luận văn đại học sư phạm hà nội ngành thể dục thể thao Biện pháp nâng cao hiệu quả GDTC cho trẻ mẫu giáo trường mầm non Quang Minh, Mê Linh Hà Nội - Pdf 24

MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Thể Dục Thể Thao (TDTT) như một bộ phận của nền văn hóa chung
của loài người. Bắt nguồn từ đời sống vật chất của xã hội nguyên thủy và qua
mỗi một thời kì nó đã đạt được những thành tựu đáng kể. TDTT trên thế giới
rất được coi trọng và đầu tư, sự phát triển của thể dục thể thao là biểu hiện sự
phát triển của quốc gia đó trên thế giới.
Nước Việt Nam đang trên đà phát triển và hội nhập, để đạt được những
thành tựu như ngày hôm nay là cả một quá trình xây dựng và thực hiện không
ngừng nghỉ của Đảng, Nhà Nước và nhân dân ta trong công cuộc đổi mới để
phát triển đất nước trong đó có GD. Hơn nữa, một quốc gia hùng mạnh là một
quốc gia có nền GD phát triển cùng với chính trị và kinh tế. Vì vậy, đầu tư
cho GD là đầu tư cho phát triển, đảm bảo xây dựng một thế hệ kế tiếp có đủ
phẩm chất và năng lực phục vụ cho đất nước. Đại hội Đảng khoá IX đã xác
định “GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, phát triển GD&ĐT là một trong những
động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là
điều kiện để phát huy nguồn lực con người”. Hiện nay GD đã trở thành mối
quan tâm của toàn xã hội. Đặc biệt, GDMN có một vị trí rất quan trọng, là
khâu đầu tiên trong hệ thống GDQD, là bậc học đặt nền móng cho sự phát
triển nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chăm sóc, GD trẻ
em ngay từ những tháng năm đầu tiên của cuộc sống là một việc làm hết sức
cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp chăm lo đào tạo và
bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những con người tương lai của đất nước. Trẻ
em hôm nay là thế giới ngày mai, trẻ em sinh ra có quyền được chăm sóc và
bảo vệ, được tồn tại, được chấp nhận trong gia đình và cộng đồng.
Vì thế, GD con người ở lứa tuổi MN vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ
của mỗi con người đối với xã hội, đối với cộng đồng. GDTC cho trẻ càng có ý
1
nghĩa quan trọng hơn trong Nghị Quyết TW4 về những vấn đề cấp bách của
sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của nhân dân có ghi rõ: “Sức khoẻ là
cái vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội, là nhân tố quan trọng

Góp phần nâng cao chất lượng GD nói chung và GDTC nói riêng của
trường mầm non Quang Minh.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
1. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp nâng cao hiệu quả GDTC cho trẻ
mẫu giáo trường mầm non Quang Minh, Mê Linh - Hà Nội.
2. Khách thể nghiên cứu: Công tác GDTC cho trẻ mẫu giáo trường
mầm non Quang Minh, hoạt động GD của trường mầm non Quang Minh.
4. Giả thuyết khoa học
Thực trạng GDTC của trường mầm non Quang Minh đang gặp phải
những khó khăn và hạn chế nhất định. Nếu tìm ra được nguyên nhân và đưa
ra những biện pháp đồng bộ, khả thi, có tác dụng khắc phục những khó khăn
và hạn chế đó thì sẽ nâng cao được hiệu quả GDTC cho trẻ mẫu giáo trường
mầm non Quang Minh,Mê Linh - Hà Nội.
5. Nhiệm vụ
5.1. Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng GDTC cho trẻ mẫu giáo trường
mầm non Quang Minh, Mê Linh - Hà Nội.
5.2. Nhiệm vụ 2: Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả GDTC cho trẻ
mẫu giáo trường mầm non Quang Minh, Mê Linh - Hà Nội.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Tổng quan vấn đề nghiên cứu.
- Đánh giá thực trạng GDTC cho trẻ mẫu giáo trường mầm non Quang
Minh, Mê Linh - Hà Nội.
- Xác định nguyên nhân, các yếu tố chi phối GDTC cho trẻ mẫu giáo
trường mầm non Quang Minh, Mê Linh - Hà Nội.
