luận văn đại học sư phạm hà nội Biện pháp tổ chức TCDG nhằm phát triển trí tuệ cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi - Pdf 26

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thế kỷ XXI loài người sống trong nền văn minh công nghiệp hiện đại,
trong đó con người là trung tâm của sự phát triển.Sự hùng mạnh của các quốc
gia trên thế giới là do tiềm năng trí tuệ quyết định, do đó phát triển năng lực
trí tuệ và năng lực hành động cho con người là một trong những xu hướng
xây dựng chiến lược giáo dục của nhiều quốc gia trên thế giới.
Ở Việt Nam, trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta đã chỉ rõ “Điều
quyết định là ở con người với trí tuệ và năng lực ngày càng cao” và Đảng ta
cũng khẳng định rõ ràng rằng “Nguồn lực lớn nhất, quý báu nhất của chúng ta
là tiềm lực con người, trong đó có tiềm lực trí tuệ” [11, tr118].
Do đó phát huy nguồn lực con người là nhân tố cơ bản của sự phát triển
nhanh chóng và bền vững của xã hội, con người vừa là mục tiêu vừa là động
lực của sự phát triển kinh tế - xã hội, là nhân tố quyết định thắng lợi trong sự
nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Để chuẩn bị nguồn năng
lực đáp ứng nhu cầu của xã hội Đảng đã chỉ rõ “Vai trò của trí tuệ, nguồn
nhân lực có trí tuệ và đi liền với nó là vai trò của giáo dục - đào tạo, đầu tư
cho giáo dục là đầu tư cho sự nghiệp phát triển” [12, tr 6]
Đảng ta, nhà nước ta rất quan tâm đến giáo dục mầm non. Nước ta trở
thành quốc gia đầu tiên ở Châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn công ước
quốc tế về quyền trẻ em. Đồng thời xây dựng và triển khai chương trình hành
động quốc gia vì trẻ em 1991 - 2000 đã được Liên hiệp quốc đánh giá cao.
Trong Nghị quyết Trung ương II khoá VIII, đảng ta đã đề ra mục tiêu cụ
thể cho giáo dục mầm non là: “Phát triển bậc học mầm non phù hợp với điều
kiện và yêu cầu của từng nơi, đảm bảo hầu hết trẻ em năm tuổi được học
chương trình mẫu giáo lớn, chuẩn bị cho trẻ vào lớp một”
Trong quá trình giáo dục trẻ em, việc phát triển trí tuệ cho trẻ có vai trò
quan trọng. Chăm sóc giáo dục trẻ thật tốt hôm nay chính là chuẩn bị cho
1
những chủ nhân tuơng lai có trí tuệ, năng động, sáng tạo, có khả năng thích
ứng với nhiều loại hình lao động mới.

3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
3.1. Khách thể nghiên cứu:
Quá trình tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi thông
qua trò chơi dân gian.
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
Một số biện pháp tổ chức trò chơi dân gian nhằm phát triển trí tuệ cho trẻ
mẫu giáo 4 - 5 tuổi.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:
Trò chơi nói chung và trò chơi dân gian nói riêng là một phương tiện
giáo dục và phát triển trí tuệ cho trẻ mẫu giáo. Hiệu quả giáo dục của trò chơi
phụ thuộc vào các biện pháp tổ chức của người lớn.
Nếu xây dựng được biện pháp tổ chức trò chơi dân gian phù hợp với trẻ
mẫu giáo 4 - 5 tuổi thì trò chơi dân gian sẽ thực sự trở thành phương tiện phát
triển trí tuệ có hiệu quả đối với trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Hệ thống hoá cơ sở lý luận về trò chơi dân gian và việc phát triển
trí tuệ cho trẻ mẫu giáo thông qua trò chơi dân gian.
5.2. Tìm hiểu thực trạng sử dụng các biện pháp tổ chức trò chơi dân
gian cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi ở địa bàn nghiên cứu hiện nay (tỉnh
Đồng Tháp)
5.3. Xây dựng và thử nghiệm một số biện pháp tổ chức trò chơi dân gian
nhằm phát triển trí tuệ cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi ở trường mầm non.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá các tài
3
liệu trong nước và ngoài nước về các vấn đề mà đề tài nghiên cứu.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
6.2.1. Phương pháp quan sát:
Quan sát, ghi chép những hoạt động có sử dụng trò chơi dân gian ở

Sưu tầm trò chơi dân gian và đề xuất một số biện pháp tổ chức trò chơi
dân gian nhằm phát triển trí tuệ cho trẻ 4 - 5 tuổi.
8. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục.
Nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của biện pháp tổ chức trò chơi dân
gian nhằm phát triển trí tuệ cho trẻ 4 - 5 tuổi.
Chương 2: Xây dựng một số biện pháp tổ chức trò chơi dân gian nhằm
phát triển trí tuệ cho trẻ 4 - 5 tuổi.
Chương 3: Thực nghiệm biện pháp tổ chức trò chơi dân gian nhằm phát
triển trí tuệ cho trẻ 4 - 5 tuổi.
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Việc nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của con người nói chung và trẻ em
nói riêng là một trong những vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm.
Những công trình nghiên cứu của J.Piagiê, B.Inhelder đã chỉ ra sự
hình thành và phát triển các cấu trúc trí tuệ của trẻ em ở các lứa tuổi khác
nhau trong mối quan hệ tương tác với môi trường xung quanh.
Một số nhà tâm lý học Xô Viết như L.X.Vưgôtxki, A.N.Lêônchep,
P.Ia.Gianpêrin đã nghiên cứu quá trình hình thành hành động trí tuệ ở trẻ
em, nhờ đó đã phát hiện ra cơ chế chuyển từ hành động vật chất bên ngoài
thành hành động trí tuệ (ở bên trong) và đặc điểm của các giai đoạn đó.
X.L.Rubinstein, N.A.Menchinxkaia khi nghiên cứu tư duy, đặc biệt là
các thao tác cơ bản của tư duy như phân tích, tổng hợp, khái quát hoá của học
sinh đã chỉ ra các qui luật, mức độ, đặc điểm phát triển tư duy nói chung, các
thao tác của nó nói riêng trong những điều kiện lứa tuổi và học tập khác nhau.
Những công trình nghiên cứu của L.V.Dancôp, Đ.B.Encônhin, Jerome
S.Bruner đã đi sâu phân tích khả năng học tập của học sinh dưới ảnh hưởng

trọng trong việc phát triển trí tuệ cho trẻ mẫu giáo. Theo N.K.Krupxkaia trò
chơi đối với trẻ không chỉ là giải trí: “Đối với trẻ mẫu giáo, trò chơi có ý
nghĩa vô cùng to lớn: trò chơi đối với trẻ là sự học tập, là lao động và nó là
một hình thức giáo dục nghiêm túc” [22 – 37]
Thực tế cho thấy hoạt động vui chơi nói chung, TCDG nói riêng từ lâu
đã cuốn hút sự quan tâm của các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác
nhau như sinh học, tâm lý học, xã hội học, giáo dục học Nhưng đến cuối thế
kỷ XIX, đầu thế kỷ XX các nhà khoa học mới nghiên cứu hoạt động này một
7
cách sâu sắc. Vấn đề lý luận và phương pháp tổ chức trò chơi nói chung và
TCDG nói riêng được các nhà sư phạm thế giới và Việt Nam quan tâm, bởi lẽ
họ thấy được ý nghĩa đích thực của trò chơi trong việc giáo dục và dạy học
cho trẻ.
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, một số nhà giáo dục Nga như:
P.A.Bexônôva, O.P.Seia, V.I. Đalia, E.A.Pokrôvxki đã đánh giá cao vai trò
giáo dục đặc biệt là tính hấp dẫn của trò chơi dân gian Nga đối với trẻ mẫu
giáo. E.A.Pokrôvxki đã chỉ ra nguồn gốc và tính hấp dẫn đặc biệt của TCDG
Nga, đó là những trò chơi thuộc nhóm trò chơi có luật do nhân dân sáng tác,
chúng được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trò chơi này đa dạng về
thể loại và phong phú về nội dung. TCDG có sức hấp dẫn lạ thường với trẻ
em bởi lẽ, chúng làm thoả mãn nhu cầu chơi, nhu cầu nhận thức và nhu cầu
xã hội của trẻ em.
Ở một số nước phương đông như Trung Quốc, Ấn Độ, người lớn cũng
đã sưu tầm các TCDG, đặc biệt là TCDG mang tính trí tuệ như “trò chơi tang”,
“trò chơi uẩn”, chơi với vật liệu thiên nhiên nhằm mục đích giáo dục trẻ.
