hiểu bao gồm đầu máy video và các băng
video hoặc là các đoạn phim ngắn. Trong đó, đầu máy video là phần cứng.
Bên cạnh phần cứng, video còn có các phần mềm được xây dựng trên các
nguyên lí sư phạm, tâm lí học, khoa học kĩ thuật để cung cấp cho học sinh
một khối lượng kiến thức nhất định. Đó là các đoạn videoclip. Videoclip ghi
lại đồng thời các hình ảnh, âm thanh của các sự vật, hiện tượng trong thiên
nhiên, đời sống xã hội… và được đầu máy video phát lại qua màn hình TV
hoặc được chiếu qua máy tính và máy chiếu.[8]
1.3.2. Vai trò tranh ảnh và videoclip trong dạy học Địa lí
Với nhiều tính năng ưu việt, tranh ảnh và videocip có vai trò quan trọng
trong dạy học nói chung và dạy học địa lí nói riêng, biểu hiện trên các mặt sau:
Cao Thị Hồng Nhung K60 - TN
12
Khóa luận tốt nghiệp
- Tranh ảnh và videoclip giúp cho học sinh dễ dàng hiểu và vận dụng
các nội dung kiến thức địa lí.
Tranh ảnh và video có khả năng trình bày các nội dung có tính chất địa
lí dưới dạng hình ảnh và hình ảnh kết hợp với âm thanh theo một trình tự liên
kết hữu cơ, nhờ đó học sinh có thể hiểu được cấu tạo thành phần của đối
tượng, hiện tượng địa lí, tự mình có thể hiểu được các nguyên tắc, khái niệm,
từ đó lĩnh hội các kiến thức một cách vững vàng.
- Tranh ảnh và videoclip giúp cho kiến thức của học sinh được ghi nhớ
lâu bền hơn.
trực tiếp giúp cho việc học tập của học sinh thêm phong phú và sâu rộng hơn.
Trong dạy học địa lí, do đặc trưng của đối tượng nghiên cứu những
kinh nghiệm trực tiếp càng cấp thiết hơn. Tuy nhiên, những kinh nghiệm học
sinh được trực tiếp lĩnh hội ở trường về địa lí còn nhiều hạn chế, đã ảnh
hưởng nhiều đến chất lượng học tập môn địa lí ở nhà trường phổ thông. Trong
trường hợp này, tranh ảnh và videoclip có thể bổ sung những thiếu hụt của
kinh nghiệm trực tiếp đó bằng những kinh nghiệm gián tiếp. Nhờ tranh ảnh và
video học sinh có thể quan sát gián tiếp được những đối tượng, hiện tượng địa
lí không thể quan sát được do kích thước quá lớn hoặc quá nhỏ, học sinh có
thể tiếp cận được với những đối tượng, hiện tượng phân bố ở những vùng
lãnh thổ xa xôi, không thể đi đến được. Nhờ có video, học sinh có thể quan
sát được cả hiện tượng, quá trình diễn ra quá nhanh hoặc quá chậm mà mắt
thường không thấy được. Đồng thời, nhờ có khả năng lưu trữ, tranh ảnh và
videoclip còn giúp cho học sinh thấy được những hình ảnh, âm thanh vượt
thời gian và không gian.
- Tranh ảnh và videocip góp phần hình thành và nâng cao khả năng
quan sát và nghiên cứu cho học sinh.
Với khả năng chứa đựng một lượng thông tin lớn, tranh ảnh vài
videoclip tạo điều kiện để học sinh quan sát, độc lập suy nghĩ, tiến hành phân
tích, tổng hợp, so sánh, phán đoán. . . trên cơ sở đó tự phát hiện kiến thức,
Cao Thị Hồng Nhung K60 - TN
14
Khóa luận tốt nghiệp
nhờ đó có thể nắm kiến thức một cách vững chắc hơn.