- Lựa chọn biện pháp nâng cao hiệu quả GDTC cho trẻ mẫu giáo
trường mầm non Quang Minh, Mê Linh - Hà Nội.
3
7. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau:

Trong đó: m là tần số quan sát
n là tổng số các đơn vị tập hợp thống kê.
8. Những đóng góp mới của đề tài
- Đánh giá được thực trạng của GDTC cho trẻ mẫu giáo trường mầm
non Quang Minh, Mê Linh - Hà Nội.
- Tìm hiểu những yếu tố chi phối GDTC cho trẻ mẫu giáo trường mầm
non Quang Minh, Mê Linh - Hà Nội.
- Lựa chọn được những biện pháp nâng cao hiệu quả GDTC cho trẻ
mẫu giáo trường mầm non Quang Minh, Mê Linh - Hà Nội.
9. Kế hoạch nghiên cứu
9.1. Giai đoạn 1: Từ tháng 8/2013-12/2013. Nghiên cứu tài liệu, viết cơ
sở lý luận của đề tài, xây dựng kế hoạch học tập, tổ chức đánh giá vấn đề
nghiên cứu (giải quyết vấn đề nhiệm vụ 1, nhiệm vụ 2 của đề tài).
9.2. Giai đoạn 2: Từ tháng 12/2013-1/2014. Đọc và tham khảo tài liệu,
xây dựng đề cương nghiên cứu và bảo vệ đề cương nghiên cứu trước hội đồng
khoa học
9.3. Giai đoạn 3: Từ tháng 1-5/2014. Xử lý số liệu, viết và hoàn thành
khóa luận, bảo vệ khóa luận trước hội đồng khoa học.
5
m
n
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Vị trí của giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục Việt Nam
GDMN là bậc học đầu tiên trong hệ thống GDQD có nhiệm vụ đặt nền
móng cơ sở cho việc hình thành và phát triển nhân cách con người mới Việt
Nam đáp ứng yêu cầu của thời kì đổi mới. Các nghị quyết của Đảng về
GDMN đều đã xác định rõ vị trí của GDMN trong chiến lược GD&ĐT con
người, đã chỉ ra bước bước đi thích hợp với khả năng thực tế của đất nước
“Phát triển bậc học MN phù hợp với điều kiện và yêu cầu của từng nơi. Đảm
bảo hầu hết trẻ 5 tuổi được học chương trình mẫu giáo lớn chuẩn bị vào lớp

đã khẳng định 3 năm đầu đời là giai đoạn rất quan trọng của sự phát triển não.
“Trẻ em cần được chăm sóc và kích thích phát triển một cách toàn diện
từ trước khi được sinh cho tới những năm tháng đầu đời để có thể lớn lên và
phát triển hết tiềm năng của mình” (ARNEC,2011). “Các cơ hội GD được
định hình từ lâu trước khi trẻ đến lớp, các kỹ năng ngôn ngữ, nhận thức và xã
hội mà trẻ phát triển thời thơ ấu là trụ cột thực thụ cho việc học tập cả
đời”. (UNESCO, Báo cáo giám sát GDMN 2011).
Đặc biệt và cần được đầu tư đúng mức bởi nền GD Việt Nam nói riêng
và GD trên thế giới nói chung GDMN là bước cơ sở, là nền móng ban đầu
cho hệ thống giáo dục quốc gia để đảm bảo cho mọi sự phát triển sau này của
trẻ diễn ra hoàn thiện và phù hợp với yêu cầu về con người mới của xã hội
hiện đại. Vì vậy mà GDMN có một ví trí vô cùng quan trọng trong nền GD
nước nhà.
1.1.1. Quan điểm của Đảng và nhà nước về GDMN
Tháng 12 năm 1976, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng
họp và đã xác định: “công tác nuôi dạy trẻ ở lứa tuổi MN là một vấn đề xã hội
to lớn, liên quan đến sự nghiệp phát triển kinh tế và văn hóa của đất nước”.
Ngày 8/2/1976, Ban bí thư TW Đảng ra chỉ thị số 65-CT/TW về công tác nhà
7
trẻ, vạch phương hướng, biện pháp phát triển mạng lưới nhà trẻ và nâng cao
chất lượng công tác nuôi dạy trẻ.