Việc nghiên cứu trò chơi nói chung và TCDG Việt Nam nói riêng đã
được một số nhà văn hoá, nhà giáo dục Việt Nam sưu tầm, nghiên cứu như:
“Trò chơi xưa và nay” của tác giả Mai Văn Muôn (1985); “Trò chơi dân gian
của trẻ em Việt Nam” (1992) do nhóm tác giả Huy Hà, Hoàng Lân, Ngô Bích
Luận, Phan Ngọc Minh, Lê Bích Ngọc sưu tầm tuyển chọn và giới thiệu; “100

giả đi sâu nghiên cứu biện pháp tổ chức TCDG cho trẻ mẫu giáo như Thạc
sĩ Huỳnh Kim Vui với “Một số biện pháp tổ chức trò chơi dân gian cho trẻ
mẫu giáo bé nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho trẻ”. Thạc sĩ
Đặng Thị Sáu với: “Một số biện pháp gây hứng thú đối với TCDG cho trẻ
mẫu giáo lớn”
9
Điểm qua các công trình nghiên cứu trên cho thấy, từ trước đến nay trò
chơi nói chung, TCDG nói riêng được sử dụng nhiều trong các trường mầm
non Việt Nam và được coi là một bộ phận quan trọng trong chương trình
chăm sóc - giáo dục trẻ mầm non. Nhưng trên thực tế giáo viên chưa khai thác
hết tiềm năng của các loại trò chơi, đặc biệt là TCDG nhằm mục đích phát
triển trí tuệ cho trẻ.
TCDG hiện nay đang dần mai một đi, trẻ có ít cơ hội được chơi những
TCDG cổ truyền, được tiếp xúc với nền văn hoá của các thế hệ, mở rộng vốn
hiểu biết về cuộc sống Trước tình hình này đòi hỏi các nhà nghiên cứu, các
giáo viên mầm non cần tiếp tục nghiên cứu để tìm ra các biện pháp thích hợp
để khai thác tiềm năng của TCDG trong quá trình giáo dục trẻ mầm non. Tuy
đã có khá nhiều những công trình nghiên cứu về vai trò của trò chơi nói
chung, TCDG nói riêng với sự phát triển của trẻ em, để TCDG trở thành món
ăn tinh thần, một phương tiện phát triển trí tuệ cho trẻ em nói chung và trẻ
mẫu giáo 4 - 5 tuổi nói riêng, thì việc nghiên cứu “Biện pháp tổ chức TCDG
nhằm phát triển trí tuệ cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi” có ý nghĩa cả về lý luận
và thực tiễn đối với vấn đề tổ chức TCDG ở trường mầm non hiện nay.
1.2. Cơ sở lý luận của biện pháp tổ chức trò chơi dân gian nói chung và
trò chơi dân gian nhằm phát triển trí tuệ cho trẻ mẫu giáo
1.2.1. Một số vấn đề về sự phát triển trí tuệ của trẻ em
1.2.1.1. Khái niệm chung về sự phát triển trí tuệ.
1.2.1.1.1. Khái niệm
Trong quá trình phát triển tâm lí, sự phát triển trí tuệ đóng một vai trò
thiết yếu góp phần hình thành đời sống tâm lí của con người, vì vậy muốn tìm

U.Sterner; Piaget; Đ. Wechler; R.Zazzo có thể dẫn ra một số trong nhóm
quan điểm này: theo Piaget (1969) bất kỳ trí tuệ nào cũng đều là một sự thích
ứng. D. Wechler (1939) cho rằng: “Trí tuệ là khả năng tổng thể để hoạt động
11
một cách có suy nghĩ, tư duy hợp lý, chế ngự được môi trường xung quanh.
Trí tuệ là khả năng xử lý thông tin để giải quyết vấn đề và nhanh chóng thích
nghi với tình huống mới”(F.Raynal; A.Riennier - 1997). Trí tuệ là khả năng
hiểu các mối quan hệ sẳn có giữa các yếu tố của tình huống và thích nghi để
thực hiện cho lợi ích bản thân (N.Sillamy - 1997).
