Chương 1
GIỚI THIỆU
1.1ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập, đổi mới và phát triển, nền kinh
tế Việt Nam có nhiều chuyển biến tích cực, đời sống kinh tế ngày một nâng cao.
Để đạt được những thành tựu đó, có sự đóng góp không nhỏ của ngành ngân hàng.
Ngành ngân hàng với vai trò là “người đi vay” và “người cho vay” đã có những
chính sách đổi mới tích cực phù hợp với tình hình thực tiễn, huy động tối đa các
nguồn tiền nhàn rỗi đưa vào lưu thông để phát triển sản xuất. Việc tạo lập nguồn
vốn không những giúp cho ngân hàng tổ chức được mọi hoạt động kinh doanh mà
còn góp phần quan trọng trong việc đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của mọi
doanh nghiệp nói riêng cũng như sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế nói chung.
Bên cạnh đó, với vai trò là nhà cung cấp vốn tín dụng, điều mà các ngân hàng quan
tâm nhất là khả năng bảo tồn vốn để tái đầu tư.
Cũng như các ngân hàng thương mại (NHTM) khác, Ngân hàng Công
thương Việt Nam (NHCTVN) kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ với chức năng chủ
yếu là huy động vốn để cho vay. Kinh doanh ngân hàng là hoạt động chứa đựng
nhiều rủi ro nhạy cảm cao, ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ hoạt động của nền
kinh tế. Trong đó, tín dụng là một hoạt động kinh doanh quan trọng, chiếm tỷ
trọng lớn trong tài sản có sinh lời của ngân hàng. Đồng thời, rủi ro tín dụng cũng
là rủi ro gây thiệt hại, ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động của ngân hàng. Do đó,
việc cho vay mang lại hiệu quả thiết thực cho cả khách hàng và ngân hàng là một
trong những mục tiêu hoạt động hàng đầu của hệ thống NHCTVN nói chung và
chi nhánh Ngân hàng Công thương Bạc Liêu (NHCTBL) nói riêng.
Chính vì vậy, sau thời gian học tập ở trường và nghiên cứu thực tế tại chi
nhánh NHCTBL em đã chọn đề tài cho Luận văn tốt nghiệp của mình là: “Rủi ro
tín dụng và một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại Ngân
hàng Công Thương Bạc Liêu” để tìm hiểu về các nguyên nhân phát sinh và các
biện pháp khắc phục những rủi ro trong hoạt động tín dụng - một hoạt động trọng
yếu của ngân hàng.
1
và 2007.
2
1.3.3Phạm vi về nội dung
Luận văn được kết cấu thành 6 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Giới thiệu. Nội dung của chương là phần giới thiệu mở đầu của
đề tài, bao gồm các nội dung cụ thể sau:
-Đặt vấn đề nghiên cứu;
-Mục tiêu nghiên cứu;
-Phạm vi nghiên cứu;
-Lược khảo tài liệu.
Chương 2: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu. Nội dung của
chương nghiên cứu về cơ sở lý luận và phương pháp tiến hành đề tài, bao gồm 2
phần: phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Thực trạng hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng tại chi nhánh
NHCTBL. Bao gồm những nội dung chính sau:
-Khái quát về NHCTVN;
-Một số tình hình cơ bản của NHCTBL;
-Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng tại NHCTBL;
Chương 4: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại
NHCTBL. Chương này đi sâu vào phân tích từng nhân tố phát sinh rủi ro được tìm
hiểu ở hai khía cạnh sau:
-Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng qua nợ quá hạn theo địa bàn;
-Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng theo nguyên nhân phát sinh.
Chương 5: Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng và nâng cao hiệu
quả hoạt động tín dụng tại chi nhánh NHCTBL. Bao gồm 5 giải pháp sau:
-Giải pháp về huy động vốn;
-Giải pháp về huy động vốn, bao gồm các giải pháp cho doanh số cho vay,
doanh số thu nợ và dư nợ;
-Giải pháp nhằm hạn chế nợ quá hạn.
