TRƯỜNG
KHOA…………………… BÁO CÁO TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI
Phân tích hoạt động sản xuất
kinh doanh và một số biện
pháp nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh ở công ty
tấm lợp vật liệu xây dựng
Đông Anh
Chuyên đề tốt nghiệp
1
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta từ một nền kinh tế tập trung bao cấp chuyển sang nền kinh tế
thị trường. Đó là bước đi đúng đắn của Đảng và Nhà nước.
Trong những năm qua chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, kinh
tế ngày càng phát triển, đời sống xã hội không ngừng được nâng cao. Nhu cầu
cuộc sống đòi hỏi ngày càng cao hơn chính vì vậy đặt ra cho các nhà doanh
nghiệp những thách thức lớn trong cơ chế thị trường. Muốn doanh nghiệp tồn tại
và phát triển làm ăn có lãi, các nhà doanh nghiệp phải đề ra những chiến lược
sản xuất kinh doanh đúng đắn. Trong cơ chế thị trường vấn đề sống còn của các
I. KHÁI NIỆM VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
1. Khái niệm
Phân tích hoạt động kinh doanh là việc phân chia các hiện tượng, các quá
trình và các kết quả kinh doanh thành các bộ phận cấu thành. Trên cơ sở đó,
bằng các phương pháp liên hệ, so sánh, đối chiếu và tổng hợp lại nhằm rút ra
tính quy luật và xu hướng phát triển của các hiện tượng nghiên cứu.
2. Vị trí và chức năng
Trong lĩnh vực quản lý kinh tế, người ta sử dụng phân tích để nhận thức
được các hiện tượng và kết quả kinh tế, để xác định quan hệ cấu thành, quan hệ
nhân quả cũng như phát hiện nguồn gốc hình thành và tính quy luật phát triển
của chúng, trên cơ sở đó mà cung cấp những căn cứ khoa học cho các quyết
định đúng đắn cho tương lai.
Nằm trong hệ thống các môn khoa học quản lý kinh tế, phân tích hoạt
động kinh doanh thực hiện một chức năng cơ bản đó là dự toán và điều chỉnh
các hoạt động kinh tế. Bởi vì trước hết doanh nghiệp được quan niệm như một
hệ thống và hệ thống này là đối tượng của quản lý. Hệ thống này bao gồm nhiều
bộ phận cấu thành (phòng, ban, phân xưởng, tổ đội sản xuất…) và mỗi một bộ
phận cấu thành có chức năng, nhiệm vụ riêng để đảm bảo cho hệ thống hoạt
động bình thường trên con đường đã đặt ra thì đòi hỏi từng bộ phận cấu thành,
dù là nhỏ nhất trong hệ thống phải hoạt động bình thường theo đúng chức năng,
nhiệm vụ của chúng. Như vậy chỉ cần ở một bộ phận nào đó của hệ thống hoạt
động không bình thường sẽ làm cho hoạt động của cả hệ thống không bình
thường. Trong trường hợp này, đòi hỏi người quản lý trên cơ sở phát hiện được
tình hình cần phải đề ra các biện pháp loại trừ "điểm nóng" đó, điều chỉnh và
Chuyên đề tốt nghiệp
4
khôi phục lại sự hoạt động của bộ phận đó, đảm bảo cho cả hệ thống trở lại hoạt
động bình thường.
Ở nước ta hiện nay, phân tích hoạt động kinh doanh đối với các đơn vị
kinh tế là rất quan trọng. Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ để đề ra
định hướng và chương trình định hướng. Trong nền kinh tế thị trường, để chiến
thắng trong cạnh tranh đòi hỏi các đơn vị kinh tế phải thường xuyên áp dụng
các tiến bộ khoa học kỹ thuật, cải tiến phương thức hoạt động, cải tiến phương
thức quản lý sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao năng xuất chất lượng và hiệu
quả. Phân tích hoạt động kinh doanh là công tác cần thiết và quan trọng để đưa
ra các quyết định về sự thay đổi đó.