Ngoài các nhóm quan niệm trên, còn có các cách hiểu khác nhau về trí
tuệ, hướng tiếp cận riêng của mỗi nhà nghiên cứu. Các ngành tâm lí học
Ghestan quan tâm nhiều đến thành phần sáng tạo trong các thao tác trí tuệ của
cá nhân. Các nhà trắc nghiệm học quan tâm nhiều đến hiệu quả thực hiện các
bài tập do nhà nghiên cứu đưa ra.
Thực ra, các quan niệm về trí tuệ không loại trừ nhau. Trong thực tiễn
không có quan niệm nào chỉ chú ý đến duy nhất một khía cạnh năng lực tư
duy hay khả năng thích ứng, mà thường đề cập đến hầu hết các nội dung đã
nêu trên. Sự khác biệt giữa các quan niệm chỉ là ở chổ khía cạnh nào được
nhấn mạnh và nghiên cứu sâu hơn. Có một quan niệm theo chúng tôi là phù
hợp với xu hướng hiện nay: “Trí tuệ là một mặt cơ bản của nhân cách là khả
năng phát hiện, tiếp cận và xử lý thông tin để giải quyết những tình huống
mới, trong mối quan hệ giữa chủ thể hoạt động với môi trường hoạt động
nhằm thích ứng tích cực với điều kiện của cuộc sống”.
Theo quan điểm của Vưgotxki, trí tuệ có hai mức độ là trí tuệ bậc thấp và
trí tuệ bậc cao. Trí tụê bậc thấp có phần giống với trí tuệ động vật được đặc
trưng bởi mối quan hệ trực tiếp kích thích - phản ứng. Trí tuệ bậc cao đặc
trưng bởi sự tham gia của ngôn ngữ và mối quan hệ gián tiếp giữa chủ thể với
đối tượng thông qua công cụ tâm lý. Như vậy, phương tiện làm trung gian của
trí tuệ bậc cao đó là ngôn ngữ (hệ thống tín hiệu thứ hai). Vốn tâm lý là
phương tiện giúp chúng ta phát hiện, tiếp cận xử lý thông tin. Khả năng trí tuệ

Từ hai thuyết trên chúng ta thấy rằng điểm chung hợp lý của cấu trúc trí
tuệ làm điểm tựa cho việc nghiên cứu thực tiễn trí tuệ của trẻ em mẫu giáo là:
13
Trí tuệ là cấu trúc nhiều thành phần.
Nội dung trí tuệ bao gồm cái phản ánh và phương thức tạo ra cái phản
ánh (các thao tác trí tuệ)
1.2.1.1.3. Các thành phần của trí tuệ.
a. Tri giác.
Tri giác là quá trình nhận thức, phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc
tính của sự vật và hiện tượng khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan.
Tri giác là một thành phần của trí tuệ, nó có ý nghĩa quan trọng trong sự
phát triển tâm lý trẻ, nó tham gia tích cực vào hoạt động trí tuệ của cá nhân,
giúp cho trẻ nhận thức đầy đủ hơn về thực tại và nguyên liệu chủ yếu cho quá
trình tư duy.
Tri giác sự vật như là đối tượng phức tạp đòi hỏi chức năng phân tích tổng
hợp của vỏ não. Vì vậy muốn quá trình tri giác sự vật được tốt, trẻ cần phải quen
thuộc với đối tượng đó, cần phải biết đối tượng đó thuộc nhóm đối tượng nhất
định nào, phải biết được tên gọi của sự vật cụ thể thì trẻ mới hiểu biết được cái
mà mình tri giác.
Trong quá trình tri giác, trẻ thu thập vốn tri thức cá nhân, đồng thời nắm
vững kinh nghiệm xã hội. Sản phẩm tri giác càng phong phú thì càng cung
cấp nhiều nguyên liệu cho hoạt động trí tuệ. Trẻ nhận ra những đối tượng
riêng biệt, hoàn toàn không liên hệ lẫn nhau, vạch ra những liên hệ chức năng
của chúng, phát hiện những quan hệ sâu sắc hơn giữa các sự vật và hiện
tượng, giữa các nguyên nhân, các liên hệ, hoàn cảnh, mục đích Tri giác
được hình thành trong suốt thời gian phát triển của trẻ và cùng với sự phát
triển của lứa tuổi thì khả năng tri giác của trẻ ngày càng phát triển hoàn thiện.
Sự hoàn thiện của tri giác không tách rời sự phát triển chung về trí tuệ ở trẻ.
b. Trí nhớ.