- Tranh ảnh và videoclip góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học
Với thời lượng nhất định, tranh ảnh và video trình bày nội dung kiến
thức một cách tối ưu thông qua những hình ảnh chân thật, sống động, các
bảng biểu – chữ viết, những tiếng động kết hợp với âm nhạc và lời thuyết
minh (videoclip) sẽ giúp số lượng cũng như chất lượng tài liệu tăng lên,
dành nhiều thời gian cho giáo viên tổ chức các hoạt động nhận thức cho
nhưng biểu tượng cụ thể về địa lí. Trong các loại kể trên, có ý nghĩa quan
trọng hơn cả là tranh ảnh treo tường in sẵn và các tranh ảnh trong sách giáo
khoa vì nội dung của chúng đều được lựa chọn cẩn thận, phù hợp với nội
dung bài dạy trong chương trình.
1.3.3.2. Các loại Videoclip Địa lí
Videoclip sử dụng trong dạy học Địa lí bao gồm rất nhiều loại nhằm
đáp ứng yêu cầu của các mục tiêu sư phạm, các hình thức và phương pháp
dạy học khác nhau.
Tính đa dạng và phong phú của thông tin được thể hiện qua nhiều thể
loại Videoclip khác nhau. Những Videoclip này có thể xây dựng hoặc thu thập
từ nhiều nguồn khác nhau, dưới nhiều hình thức. Mỗi loại có một cách thể
hiện nội dung riêng, tạo khả năng đa dạng trong phương pháp truyền thông.
Nhiều tác giả đã đưa ra danh mục các thể loại Videoclip có thể sử dụng trong
dạy học như sau:
- Videoclip bài học: đây là loại Videoclip đang được sử dụng trong dạy
học Địa lí ở trường phổ thông hiện nay, thường được gọi là Băng Video giáo
khoa. Tuy nhiên, vì khái niệm băng Videoclip giáo khoa rất rộng, bao gồm
nhiều thể loại khác nhau, để tránh nhầm lẫn chúng tôi gọi thể loại Videoclip
này là băng Videoclip bài học vì nội dung băng được xây dựng theo dàn ý bài
học trong sách giáo khoa. Vì thể loại băng Videoclip này được xây dựng theo
nội dung bài học dưới hình thức kết hợp giữa âm thanh và hình ảnh chuyển
động nên có thể cung cấp cho học ính đầy đủ nội dung kiến thức cơ bản của
bài học một cách trực quan, sinh động. Hiện nay, một số Videoclip bài học đã
Cao Thị Hồng Nhung K60 - TN
16
Khóa luận tốt nghiệp
được các công ty sách xuất bản dưới nhiều hình thức trong đó thường là các
đĩa CD, VCD.
- Videoclip diễn giải: Nội dung của Videoclip này do một diễn giả là
các giáo sư, các nhà khoa học có uy tín, am hiểu về các vấn đề tự nhiên – kinh
Videoclip để tìm kiếm khả năng sử dụng vào bài học nhằm tổ chức các hoạt
động học tập cho học sinh.
1.4. Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học
Hoạt động nhận thức là một loại hoạt động tinh thần, không làm biến
đổi các đồ vật thực, quan hệ thực. Loại hoạt động này có đặc điểm là phản
ánh các sự vật, các quan hệ và mang lại cho chủ thể các hình ảnh, các tri thức
về sự vật và quan hệ ấy. Bằng hoạt động nhận thức con người phân tích, tổng
hợp, khái quát, ghi nhớ các hình ảnh ấy. Như vậy, nhận thức để hiểu biết sự
vật, nắm bản chất, quy luật và các mối quan hệ của chúng.
Trong nhà trường, việc học tập của học sinh có bản chất hoạt động và
bằng hoạt động, thông qua các hoạt động của bản thân mà chiếm lĩnh tri thức,
hình thành và phát triển trí tuệ cũng như các quan điểm đạo đức và thái độ.
Và như vậy việc học tập của học sinh là hoạt động nhận thức.
Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh là một trong những
nhiệm vụ của giáo viên trong nhà trường và đây cũng là phương pháp nâng
cao chất lượng dạy học. Tuy không phải vấn đề mới, nhưng trong xu hướng
đổi mới dạy học hiện nay thì việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học
sinh là một vấn đề đặc biệt được quan tâm. Tất cả đều hướng tới việc thay đổi
vai trò của người dạy và người học nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình dạy
học nhằm đáp ứng được yêu cầu dạy học trong giai đoạn phát triển mới.