Tóm lại: Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh là hết sức cần thiết đối
với mọi nền sản xuất hàng hoá. Trong nền kinh tế nước ta hiện nay sự cần thiết
xuất phát từ yêu cầu khách quan của các quy luật kinh tế, từ việc đảm bảo chức
năng quản lý kinh tế của nhà nước và yêu cầu hiệu quả kinh tế của doanh
nghiệp.
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ NỘI DUNG CỦA PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
1. Đối tượng phân tích hoạt động kinh doanh
Đối tượng phân tích hoạt động kinh doanh là diễn biến của quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp và tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến
diễn biến của quá trình đó.
2. Nội dung của phân tích kinh doanh
Phân tích kinh doanh phải phù hợp với đối tượng nghiên cứu, nội dung
chủ yếu của phân tích kinh doanh là:
+ Phân tích các chỉ tiêu về kết quả kinh doanh như: sản lượng sản phẩm,
doanh thu bán hàng, lợi nhuận, giá thành…
+ Các chỉ tiêu kết quả kinh doanh được phân tích trong mối quan hệ với
các chỉ tiêu về điều kiện (yếu tố) của quá trình sản xuất kinh doanh như: lao
động, tiền vốn, đất đai…
Để thực hiện nội dung trên, phân tích kinh doanh được xác định các đặc
trưng về mặt lượng của các giai đoạn, trong quá trình kinh doanh (số lượng, kết
cấu, quan hệ, tỷ lệ…) nhằm xác định xu hướng và nhịp độ phát triển, xác định
Chuyên đề tốt nghiệp
của mọi hoạt động kinh doanh trong một thời kỳ nhất định, nó là chỉ tiêu cơ bản
Chuyên đề tốt nghiệp
7
nhất để phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh. Lợi nhuận của hoạt động kinh
doanh chính là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí của hoạt
động kinh doanh trong kỳ. Công thức tính của nó như sau:
Lợi nhuận = Tổng doanh thu - Tổng chi phí.
3.2.2. Tỷ suất lợi nhuận của hoạt động kinh doanh
Lợi nhuận là đại lượng tuyệt đối đánh giá hoạt động kinh doanh song bản
thân nó mới chỉ biểu hiện một cách đơn giản mối quan hệ so sánh giữa thu và
chi, muốn đưa ra được đánh giá sâu rộng hơn ta phải sử dụng các chỉ tiêu tỷ suất
lợi nhuận hay còn gọi là chỉ tiêu doanh lợi.
Tỷ suất lợi nhuận là đại lượng tương đối dùng để đánh giá hiệu quả hoạt
động kinh doanh, nó được xác định thông qua sự so sánh giữa chỉ tiêu lợi nhuận
với các chỉ tiêu đặc thù của mọi hoạt động kinh doanh là doanh thu, vốn và chi
phí. Từ đó ta có ba chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận được tính toán như sau:
a. Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu:
Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu = Lợi nhuận / Doanh thu đạt được
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng doanh thu có thể mang lại bao nhiêu
đồng lợi nhuận. Tỷ suất lợi nhuận càng cao thì hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp càng tốt. Chỉ tiêu này có ý nghĩa khuyến khích các doanh
nghiệp tăng doanh thu, giảm chi phí nhưng điều kiện để có hiệu qủa là
tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn hơn tốc độ tăng doanh thu.
b. Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí
Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí = Lợi nhuận đạt được /Tổng chi phí bỏ
ra
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng chi phí bỏ ra thì thu được bao nhiêu
đồng lợi nhuận . Để tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thì cần
hạn chế tối đa chi phí để thu lợi nhuận nhiều nhất.
Chỉ tiêu năng suất lao động (1) biểu hiện hiệu quả trong việc sử dụng
lực lượng lao động trong doanh nghiệp .
Chỉ tiêu năng suất lao động (2) hay mức sinh lời bình quân của một
lao động cho biết mỗi lao động sử dụng trong doanh nghiệp tạo ra
được bao nhiêu lợi nhuận trong một thời kỳ nhất định.