Thực hiện nghị quyết đại hội lần thứ IV của Đảng, ngày 11/1/1979 Bộ
Chính trị TW Đảng đã ra Nghị quyết số 14- NQ/TW về cải cách GD nhằm
thực hiện mục tiêu GD tạo ra cơ sở ban đầu rất quan trọng của con người Việt
Nam mới, con người lao động làm chủ tập thể và phát triển toàn diện Đặc
biệt đối với GDMN, nghị quyết đã ghi rõ: “Việc chăm sóc GD các em từ tuổi
sơ sinh cho đến 6 tuổi có tác dụng cực kì quan trọng trong sự hình thành con
người mới của xã hội chủ nghĩa. Cần có kế hoạch dài hạn và biện pháp thích
cực động viên và tổ chức toàn xã hội gánh vác sự nghiệp chăm sóc và GD thế
hệ MN của dân tộc, phát triển rộng khắp mạng lưới nhà trẻ và lớp mẫu giáo từ

Đây là nghị quyết đầu tiên về chuyên đề GD sau khi đất nước được
thống nhất, có nhiều vấn đề cần cụ thể hoá bằng các chính sách, các đề án để
thực hiện, từ xác định mục tiêu cụ thể, sắp xếp lại cơ cấu hệ thống cho đến
vấn đề biên soạn sách giáo khoa thống nhất cho các cấp học bậc học. Nghị
quyết số 14-NQ/TW của Bộ Chính trị (khoá IV) là một nghị quyết rất quan
trọng. Nó đặt nền móng cho công cuộc cải cách GD của đất nước trong những
năm 80 của thế kỷ XX. Do vậy, việc cải cách toàn diện nền GD nước nhà là
một việc rất cần thiết và cấp bách. Nhu cầu xây dựng một hệ thống giáo dục
thống nhất là nhu cầu thực tiễn đặt ra tại thời điểm ban hành Nghị quyết. Điều
21 luật giáo dục năm 2005 quy định GDMN thực hiện việc nuôi dưỡng,chăm
sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi.[3]
Quan điểm chỉ đạo chiến lược phát triển nghành GDMN của Việt Nam
tới năm 2020. Chiến lược phát triển GDMN của nước ta từ nay đến 2020
được thể hiện rõ trong quan điểm sau:
9
- Phát triển GDMN được coi là nền tảng cho sự phát triển nguồn lực
con người, phục vụ trực tiếp cho mục tiêu phổ cập tiểu học và trung học cơ sở
thế kỉ XXI.
- GDMN theo hướng đa dạng hóa các loại hình đào tạo nhằm thu hút
thêm các nguồn lực đầu tư cho GDMN.
- Không ngừng nâng cao chất lượng chăm sóc GD trẻ phù hợp với đòi
hỏi của sự phát triển kinh tế, xã hội đối với GD&ĐT trong điều kiện công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
1.1.2. Chức năng và nhiệm vụ của GDMN
- GDMN là một nghành học, bậc học trong hệ thống GDQD. Nó đặt
nền móng, cơ sở đầu tiên cho việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ MN
và chuẩn bị cho trẻ vào lớp một.[10]
- Trẻ em ở lứa tuổi mầm non còn nhỏ, cơ thể non nớt nên trẻ phụ thuộc
nhiều vào người lớn và đặc biệt cần sự giúp đỡ của họ. Nhà giáo dục giữ vai
trò là người tổ chức, hướng dẫn, trợ giúp trẻ, tạo cơ hội và cơ may cho trẻ

tâm lí vui tươi, ngăn ngừa bệnh mệt mỏi cho hệt thần kinh.
+ Phát triển các kĩ năng vận động tinh và hoàn thiện dần các vận động
cơ bản, hình thành một số tố chất vận động cho trẻ. Đối với trẻ mẫu giáo, tiếp
tục hình thành, phát triển và hoàn thiện các kĩ năng, kĩ xảo vận động cơ bản
(đi, chạy, nhảy, leo trèo, ) rèn luyện năng lực phối hợp cảm giác (chủ yếu là
thị giác, thính giác) với vận động, phối hợp các vận động của các bộ phận cơ
thể với nhau (đầu, tay, chân, mình) vận động tinh của tay, năng lực định
hướng trong vận động. Từng bước rèn luyện những tố chất của vận động giúp
cho trẻ vận động ngày càng nhanh nhẹn, chính xác, linh hoạt, dẻo dai, không
có những động tác thừa.