Trí nhớ là một thành phần cũng rất quan trọng của trí tuệ. Đó là sự

người có thể sử dụng nó trong hoạt động tư duy càng có kết quả
15
d. Tưởng tượng.
Tưởng tượng là một hoạt động phản ánh của con người nhằm tái tạo lại
một biểu tượng về một sự vật hoặc hiện tượng đã có trong thế giới khách quan
những chưa có trong kinh nghiệm của cá nhân hoặc sáng tạo ra một biểu
tượng mới về sự vật hiện tượng của tương lai trên cơ sở các biểu tượng của
thế giới hiện thực đã có trong kinh nghiệm của cá nhân.
Tưởng tượng có một vai trò quan trọng trong hoạt động trí tuệ của con
người, nó điều khiển, điều chỉnh hành vi của con người. Nhờ có tưởng tượng
mà con người dựng được những hình ảnh tâm lí mới về sự vật và hiện tượng
dựa trên cơ sở những biểu tượng đã có. Tưởng tượng như cái cầu nối giữa
nhận thức và hành động. Nó là một trong các động lực thúc đẩy con người từ
hoạt động nhận thức sang hoạt động sáng tạo, đồng thời tưởng tượng là động
lực thúc đẩy con người hoạt động hướng tới tương lai tốt đẹp hơn.
e. Ngôn ngữ.
Ngôn ngữ là hình thức độc đáo để con người nhận thức đối tượng và hiện
tượng thực tế, là phương tiện để con người giao tiếp với nhau.
Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong sự phát triển nhận thức. Ngôn ngữ
không chỉ là công cụ, phương tiện của tư duy mà nó còn giữ một vai trò to lớn
trong các quá trình tâm lí khác. Ngôn ngữ dùng làm phương tiện để phân biệt,
phân tích các đối tượng, ngôn ngữ tham gia vào các quá trình trí nhớ, làm cho
trí nhớ mang tính chất logic, có ý nghĩa. Nhờ có ngôn ngữ mà con người điều
khiển, điều chỉnh được hành vi của mình. Sự lĩnh hội ngôn ngữ như là
phương tiện phân tích nhiều mặt khác nhau của sự vật và hiện tượng trong
hiện thực khách quan và đồng thời thống nhất, tổng hợp các sự vật và hiện
tượng trong cùng một nhóm, một phạm trù sẽ dẫn đến sự phát triển nhanh
chóng các hình thức hoạt động trí tuệ cao hơn. Trong quá trình phát triển và
khôn lớn của đứa trẻ, ngôn ngữ dần được hoàn thiện và phá triển cùng với sự
phát triển của trí tuệ.

Tổng hợp là sự xác lập trong ý nghĩ mối liên hệ và sự hợp nhất các sự
vật, các bộ phận hay dấu hiệu của chúng.
Thao tác tổng hợp là quá trình bao quát phối hợp nhiều chi tiết, bộ phận,
thành phần đã tách rời nhờ kết quả của sự phát triển hoạt động phân tích nhiều
sự vật và hiện tượng riêng lẽ thành một chỉnh thể, từ đó nghiên cứu nó trong
mối quan hệ thống nhất, hoàn chỉnh.
c. So sánh.
So sánh là việc con người dùng trí óc để đối chiếu các sự vật trong ý
nghĩ, tìm ra những đặc điểm giống nhau hoặc khác nhau, đồng nhất hay
không đồng nhất của sự vật và hiện tượng từ đó tìm ra mối quan hệ bản chất
của chúng.
So sánh - phân tích - tổng hợp là ba mặt cơ bản của quá trình nhận thức.
Nếu phân tích tốt thì quá trình so sánh sẽ trở nên cụ thể, chính xác hơn. Sự
phân tích, tổng hợp là hai thao tác tư duy gắn bó với nhau, là điều kiện cần
thiết để nắm vững tri thức một cách chính xác, khoa học nhằm giải quyết
nhiệm vụ của thực tiễn một cách có hiệu quả.
d. Trừu tượng hoá.
Trừu tượng hoá là quá trình con người tách một thuộc tính hay dấu hiệu
nào đó của sự vật mà những thuộc tính, dấu hiệu này được suy nghĩ một cách
cô lập khỏi bản thân sự vật, khỏi những dấu hiệu khác của sự vật và giữ lại
những dấu hiệu, thành phần quan trọng phục vụ cho mục đích hoạt động mà
vẫn trừu tượng hoá khiến cho kết quả tư duy chính xác, tập trung hơn.
e. Khái quát hoá.