3.2.5 Hiệu suất tiền lương:
Chuyên đề tốt nghiệp
9
Hiệu suất tiền lương = Lợi nhuận đạt được / Tổng quỹ lương
Hiệu suất tiền lương cho biết cứ chi ra một đồng tiền lương đem lại
bao nhiêu đồng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Hiệu suất tiền lương tăng
lên khi năng suất lao động tăng với nhịp độ cao hơn nhịp độ tiền
lương.
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả phân tích
Nhân tố là những yếu tố bên trong của mỗi hiện tượng, mỗi quá trình và
mỗi sự biến động của nó tác động trực tiếp đến độ lớn, tính chất xu hướng và
mức độ xác định của chỉ tiêu phân tích. Chẳng hạn như:
- Chỉ tiêu doanh thu bán hàng phụ thuộc vào các nhân tố:
+ Lượng hàng hoá bán ra
+ Kết cấu về khối lượng sản phẩm bán ra
+ Giá bán mỗi đơn vị sản phẩm hàng hoá
- Chỉ tiêu giá thành đơn vị sản phẩm phụ thuộc vào các nhân tố:
Tổng mức giá thành: số lượng sản phẩm sản xuất ra. Bởi vậy khi phân tích
kết quả sản xuất kinh doanh cũng không dừng lại ở việc đánh giá một cách đơn
giản qua các chỉ tiêu, mà còn đi sâu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả
sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.
Nhân tố tác động đến kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh có rất
nhiều, có thể phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau:
- Theo nội dung kinh tế của nhân tố
để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích. Để tiến
hành được cần xác định số gốc để so sánh, xác định điều kiện để so sánh, mục
tiêu để so sánh.
- Xác định số gốc để so sánh:
+ Khi nghiên cứu nhịp độ biến động, tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu,
số gốc để so sánh là chỉ tiêu ở kỳ trước.
+ Khi nghiên cứu nhịp độ thực hiện nhiệm vụ kinh doanh trong từng
khoảng thời gian trong năm thường so sánh với cùng kỳ năm trước.
Chuyên đề tốt nghiệp
11
+ Khi nghiên cứu khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường có thể so sánh
mức thực tế với mức hợp đồng.
- Điều kiện để so sánh được các chỉ tiêu kinh tế:
+ Phải thống nhất về nội dung kinh tế của chỉ tiêu
+ Đảm bảo tính thống nhất về phương pháp tính các chỉ tiêu
+ Đảm bảo tính thống nhất về đơn vị tính, các chỉ tiêu về cả số lượng, thời
gian và giá trị.
- Mục tiêu so sánh trong phân tích kinh doanh:
+ Xác định mức độ biến động tuyệt đối và mức độ biến động tương đối
cùng xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích.
+ Mức biến động tuyệt đối: được xác định trên cơ sở so sánh trị số của chỉ
tiêu giữa hai kỳ: kỳ phân tích và kỳ gốc.
+ Mức độ biến động tương đối: là kết quả so sánh giữa số thực tế với số
gốc đã được điều chỉnh theo một hệ số của chỉ tiêu có liên quan theo hướng quy
mô của chỉ tiêu phân tích.
a. So sánh tuyệt đối: số tuyệt đối là mức độ biểu hiện quy mô, khối lượng
giá trị về một chỉ tiêu kinh tế nào đó trong thời gian và địa điểm cụ thể. Đơn vị
tính là hiện vật, giá trị, giờ công. Mức giá trị tuyệt đối được xác định trên cơ sở
so sánh trị số chỉ tiêu giữa hai kỳ.
dụng nó phân tích hoạt động kinh tế cần áp dụng một trình tự thi hành sau:
- Căn cứ vào mối liên hệ của từng nhân tố đến đối tượng cần phân tích mà
từ đó xây dựng nên biểu thức giữa các nhân tố
- Tiến hành lần lượt để xác định ảnh hưởng của từng nhân tố trong điều
kiện giả định các nhân tố khác không thay đổi.