Trong đó học sinh chuyển từ vai trò là người thu nhận thông tin sang vai trò
chủ động, tích cực tham gia tìm kiếm kiến thức, từ tiếp nhận tri thức sang chủ
thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập. Còn giáo viên chuyển từ
người truyền thông tin sang vai trò người tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ để học
sinh tự mình khám phá kiến thức mới.
Từ rất lâu đời và nhiều nước trên Thế giới, vấn đề phát huy tính tích
cực của học sinh đã được nhiều nhà giáo dục quan tâm.
Cao Thị Hồng Nhung K60 - TN
18
Khóa luận tốt nghiệp
19
Khóa luận tốt nghiệp
mức độ khác nhau. Cần coi trọng những yếu tố tự phát này, nuôi dưỡng, phát
triển chúng trong quá trình dạy học.
- Mặt tự giác: là trạng thái tâm lí có mục đích và đối tượng rõ rệt, do đó
có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó. Tính tích cực tự giác thể hiện ở óc
quan sát, tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học.
Đặc biệt, việc phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh đã được ghi
trong Luật giáo dục, coi đây là mục tiêu đào tạo của các nhà trường nói chung,
trong nhà trường phổ thông nói riêng. Và đã chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục
phải phát huy tính tích cực, tính tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người
học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”.
Vậy học sinh tích cực trong học tập nghĩa là học sinh tích cực trong quá
trình nhận thức. Và để biết học sinh có tích cực nhận thức hay không, các nhà
nghiên cứu đã đưa ra các dấu hiệu nhận biết, các biểu hiện thể hiện tính tích
cực của học sinh ở mức độ khác nhau:
- Bắt chước: cố gắng thực hiện theo mẫu các hành động của thầy, của bạn.
- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết
khác nhau về một số vấn đề. . .
- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới độc đáo, hữu hiệu.
Như vậy, tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái,
chủ động, tự giác tham gia các hoạt động học tập, thích tìm tòi khám phá những
điều chưa biết dựa trên những cái đã biết, sáng tạo vận dụng kiến thức đã học vào
thực tế cuộc sống. . . Điều này đòi hỏi, trong các môn học nói chung, môn Địa lí
nói riêng cần phải bàn đến tính tích cực của học sinh trong quá trình giảng dạy,
đặc biệt là phải nhận biết được học sinh đã tích cực học tập hay chưa để điều
chỉnh và uốn nắn cho kịp thời.
Vậy có thể nói rằng, nhiệm vụ của học sinh hiện nay không chỉ nghiên
cứu các thông tin mà giáo viên cung cấp mà điều quan trọng là phải tham gia
tích cực của chính bản thân mình vào quá trình lĩnh hội tri thức, thu nhận
- Dạy học hướng vào cách dạy tự học, tự nghiên cứu.
- Dạy học cá thể hóa trong hoạt động tương tác, hợp tác.
- Dạy học dựa trên sự đánh giá và tự đánh giá.
1.5. Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của học sinh THPT
Cao Thị Hồng Nhung K60 - TN
21
Khóa luận tốt nghiệp
Các em học sinh có độ tuổi trung bình từ 15 – 19 tuổi, các em đang ở
độ tuổi “trăng tròn”, tuổi “bẻ gãy sừng trâu” . Về mặt sinh lí, các em đang
phát triển như người lớn nên cân nặng, chiều cao, cơ bắp đều phát triển, sức
khỏe dồi dào, có thể hoạt động học tập với các cơ chế hoạt động của thần kinh
cao cấp ở cường độ cao trong thời gian tương đối dài. Vì vậy, ở tuổi này các
em rất hiếu động, tựa như lúc nào cũng muốn hoạt động không biết mệt mỏi.
Về trí lực: ở độ tuổi này các em có trí nhớ khá tốt, nhận thức của các
em diễn ra theo hai giai đoạn từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lí tính, tư
duy logic, tư duy trừu tượng đều đang dần phát triển mạnh.
Về tính tình: hầu hết các em đều thể hiện cá tính rõ rệt, biết quan sát, tự
đánh giá, nhận xét và bản lĩnh, có khả năng lập luận để bảo vệ ý kiến riêng
của mình hoặc phản bác ý kiến của người khác. Các em có cảm nghĩ rằng
mình đã lớn, do đó tự ý thức các công việc, hoạt động của bản thân nên có thể
nói là các em đã có tính tự giác và trách nhiệm cao.