Khái quát hoá là việc hợp nhất trong ý nghĩ những sự vật và hiện tượng
của hiện thực có một số thuộc tính chung nào đó.
Trong quá trình tư duy cần phải có quá trình trừu tượng và khái quát để
hình thành khái niệm.Tất cả các quá trình tư duy: phân tích, tổng hợp, so
18
sánh, khái quát hoá, trừu tượng hoá thực hiện được là nhờ có ngôn ngữ. Việc
dùng từ làm tín hiệu cho phép trừu tượng hoá một số thuộc tính riêng lẻ khỏi

với hoàn cảnh đầu tiên.
Sự hình thành những hành động trí tuệ là cơ sở cho sự phát triển tư duy
của trẻ mẫu giáo. Điểm xuất phát của sự hình thành đó là hành động thực đối
với những đối tượng vật chất. Từ hành động như vậy trẻ chuyển sang hành
động bên trong rút gọn với những đối tượng vật chất tưởng tượng và cuối
cùng chuyển sang những hành động thực hiện hoàn toàn trong bình diện bên
trong, ở đó những đối tượng được thay thế bằng những biểu tượng hoặc
những khái niệm. Những hình thức tư duy trực quan hình tượng và tư duy
logic - khái niệm của trẻ được hình thành.
1.2.1.3. Đặc điểm phát triển trí tuệ của trẻ 4 - 5 tuổi:
Hạt nhân của trí tuệ là tư duy, nhiều nhà tâm lý học coi các thao tác tư
duy: phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá là các thao tác trí
tuệ, coi trình độ phát triển các thao tác này là trình độ phát triển trí tuệ.
Như vậy, đặc điểm phát triển trí tuệ của trẻ 4 - 5 tuổi là sự biểu hiện
của hình thức tư duy bằng hình ảnh trực quan, là sự biểu hiện của năng lực trí
tuệ trực quan ở trẻ. Tư duy hình ảnh trực quan ở trẻ ra đời là sự biến đổi về
chất trong sự phát triển trí tuệ ở trẻ (trước đó trẻ chỉ có tư duy bằng hành động
cụ thể).
Trong tư duy hình ảnh trực quan trẻ không những biết được mối quan hệ
giữa các thành phần, bộ phận trong một vật thể trọn vẹn mà chúng còn biết
được mối quan hệ của nhiều sự vật. Thao tác so sánh ở giai đoạn này xuất
hiện có mục đích rõ ràng là phương tiện để nâng dần lên khả năng khái quát
và trừu tượng hoá.
Ở tuổi mẫu giáo nhỡ, tư duy đang trên đà phát triển mạnh giúp trẻ dự
20
kiến được hành động, lập kế hoạch cho hành động của mình. Trẻ mẫu giáo
nhỡ bắt đầu đề ra cho mình những bài toán nhận thức, tìm tòi cách giải thích
các hiện tượng mà mình nhìn thấy được. Trẻ thường thử nghiệm, chăm chú
quan sát các hiện tượng và suy nghĩ những hiện tượng đó để rút ra kết luận.
Tất nhiên những kết luận đó còn ngây ngô, ngộ nghĩnh và nhiều khi còn gây

Trí tuệ là một nội dung tâm lý điều khiển hành động của con người, trí tuệ
xuất phát từ hành động và xây dựng những cấu trúc như là sự kéo dài của hoạt
động . Ngay trong biểu hiện cao cấp của trí tuệ thì trí tuệ chỉ hoạt động nhờ
những công cụ của tư duy, bao hàm việc thực hiện và liên kết các hoạt động.
Vậy điều kiện nào đảm bảo sự phát triển của trí tuệ?
*Điều kiện xã hội:
Theo các nhà nghiên cứu A.Liublinxkaia, A.V.Petrovski thì sự phát
triển trí tuệ của trẻ em là quá trình trẻ nắm vững kinh nghiệm thực tiễn của xã
hội loài người. Trẻ em lĩnh hội được những tri thức nhất định của xã hội loài
người thông qua quá trình hoạt động của bản thân: vui chơi, học tập, lao động.