11
+ Hình thành một số kĩ năng văn hóa – vệ sinh đơn giản. GD và tập cho
trẻ một số kĩ năng văn hóa – vệ sinh đơn giản (trẻ tự xúc ăn, ăn ngậm miệng,
khi ăn không nói chuyện, biết mời trước khi ăn, ). Từng bước tạo cho trẻ thói
quen ăn, ngủ, thức đúng giờ và dễ dàng thích nghi khi chuyển từ hoạt động này
sang hoạt động khác. Tập cho trẻ hiểu được cách sống ở trường mầm non và tổ
chức không gian sống ở trường mà không cần đến sự trợ giúp của người lớn.
+ Hình thành những kiến thức, kĩ năng và thái độ cần thiết cho việc
đảm bảo sự an toàn cho sức khỏe. Hình thành ở trẻ tính tò mò ham hiểu biết
về sức khỏe con người và tự giác làm những việc cần thiết để phòng bệnh.
Biết được một số món ăn, thực phẩm thông thường và lợi ích của chúng đối
với sức khỏe. Biết một số nguy cơ không an toàn và phòng tránh.
+ Phát triển ở trẻ khả năng tự kiểm soát và điều khiển cơ thể, phát triển
tính độc lập, tự tin vào năng lực thể chất của bản thân. Tập cho trẻ biết phối
hợp vận động nhịp nhàng, giữ được thăng bằng khi thực hiện vận động, thực
hiện và phối hợp được các cử động của bàn tay, ngón tay
- GD và phát triển hoạt động nhận thức cho trẻ, là một quá trình tác
động sư phạm có mục đích, có định hướng, có kế hoạch của nhà GD đến trẻ
nhằm hình thành cho trẻ một số biểu tượng đơn giản về thế giới xung quanh
và phương thức hoạt động trí tuệ thức sơ đẳng góp phần phát triển những

vụ và nội dung của phát triển ngôn ngữ bao gồm:
+ Với trẻ em nhà trẻ: Nghe hiểu được các yêu cầu đơn giản bằng lời
nói, biết hỏi và trả lời một số câu hỏi đơn giản, sử dụng lời nói để giao tiếp và
diễn đạt một số mong muốn và yêu cầu đơn giản của trẻ.
+ Với trẻ em mẫu giáo: Nghe và hiểu lời nói trong giao tiếp, có khả
năng biểu đạt bằng nhiều cách khác nhau, có khả năng diễn đạt rõ ràng trong
giao tiếp và bước đầu có kĩ năng về đọc và viết.
- GD tình cảm đạo đức - xã hội cho trẻ. Là quá trình tác động sư phạm
có mục đích, có kế hoạch của nhà giáo dục đến trẻ em nhằm hình thành và
13
phát triển cho trẻ những xúc cảm tình cảm lành mạnh và có thái độ đúng mực
trong mối quan hệ cũng như trong ứng xử với mọi người xung quanh, với
thiên nhiên và bản thân mình. Trên cơ sở đó hình thành cho trẻ khả năng thích
ứng xã hội, thiết lập mối quan hệ và giao tiếp với người khác đồng thời phát
triển tính tự lực của trẻ. Nhiệm vụ và nội dung của GD đạo đức – xã hội cho
trẻ bao gồm:
+ Phát triển xúc cảm lành mạnh cho trẻ nhỏ. GD trẻ có ý thức về bản
thân, bước đầu có ý thức về công dân. Nhận biết và thể hiện xúc cảm, tình
cảm với mọi người, sự vật, hiện tượng xung quanh. Hướng trẻ vào mối quan
hệ gần gũi với thiên nhiên, chú ý đến cái đẹp, cái bao la và sự diệu kì cùng
với sự thay đổi của môi trường xã hội và tự nhiên xung quanh trẻ. Trên cơ sở
đó giúp trẻ hiểu được tầm quan trọng của cuộc sống qua đó GD trẻ biết nâng
niu, giữ gìn và bảo vệ môi trường. GD và hình thành cho trẻ tình cảm, thái độ
tích cực với môi trường xung quanh và trong cộng đồng. Dạy trẻ biết yêu và
gắn bó với những người thân, phát triển ở trẻ tình cảm biết ơn đối với bố mẹ,
ông bà.