- Ban đầu lấy kỳ gốc làm cơ sở, sau đó lần lượt thay thế các kỳ phân tích
cho các số cùng kỳ gốc của từng nhân tố.
- Sau mỗi lần thay thế tiến hành tính lại các chỉ tiêu phân tích. Số chênh
lệch giữa kết quả tính được với kết quả tính trước đó là mức độ ảnh hưởng của
các nhân tố được thay đổi số liệu đến đối tượng phân tích. Tổng ảnh hưởng của
các nhân tố tương đối tương đương với bản thân đối tượng cần phân tích.
d. Phương pháp hiệu số %
Chuyên đề tốt nghiệp
13
Số chênh lệch về tỷ lệ % hoàn thành của các nhân tố sau và trước nhân tố
với chỉ tiêu kế hoạch để xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu
phân tích.
Chuyên đề tốt nghiệp
14
CHƯƠNG II
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN TẤM LỢP VÀ VẬT LIỆU XÂY DỰNG ĐÔNG ANH
I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TẤM LỢP ĐÔNG
ANH
1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Năm 1980 được thành lập theo quyết định số 196 - BXD/TCC ngày
Ngày 20/02/1993 xí nghiệp được thành lập lại theo quyết định số
584/BXD - TCLĐ và đến tháng 1 năm 1996 xí nghiệp cung ứng vật tư vận tải
đổi thành xí nghiệp vật tư sản xuất vật liệu xây dựng Đông Anh và tổng liên
hiệp thi công cơ giới đổi tên thành Tổng công ty xây dựng và phát triển hạ tầng
thuộc Bộ xây dựng, với nhiệm vụ chính là sản xuất tấm lợp Amiăng Ximăng. Do
biết chú trọng tốt đến các yêu cầu đòi hỏi của thị trường mà từ năm 1994 trở lại
đây việc sản xuất tấm lợp của công ty trở nên phát triển, làm ăn có lãi, nâng cao
đời sống cán bộ công nhân viên công ty.
Giai đoạn IV (từ 1999 đến nay): nhiệm vụ chính của công ty là sản xuất
tấm lợp AC có chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của khách hàng.
Và những năm gần đây công ty đã không ngừng cải tiến áp dụng khoa học kỹ
thuật đưa năng suất và chất lượng sản phẩm ngày càng cao và được khách hàng
tín nhiệm.
Công ty ngày càng đứng vững và phát triển không ngừng. Do đó, vào
ngày 01/01/1999 theo quyết định số 1436 - QĐ/BXD ngày 28/12/1998 về việc
chuyển doanh nghiệp nhà nước, công ty vật tư và sản xuất vật liệu xây dựng
Đông Anh được cổ phần hoá thành công ty cổ phần. Công ty có tên gọi mới là:
Công ty cổ phần tấm lợp và vật liệu xây dựng Đông Anh thuộc tổng công ty xây
dựng và phát triển hạ tầng và với một cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý mới để phù
hợp với một công ty cô phần. Chuyển sang công ty cổ phần, công ty ngày càng
đứng vững và không ngừng chú trọng về chất lượng sản phẩm sao cho sản phẩm
ngày càng có chất lượng cao và được thị trường chấp nhận. Đồng thời giá thành
ngày càng giảm nhưng vẫn đảm bảo chất lượng, sản phẩm tấm lợp của công ty
Chuyên đề tốt nghiệp
16
đã được người tiêu dùng bình chọn là hàng Việt Nam chất lượng cao năm 1999,
2000, 2001, 2002, 2003, 2004.
2. Đặc điểm về tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh và quy trình công
nghệ sản xuất các loại sản phẩm chủ yếu của công ty:
Sơ đồ 1: Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý của Cty cổ phần tấm lợp-VLXD
Đông Anh
Chức năng, nhiệm vụ của các cá nhân và phòng ban trong công ty:
+ Hội đồng quản trị: là cơ quan quản trị của công ty, có toàn quyền nhân
danh công ty để quyết định mọi vấn đề quan trọng liên quan đến phương hướng
mục tiêu của công ty (từ những vấn đề thuộc thẩm quyền của đại hội cổ đông),
có quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết của hội đồng ban
quản trị, của giám đốc công ty.