Không phải đứa trẻ được sinh ra là đã có ngay trong mình các thành quả
của lịch sử loài người. Thành tựu phát triển của các thế hệ không chứa đựng
trong con người, không chứa đựng trong mầm mống thiên nhiên của con
người mà ở thế giới xung quanh nó, trong thành quả sáng tạo vĩ đại của nền
văn minh nhân loại. Đứa trẻ phải lĩnh hội và nắm vững những kinh nghiệm đã
được hình thành trong lịch sử xã hội loài người, tư duy, trí nhớ, tri giác của trẻ
bị ước chế một cách căn bản bởi sự nắm ngôn ngữ, nắm vững phương thức
hoạt động nhất định và những khái niệm nhất định.
Từ khi mới sinh ra, xung quanh trẻ là thế giới khách quan do con người
tạo ra đó là các đồ dùng trong nhà, quần áo, các công cụ đơn giản, ngôn ngữ
và các biểu tượng. Khái niệm, tư tưởng phản ánh trong lời nói và như vậy,
trẻ bắt đầu phát triển tâm lý, trí tuệ trong thế giới con người. Để nắm được sự
22
vật hiện tượng trong thế giới xung quanh, trẻ cần phải tích cực hoạt động
tương ứng với hoạt động đã được thể hiện vào trong sự vật và hiện tượng đó,
sử dụng hành động và thao tác vận động, trí tuệ cần thiết để tìm hiểu sự vật
đó. Trong quá trình trẻ hoạt động với đồ vật và hiện tượng trong thế giới xung
quanh, giao lưu thực tiễn với người xung quanh và hoạt động với họ là quá
trình trẻ lĩnh hội, tiếp thu những tri thức, kỹ năng - kỹ xảo và kinh nghiệm cá
nhân từ lịch sử xã hội loài người.

trình có sản phẩm là các khái niệm ấy.
Sự phát triển trí tuệ của trẻ em thực chất là mức độ cao của sự phát triển
tư duy. Con đường hình thành tư duy đòi hỏi phải dựa vào một khối lượng lớn
kinh nghiệm trong một thời gian dài. Nhưng trên thực tế thì việc hình thành
các quá trình tư duy ở trẻ dựa vào kinh nghiệm cá thể tương đối không lớn và
diễn ra rất nhanh do trẻ lĩnh hội kinh nghiệm dưới hình thức đã được khái
quát, tri thức đòi hỏi ở trẻ hình thành các thao tác trí tuệ tương ứng và các
thao tác này càng được thực hiện chính xác thì kết quả của tư duy càng cao
dẫn tới sự phát triển trí tuệ của trẻ càng có hiệu quả tốt.
Như vậy, điều kiện xã hội là điều kiện đầu tiên có tính chất quyết định
đảm bảo cho sự phát triển trí tuệ, điều kiện sinh vật làm tiền đề cho sự phát
triển trí tuệ mà nếu nó không hoàn thiện sẽ có ảnh hưởng rất lớn, nhưng nếu
trẻ không thành thục với các thao tác trí tuệ thì khả năng phát triển trí tuệ của
trẻ sẽ bị hạn chế và không phát triển.
Tóm lại, sự phát triển trí tuệ của trẻ phụ thuộc vào rất nhiều điều kiện và
mỗi điều kiện lại có tác động riêng tới sự phát triển trí tuệ của trẻ. Điều kiện
nào cũng cần thiết bởi chỉ một trong ba điều kiện đó không được đáp ứng thì
sự phát triển của trẻ nói chung, sự phát triển trí tuệ của trẻ nói riêng gặp nhiều
khó khăn và nhiều khi không phát triển được.
24
1.2.2. Tổ chức trò chơi dân gian cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi.
Có thể nói một cách khái quát là khi nói về hoạt động vui chơi như: khái
niệm, đặc điểm, nguồn gốc, bản chất, ý nghĩa, phương pháp tổ chức hoạt động
vui chơi cho trẻ mẫu giáo đều tìm thấy trong lý thuyết chung về hoạt động
vui chơi. Song mỗi loại trò chơi và cách tổ chức hướng dẫn trẻ chơi lại có
những nét đặc thù riêng của nó vì thế trong phạm vi nghiên cứu của luận văn
này, chúng tôi chỉ đi sâu vào nghiên cứu TCDG và sử dụng nó làm phương tiện
để phát triển trí tuệ cho trẻ mẫu giáo.
1.2.2.1. Vài nét về trò chơi dân gian.
1.2.2.1.1. Khái niệm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status