+ Hình thành cho trẻ những mối quan hệ bạn bè gần gũi và thân thiện.
Dạy trẻ biết cách giúp đỡ nhau, biết chia sẻ đồ chơi cho các bạn cùng chơi,
giữ gìn đồ chơi chung.
+ GD cho trẻ một số hành vi và quy tắc ứng xử xã hội.

Nhà nước ta về phát triển GDMN thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tiếp
thu các lý luận và kinh nghiệm của các nước tiên tiến trên thế giới. Đề án
cũng đã tổng kết, phân tích và đánh giá thực trạng GDMN cả nước và mỗi
vùng miền trong hơn 10 năm qua, trên cơ sở đó, đặt yêu cầu phát triển
GDMN trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước.[3]
15
Trường mầm non là đơn vị cơ sở của GDMN trong hệ thống GDQD.
Trường đảm nhận việc nuôi dưỡng, chăm sóc và GD trẻ em nhằm giúp trẻ em
hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp
một. Trường mầm non có tư cách pháp nhân và con dấu riêng và có những
nhiệm vụ và quyền hạn.[10]
- Tiếp nhận và quản lý trẻ em trong độ tuổi.
- Tổ chức nuôi dưỡng, chăm sóc, GD trẻ em theo chương trình chăm
sóc, GDMN do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
- Quản lý giáo viên, nhân viên và trẻ em.
- Quản lý, sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo
quy định của pháp luật.
- Chủ động kết hợp với các bậc cha mẹ trong việc nuôi dưỡng, chăm
sóc, GD trẻ em, kết hợp với các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội
nhằm tuyên truyền, phổ biến những kiến thức về khoa học nuôi dạy trẻ em
cho gia đình và cộng đồng.
- Tổ chức cho giáo viên, nhân viên và trẻ em của trường tham gia các
hoạt động xã hội trong phạm vi cộng đồng.
- Giúp đỡ các cơ sở giáo dục mầm non khác trong địa bàn.
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
Trường mầm non là địa bàn để tiến hành thực hiện chiến lược đào tạo
và nuôi dưỡng thế hệ trẻ tương lai của đất nước. Chiếm một vị trí quan trọng
và là bộ phận không thể thiếu trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nghành
GD nói riêng và đất nước nói chung.
1.2. Đặc điểm của GDMN

17
Đối với GD trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo, nếu ở nhà trẻ nhiệm vụ hàng
đầu là GD sức khỏe và thể chất cho trẻ thì vào lứa tuổi này nhiệm vụ GD đạo
đức cho trẻ được đặt lên hàng đầu. Nhà giáo dục cần quan tâm đặc biệt tới
việc hình thành cho trẻ một số chuẩn mực về hành vi đạo đức phù hợp với
yêu cầu của xã hội, cộng đồng, trường, lớp, mẫu giáo và gia đình. Tập cho trẻ
có một số kĩ năng như như kĩ năng cùng chia sẻ, cùng học và chơi, thỏa thuận
hợp tác cùng nhau. Giáo dục cho trẻ có ý thức về bản thân, có trách nhiệm với
mọi người xung quanh, có ý thức bảo vệ và biết giữ gìn môi trường xanh,
sạch, đẹp.