Đây là lứa tuổi đang phát triển về tài năng tiếp thu cái mới nhanh,
thông minh sáng tạo nhưng cũng rất dễ sinh ra chủ quan nông nổi, kiêu ngạo,
dễ bị kích động, tính kiên nhẫn chưa cao, ít chịu học hỏi đến nới đến chốn.
Thích hướng về tương lai, ít chú ý đến hiện tại và dễ quên quá khứ. . . [7]
Từ đặc điểm tâm sinh lí của học sinh THPT, mỗi giáo viên cần lựa chọn
nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học phù hợp với tâm lí học sinh.
Như vậy từ những phân tích trên, có thể đưa ra nhận xét về mối quan hệ
giữa đặc điểm tâm sinh lí của học sinh THPT và việc sử dụng tranh ảnh,
videoclip địa lí trong dạy học bộ môn Địa lí 11 – THPT như sau:
có thể thoải mái suy nghĩ mà không bị gò bó về tư tưởng – rất phù hợp với
tâm lí thích bay bổng và khám phá của các em. Hơn nữa, ngày nay với sự phát
triển của khoa học công nghệ, nguồn tranh ảnh và videoclip địa lí phong phú
với hàng loạt các hình ảnh, âm thanh sống động, chân thực càng thu hút các
em khám phá, tìm tòi.
1.6. Hiện trạng của việc sử dụng tranh ảnh và videoclip trong dạy học
Địa lí 11 – THPT.
Cao Thị Hồng Nhung K60 - TN
23
Khóa luận tốt nghiệp
Qua quá trình điều tra việc giảng dạy tại trường THPT, tác giả nhận
thấy đội ngũ giáo viên đang dạy học hiện nay được chia thành các khuynh
hướng sau:
- Khuynh hướng cứ theo sách giáo khoa mà dạy, học sinh học thuộc
lòng, phương pháp dạy học là thuyết giảng, phát vấn, đọc chép.
- Khuynh hướng tóm lược nội dung bài học trong sách giáo khoa dưới
dạng sơ đồ hóa nội dung bài giảng, trình bày trên bảng hoặc in ra trên giấy rồi
phát cho học sinh.
- Khuynh hướng đổi mới phương pháp dạy học vào các thời kỳ phát
động thi giáo viên giỏi, sau đó trở lại phương pháp cũ vì phương pháp mới
đòi hỏi giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian, sức lực, . . ., mỗi bài giảng theo
phương pháp mới đòi hỏi giáo viên vừa chuẩn bị giáo án công phu, phương
tiện dạy học đầy đủ, vừa phải linh hoạt trên lớp, nếu không sẽ dễ bị “cháy
giáo án” . . .
Mặc dù, Bộ giáo dục – Đào tạo đã triển khai việc đổi mới phương pháp
dạy học theo quan điểm “Lấy người học làm trung tâm”, “Tích cực háo hoạt
động nhận thức của người học”. Song trong thực tế, nhiều giáo viên dạy địa lí
còn chậm đổi mới phương pháp dạy học, dạy học theo phương pháp truyền
thống, kiểu “lấy thầy làm trung tâm”, việc sử dụng kênh hình và đặc biệt là
tranh ảnh, videoclip để học sinh khai thác còn ít và chưa có định hướng rõ rệt.
+ Về mức độ sử dụng tranh ảnh, video trong dạy học địa lí:
57% GV sử dụng tranh ảnh và video thường xuyên trong khi giảng bài.
43% GV sử dụng tranh ảnh khi nội dung bài cần thiết.
+ Về tình trạng trang bị tranh ảnh và videoclip hiện nay: 100% GV cho
rằng các loại tranh ảnh và video còn rất thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu dạy
học hiện nay.
Chính vì thực trạng các phương tiện – thiết bị dạy học địa lí còn rất
thiếu và GV chưa coi trọng tới phương pháp sử dụng chúng dẫn đến HS hiểu
rất mơ hồ khi được tiếp cận với các tranh ảnh mà GV đưa ra. Có lẽ đó cũng là
nguyên nhân dẫn đến các em ngại học môn địa lí.
Thực tế cho thấy, các em tỏ ra rất hứng thú nhưng thiếu say mê lâu dài
Cao Thị Hồng Nhung K60 - TN
25