+ Ban kiểm soát: ban kiểm soát của công ty gồm 3 thành viên, hoạt động
độc lập theo nhiệm vụ và quyền hạn của mình được quy định tại điều lệ của
công ty và chịu trách nhiệm trước đại hội cổ đông về việc kiểm tra, giám sát
hoạt động của hội đồng quản trị và tổng giám đốc.
Hội đồng quản trị
Ban kiểm soát
Tổng giám đốc Phó giám đốc
phòn
g tổ
Phân
xưởn
g sản
xuất
tấm
lợp
kim
Đội
xe
vận
tải v
đội
xây
l
ắ
p
Chuyên đề tốt nghiệp
18
+ Tổng giám đốc: là người do hội đồng quản trị đề cử, bổ nhiệm và phải
đáp ứng đầy đủ điều kiện là đại diện theo pháp luật của công ty. Tổng giám đốc
là người chịu trách nhiệm tổ chức, điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
hàng ngày của công ty và chịu trách nhiệm trước hội đổng quản trị, thực hiện
nghĩa vụ và quyền hạn của mình phù hợp với các quyết định, điều lệ của công
ty.
+ Phó tổng giám đốc: là người giúp việc cho Tổng giám đốc do hội đồng
quản trị bổ nhiệm miễn nhiệm theo đề nghị của Tổng giám đốc. Được Tổng
dựng và lắp đặt mới theo đơn đặt hàng.
2.2. Quy trình công nghệ sản xuất:
Từ ngày thành lập và hoạt động đến này, công ty có nhiệm vụ chính là sản
xuất vật liệu xây dựng phục vụ cho nhu cầu xây dựng của xã hội. Trong thời
buổi cạnh tranh kinh tế thị trường, công ty đã không ngừng cải tiến máy móc
thiết bị và mạnh dạn đầu tư mua sắm máy móc mới để nâng cao chất lượng sản
phẩm, giảm giá thành trên một đơn vị sản phẩm để đủ sức cạnh tranh với các
doanh nghiệp khác. Công ty đã lắp đặt dây chuyền sản xuất với quy trình công
nghệ khép kín. Từ khi đưa nguyên vật liệu vào đến khi thành sản phẩm làm
giảm bớt tiêu hao nguyên vật liệu, khối lượng thành phẩm sản xuất trong một ca
là lớn, chu kỳ để tạo ra một sản phẩm là tương đối ngắn, điều này dẫn đến năng
suất lao động, sản lượng và vốn lưu động tăng.
Chuyên đề tốt nghiệp
20
Quy trình sản xuất sản phẩm của công ty được biểu diễn theo sơ đồ sau:
TRONG
ĐONG
GIẤY
NGM
-
XÉ
CN
AMIĂNG
CN
NGHIỀN
XIMĂNG
CN
NƯỚC ĐỤC
MY TRỘN
HOLANDER
BỂ BN
BỂ PHN PHỐI PULPER
BỂ XEO
BĂNG TẢI DẠ
XI LANH TẠO TẤM PHẲNG
BĂNG TẢI CAO SU
XI LANH T
Ạ
O SÓNG
Chuyên đề tốt nghiệp
21
II. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT
KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TẤM LỢP ĐÔNG ANH
1. Đặc điểm về sản xuất:
Sản phẩm của công ty là tấm lợp Amiăng Ximăng, một loại vật liệu phục
vụ cho các công trình xây dựng ở giai đoạn hoàn thiện. Đặc điểm của sản phẩm
là: chịu nhiệt tốt, phù hợp khí hậu nóng ẩm nước ta, có độ bền cao (trên 20
năm), giá rẻ và rất thuận lợi cho việc lợp các công trình, có độ dài bất kỳ theo ý
muốn.