GD cho trẻ những tình cảm và phẩm chất đạo đức như yêu mến người
thân, lễ phép với người trên, quan tâm chia sẻ giúp đỡ bạn, chơi hòa thuận với
bạn, GD cho trẻ tự tin và chủ động tích cực trong cuộc sống và hoạt động
của trẻ ở trường mầm non. Một nhiệm vụ vô cùng quan trọng ở lứa tuổi mẫu
giáo là phát triển ngôn ngữ nói mạch lạc và cho trẻ làm quen với môi trường
chữ viết, khai thác tiềm năng đọc, và viết của trẻ mẫu giáo lớn. Tiếp tục cho
trẻ khám phá thế giới xung quanh bằng các giác quan. Rèn luyện và phát triển
độ tinh nhạy của các giác quan, trên cơ sở đó phát triển tư duy trực quan hành
động, hình tượng và chú ý phát triển tư duy trực quan sơ đồ cho trẻ mẫu giáo
lớn. Đặc biệt chú ý đến phát triển một số thao tác của tư duy như so sánh,
phân tích, tổng hợp và óc tưởng tượng sáng tạo của trẻ. Cung cấp và làm giàu
cho trẻ một số biểu tượng về bản thân, môi trường xã hội, môi trường tự nhiên
xung quanh trẻ, hình thành cho trẻ một số biểu tượng toán sơ đẳng. GD cho
trẻ những năng lực, phẩm chất trí tuệ cần thiết. Hoạt động vui chơi trở thành
hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo, chiếm vị trí trung tâm trong chương trình
GD mẫu giáo. Vì vậy giáo viên cần quan tâm đến việc tổ chức hoạt động vui
chơi cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non. Nhà giáo dục cần coi hoạt động vui
chơi là hoạt động thích hợp nhất để làm phương tiện, con đường lồng ghép,
18
đan cài tích hợp nội dung giáo dục theo các chủ đề, chủ điểm giúp trẻ chiếm

- Hiệu phó.
- Công đoàn.
- Đoàn thanh niên.
- Tổ bộ môn.
+ Ban giám hiệu.
+ Tổ hành chính.
+ Tổ nhà trẻ.
+ Tổ mẫu giáo.
+ Tổ nuôi dưỡng.
1.2.2. Hoạt động dạy và học của trường MN
Dạy học cho trẻ mẫu giáo là hoạt động hợp tác dạy và học cùng nhau
giữa giáo viên và trẻ, trong đó giáo viên là người tổ chức hướng dẫn, tạo điều
kiện, cơ hội cho trẻ khám phá thế giới xung quanh còn đứa trẻ tích cực chiếm
lĩnh tri thức, kĩ năng cần thiết cho việc học tập sau này của trẻ ở lớp một.
Đặc điểm hoạt động dạy – học cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non.
“Học” ở trẻ mẫu giáo là một hoạt động đặc biệt. Học là hoạt động độc lập của
trẻ nhằm lĩnh hội những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và phương thức hành động,
diễn ra dưới sự hướng dẫn của giáo viên.[10]
Mục tiêu dạy học cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non nhằm giúp trẻ
lĩnh hội được những tri thức sơ đẳng cần thiết, phát triển quá trình nhận thức
và ngôn ngữ, một số kĩ năng hoạt động học tập cần thiết sau này ở trường phổ
thông, góp phần hình thành và phát triển các năng lực chung của trẻ, giúp trẻ
20
phát triển một cách hài hòa, hòa nhập dần vào cuộc sống và dễ dàng thích
nghi với học tập ở bậc học Tiểu học sau này.
Nội dung dạy học cho trẻ mẫu giáo không phân chia theo các “bộ
môn” riêng lẻ mà theo các chủ đề gần gũi với cuộc sống thực của trẻ. Những
chủ đề này những chủ đề có chứa đựng toàn bộ những tri thức sơ đẳng của
đời sống văn hóa – xã hội và giới tự nhiên, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt
động học tập của trẻ mẫu giáo hòa lẫn trong hoạt động tự nhiên đầy hứng thú,

Từ 3 đến 6 tháng: 15 cháu
Từ 7 đến 12 tháng: 18 cháu
Từ 13 đến 18 tháng: 20 cháu
Từ 19 đến 24 tháng: 22 cháu
Từ 25 đến 36 tháng: 25 cháu.
+ Trẻ em từ 37 tháng đến 6 tuổi được tổ chức thành các lớp mẫu giáo.
Số trẻ em tối đa 1 lớp quy định như sau:
Lớp 3, 4 tuổi: 25cháu
Lớp 4, 5 tuổi: 30cháu
Lớp 5, 6 tuổi: 35cháu.
+ Nếu số lượng trẻ em ít, không đủ để tổ chức nhóm, lớp theo quy định
trên thì cho tổ chức thành nhóm trẻ ghép hoặc lớp mẫu giáo ghép.
- Mỗi nhóm, lớp có đủ số giáo viên theo quy định, nếu có từ 2 giáo viên
trở lên thì hiệu trưởng phân công 1 giáo viên phụ trách chính.