Chương 6: Kết luận và kiến nghị. Là chương kết thúc đề tài, nội dung là
−Các văn bản hiện hành liên quan đến công tác tín dụng trong hệ thống
NHCTVN (04/2004). Nội dung tham khảo là các quy định về:
+ Cho vay tiêu dùng;
+ Cho vay sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đầu tư phát triển đối với cá
nhân, hộ gia đình;
4
+ Giới hạn tín dụng và thẩm quyền quyết định giới hạn tín dụng trong hệ
thống NHCT;
+ Thực hiện bảo đảm tiền vay;
+ Cho vay đối với các tổ chức kinh tế.
−Sổ tay tín dụng Ngân hàng Công Thương Bạc Liêu (2004). Nội dung tham
khảo:
+Chương 3: Chính sách tín dụng chung
+Chương 4: Hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng
+Chương 6: Quy trình cho vay và quản lý tín dụng
+Chương 10: Quản lý nợ có vấn đề
5
Chương 2
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1.1Tổng quan về Ngân hàng thương mại
2.1.1.1Khái quát về Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại (NHTM) ra đời và phát triển gắn liền với nền sản
xuất hàng hóa, nó kinh doanh một loại hàng hóa rất đặc biệt đó là “tiền tệ”. Thực
tế các NHTM kinh doanh “quyền sử dụng vốn tiền tệ”. Nghĩa là NHTM nhận tiền
gửi của công chúng, các tổ chức kinh tế, xã hội và sử dụng số tiền đó để cho vay,
làm phương tiện thanh toán với những điều kiện ràng buộc là phải hoàn trả lại vốn
gốc và lãi nhất định theo thời hạn đã thỏa thuận.
Theo pháp lệnh “Các tổ chức tín dụng” (1990) của Việt Nam thì NHTM
được định nghĩa như sau:
Là loại tiền gửi mà khi KH gửi tiền vào có sự thỏa thuận về thời hạn rút
vốn giữa ngân hàng và KH. Tuy nhiên, trên thực tế do yếu tố cạnh tranh, để thu
hút tiền gửi các ngân hàng thường cho phép KH được rút tiền ra trước thời hạn
nhưng không được hưởng lãi suất hoặc chỉ được hưởng một mức lãi suất thấp hơn.
Tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn mang tính ổn định, ngân hàng có thể sử
dụng loại tiền này một cách chủ động làm nguồn vốn kinh doanh. Vì vậy cần thu
hút nhiều KH gửi tiền, nhằm ổn định nguồn vốn kinh doanh.
Tiền gửi tiết kiệm
Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền mà KH gửi vào ngân hàng nhằm mục đích
tích lũy, hưởng lãi và thực hiện kế hoạch chi tiêu nào đó trong tương lai. Đây là
hình thức huy động truyền thống của ngân hàng. Tiền gửi tiết kiệm bao gồm các
loại sau: tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Ngoài các
hình thức tiết kiệm trên, ngân hàng còn có thể phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ
phiếu ngân hàng...để huy động vốn phù hợp với kế hoạch sử dụng vốn.
b.Các nghiệp vụ tín dụng
Nghiệp vụ tín dụng là một nghiệp vụ quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn
trong toàn bộ tài sản của ngân hàng. Khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu vốn kinh
doanh trong xã hội ngày càng nhiều thì vai trò của tín dụng ngày càng quan trọng.
NHTM đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế thông qua các nghiệp vụ tín dụng
sau:
Nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn
7
Tín dụng ngắn hạn là những khoản cho vay có thời hạn tối đa là 12 tháng.
Trong nền kinh tế thị trường, NHTM có thể cho KH vay ngắn hạn nhằm bổ sung
vốn lưu động tạm thời thiếu hụt của KH, hoặc cho vay để tiêu dùng.