Chính vì vậy, sản phẩm tấm lợp có một thị trường tiêu thụ rất rộng lớn
nhất là tại các khu công nghiệp, thành phố, các tỉnh … nơi có các công trình xây
dựng. Và hơn nữa, một số tỉnh phía Bắc, nơi thường hay phải gánh chịu thiên tai
lũ lụt vào mùa mưa bão, cần rất nhiều sản phẩm tấm lợp để khắc phục hậu quả.
Cho nên tấm lợp được tiêu thụ rất mạnh vào các mùa mưa bão thậm chí còn sốt
vì nhu cầu đáp ứng thị trường rất lớn mà công ty sản xuất không kịp. Tuy nhiên
vào các mùa thì nhu cầu trên thị trường có phần giảm đi. Sự khác nhau trong đặc
điểm tiêu thụ từng mùa đã khiến cho quá trình sản xuất của công ty cũng có
những nét riêng biệt. Để khắc phục những khó khăn này và làm cho đời sống
cán bộ công nhân viên luôn ổn định, công ty đã nghiên cứu phân bổ cơ cấu sản
xuất theo từng mùa.
Hiện nay thị trường tiêu thụ sản phẩm chủ yếu của công ty là các tỉnh phía
Bắc.
2. Đặc điểm về tổ chức sản xuất:
Tổ chức sản xuất của công ty cổ phần tấm lợp được thực hiện theo kiểu
công ty- phân xưởng- tổ chức sản xuất -nơi làm việc. Các bộ phận sản xuất được
tổ chức theo hình thức công nghệ với phương pháp tổ chức là phương pháp dây
chuyền khép kín liên tục từ khi bắt đầu sản xuất đến khi thành sản phẩm.
Người Tỷ lệ
Toàn công ty 594 100%
Các phòng ban 50 8,4%
Xưởng tấm lợp 451 75,9%
Xưởng cơ khí 30 5,05%
Đội xe 24 4,1%
Xây dựng 21 3,53%
Chuyên đề tốt nghiệp
23
KCS 18 3,03%
Cơ cấu lao động của Công ty nhìn chung trong những năm gần đây
không có sự thay đổi lớn. Số công nhân lao động không có sự gia tăng, tuy
nhiên tỷ lệ lao động có trình độ cao đẳng và tại chức đại học ngày càng được
bổ sung chứng tỏ Công ty quan tâm chặt chẽ tới tình trạng chất lượng, tay nghề
người lao động vì khi người lao động có kỹ thuật sẽ đáp ứng được điều kiện cơ
giới hoá của Công ty tạo ra nhiều sản phẩm, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành.
3.2. Hình thức trả lương:
Công ty tấm lợp - VLXD Đông Anh áp dụng hai hình thức trả lương cho
người lao động đó là:
- Trả lương theo sản phẩm tập thể
- Trả lương theo thời gian
* Trả lương theo sản phẩm : áp dụng đối với công nhân trực tiếp sản
xuất làm ra sản phẩm được tính theo:
Tiền lương = Kết quả sản xuất x Đơn giá khoán sản phẩm
*Trả lương theo thời gian: áp dụng cho các chức danh quản lý công ty,
các lao động phục vụ chung (lao động giản đơn) như tạp vụ, bảo vệ, làm vệ
sinh công nghiệp
Với gián tiếp phòng ban: Trả lương theo mức hoàn thành chung của
doanh nghiệp.
Anh đã gặt hái được nhiều thành công. Đố chính là sự tăng trưởng giá trị tổng
sản lượng, sự tăng trưởng lợi nhuận, sự đóng góp vào ngân sách nhà nước, việc
nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên trong Công ty được thể hiện qua thu
nhập bình quân của người lao động. Các kết quả đó được thể hiện qua biểu sau.
Bảng 2: Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty qua một số năm
Đơn vị tính: 1000 đ
So sánh 03/02 So sánh 04/03
Chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004
CL
Tỷ lệ
(%)
CL
Tỷ lệ
(%)
Giá trị tổng sản
lượng 52.781.600
82.134.789
99.072.182
29.353.189
55.6
16.937.393
20.6
T