- Trường có thể gồm nhiều điểm trường được bố trí ở các điểm khác
nhau trên cùng địa bàn, mỗi điểm trường nếu có từ 2 nhóm, lớp trở lên thì
hiệu trưởng cử 1 giáo viên phụ trách chung.
22
1.3. Đặc điểm GDTC trong trường mầm non
Các tư liệu lịch sử đã xác nhận rằng từ nửa cuối thế kỉ XVII đã có
những tư tưởng tiến bộ về giáo dục thể thao cho trẻ. Đến đầu thế kỉ XVII
G.Rutxo (1712- 1778) người Pháp đã nêu những tư tưởng đúng đắn về vai trò
của giáo dục thể dục thể thao đối với việc phát triển con người, kể cả đối với
việc con người nhận thức thế giới xung quanh. Ông viết “thân thể sinh ra
trước tâm hồn nên việc quan tâm đến thân thể phải là trước tiên: bắt đầu là thể
chất, sau đó là các trò chơi và các bài tập thể chất. Đó là những thứ có tác
dụng tăng cường sức khỏe cơ thể của trẻ, góp phần hình thành tính cách và
giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh dễ dàng hơn”. Vấn đề sức khỏe, khả
năng làm việc và cuộc sống hạnh phúc của con người là hết sức quan trọng
mà mỗi quốc gia, mỗi gia đình và mỗi cá nhân đều quan tâm. Trong đó việc tổ

động và phát triển các tố chất thể lực của cơ thể con người.
Chương trình GDTC trong trường mầm non có cấu trúc bao gồm:
- Mục tiêu chương trình GDTC cho trẻ MN, tạo hoạt động vui chơi giải
trí cho trẻ, thông qua đó để GD phát triển thể lực, hình thành kĩ năng vận
động nền tảng như chạy, nhảy, ném,… đồng thời GD trẻ đạo đức và phẩm
chất tốt đẹp cơ bản. Phát triển toàn diện cho trẻ cả về thể chất, tinh thần và trí
tuệ cũng như tình cảm đạo đức – thẩm mĩ.[6]
- Nội dung chương trình GDTC cho trẻ MN được thực hiện thông qua
tổ chức chế độ sinh hoạt hằng ngày và tổ chức hoạt động vận động cho trẻ ở
trường mầm non. Thông qua đó để hình thành ở trẻ kĩ năng, kĩ xảo vận động
và phát triển tố chất thể lực cho các em. Đó chính là hệ thống bài tập thể chất
dành cho trẻ MN.[7]
24
Bài tập thể chất xuất hiện khi con người ý thức được sự cần thiết phải
có sức khỏe để thực hiện các hành động lao động như săn bắn, chế tạo công
cụ,…nhờ có sự phát triển của lí luận và thực tiễn GDTC, đã ra đời hệ thống
các bài tập thể chất chuyên biệt cho từng nghề nghiệp, cho từng lứa tuổi từ
mầm non cho tới người cao tuổi. Có thể nói, bài tập thể chất các hành động
vận động được lựa chọn làm một trong các nội dung để thực hiện nhiệm vụ
GDTC. Ngoài ra, các bài tập thể chất còn là phương tiện để thực nhiệm và
nghiên cứu hiện tượng tâm lí. Không có sự phân tích đúng đắn những cơ sở
tâm lí học của các bài tập thể chất thì không thể đưa ra những phương pháp
hợp lí trong dạy học vận động. Mặt khác, bài tập thể chất còn là phương tiện
để đánh giá năng lực thể chất của con người. Các bài tập thể chất được phân
biệt bởi nội dung và hình thức của chúng. Nội dung của bài tập thể chất bao
gồm: tổ hợp các động tác – các phần của bài tập, các quá trình diễn ra trong
cơ thể khi thực hiện bài tập như quá trình sinh cơ, sinh lí, tâm lí,… và kết quả
tác động của quá trình đó đến người tập, cần xác định giá trị của chúng trong
quá trình giải quyết nhiệm vụ GD và giáo dưỡng. Hình thức của các bài tập
thể chất bao gồm hình thức bên ngoài và cấu trúc bên trong của nó. Hình thức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status