Nghiệp vụ tín dụng trung và dài hạn
Nghiệp vụ tín dụng trung và dài hạn có thời hạn hoàn vốn dài (trung hạn
trên 1 năm đến 5 năm, dài hạn có thời gian trên 5 năm). NHTM cho vay vốn trung
và dài hạn thông qua hai hình thức cơ bản: cho vay đầu tư dự án và cho thuê tài
chính.
nợ càng lớn thì nó phản ánh nghiệp vụ tín dụng tại ngân hàng càng kém và ngược
lại. Nợ quá hạn được phân chia như sau:
−Nợ quá hạn có tài sản đảm bảo: Là khoản nợ khi cho vay người đi vay
phải thế chấp tài sản cho ngân hàng, theo pháp luật, ngân hàng có quyền phát mãi
tài sản để thu nợ. Do vậy, nợ quá hạn này tuy chưa thu được nhưng NHTM vẫn
có khả năng thu hồi.
−Nợ quá hạn không có tài sản đảm bảo: Là khoản nợ khi cho vay, ngân
hàng không yêu cầu người vay phải thế chấp tài sản. Loại nợ này, nếu người vay
vốn vẫn tồn tại, vẫn hoạt động kinh doanh, tình hình tài chính có khả năng phục
hồi thì cũng có khả năng thu hồi nợ.
−Nợ quá hạn là nợ khó đòi (hay còn gọi là nợ xấu): Loại nợ này xảy ra và
tồn đọng ở những người vay vốn có tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và
tình hình tài chính yếu kém, biểu hiện là sản xuất kinh doanh bị lỗ, mất khả năng
thanh toán hoàn toàn. Thời hạn nợ tồn đọng khá lâu, có thể kéo dài trên một năm,
2 – 3 năm hoặc lâu hơn nữa và rất khó giải quyết.
c.Vốn tự có
Là vốn chủ sở hữu của ngân hàng, gồm:
−Vốn điều lệ (vốn thực có).
−Các quỹ dự trữ: quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng, quỹ đầu tư …
−Các nguồn vốn khác: lợi nhuận giữ lại, khấu hao tài sản cố định ….
d.Vốn huy động
Là nguồn vốn chủ yếu chiếm tỷ trọng rất lớn trong các ngân hàng, gồm:
−Vốn tiền gửi từ các tổ chức kinh tế, vốn nhàn rỗi của dân cư …
−Vốn huy động qua các chứng từ có giá: kỳ phiếu, trái phiếu.
−Vốn vay từ Ngân hàng Trung Ương, các tổ chức tín dụng khác.
9
2.1.2.2Bản chất của tín dụng
−Chỉ thay đổi quyền sử dụng mà không thay đổi quyền sở hửu tín dụng.
−Có thời hạn tín dụng được xác định do thỏa thuận giữa người đi vay và
người cho vay.
−Tín dụng tạo điều kiện đẩy nhanh tốc độ thanh toán góp phần thúc đẩy lưu
thông hàng hóa bằng việc tạo ra tín tệ và bút tệ.
2.1.2.5Các hình thức tín dụng
Cho vay từng lần
Là phương thức cho vay mà mỗi lần vay vốn, KH và tổ chức tín dụng phải
thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
Cho vay theo hạn mức tín dụng
Theo phương thức này thì ngân hàng và KH sẽ xác định và thỏa thuận một
hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh
doanh.
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng
Đây là phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng nhưng ngân hàng sẽ
cam kết dành cho KH một hạn mức tín dụng đã định, không vì tình hình thiếu vốn
để từ chối cho vay. KH phải trả một mức phí cho việc duy trì hạn mức tín dụng dự
phòng.
Cho vay theo hạn mức thấu chi
Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thỏa thuận bằng văn bảng chấp thuận
cho KH chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của KH phù hợp với các quy
định của chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán
qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
Cho vay trả góp
Khi vay vốn thì ngân hàng và KH xác định và thỏa thuận số lãi vốn vay
phải trả cộng với vốn gốc được chia ra để trả theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho
vay.
Cho vay hợp vốn
Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc
phương án vay vốn của KH, trong đó có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn
xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác.
Cho vay theo dự án
Đây là phương thức cho vay trung và dài hạn, ngân hàng phải thẩm định dự
Rủi ro tín dụng là rủi ro do một nhóm KH không thực hiện được các nghĩa
vụ tài chính đối với ngân hàng hay nói cách khác rủi ro tín dụng xảy ra khi xuất
hiện những biến cố không lường trước được do nguyên nhân chủ quan hay khách
12
quan mà KH không trả được nợ cho ngân hàng một cách đầy đủ cả gốc và lãi khi
đến hạn, từ đó tác động đến hoạt động và có thể làm ngân hàng bị phá sản.
Trong quá trình kinh doanh, bên cạnh các rủi ro như: rủi ro lãi suất, rủi ro
thanh khoản, rủi ro vốn chủ sở hữu thì rủi ro chính mà ngân hàng phải đối mặt là
rủi ro trong hoạt động tín dụng. Điều này có nghĩa là một khi còn hoạt động ngân
hàng thì còn rủi ro trong hoạt động tín dụng, rủi ro tín dụng không chỉ xảy ra với
các khoản tín dụng bình thường mà còn xảy ra với các khoản ngoại bảng khác như
bảo lãnh L/C, bao thanh toán… Hầu hết các ngân hàng có kinh nghiệm đều thiết
lập một khoản tiền gọi là quỹ dự phòng rủi ro, để bù đắp khi có vấn đề rủi ro xảy
ra.
2.1.3.2Những nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng
a.Nguyên nhân khách quan
Từ tình hình kinh tế trong nước
Hoạt động cho vay của ngân hàng là một hoạt động rất nhạy cảm với
những biến động của nền kinh tế xã hội.
Trong giai đoạn kinh tế suy thoái thường xuất hiện những doanh nghiệp
thua lỗ và phá sản, từ đó có các khoản tiền vay ngân hàng không trả được. Điều
này làm cho nợ quá hạn của ngân hàng tăng lên nhanh chóng.
Trong giai đoạn nền kinh tế có lạm phát cao và ngày càng gia tăng cũng có
thể dẫn đến rủi ro tín dụng. Bởi vì trong giai đoạn này người gửi tiền có tâm lý lo
sợ rằng đồng tiền của mình bị mất giá khi gửi trong ngân hàng, cho nên họ muốn
rút tiền ra khỏi ngân hàng. Trong khi đó những người đi vay thì lại muốn gia tăng
nhu cầu vay vốn và muốn kéo dài thời hạn vay. Điều này có ảnh hưởng trực tiếp
đến nguồn vốn hoạt động của ngân hàng cũng như những khoản đầu tư của ngân
hàng không hiệu quả. Nguy cơ này có thể làm hoạt động cho vay của ngân hàng bị
phá sản.
Bản thân doanh nghiệp thiếu ý thức trong vấn đề sử dụng vốn vay, hoặc
thiếu ý thức trong vấn đề trả nợ, không lo lắng, không quan tâm đến nợ ngân hàng
mặc dù khả năng tài chính của doang nghiệp có.
Không thường xuyên kiểm tra tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh.
Chạy theo doanh thu, mở rộng kinh doanh quá mức kiểm soát…
Do bản thân ngân hàng
−Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng. Kiểm tra nội bộ có
điểm mạnh hơn thanh tra NHNN ở tính thời gian vì nó nhanh chóng, kịp thời
14
ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát của người kiểm tra viên, do việc
kiểm tra được thực hiện thường xuyên cùng với công việc kinh doanh. Nhưng
trong thời gian trước đây, công việc kiểm tra nội bộ của các ngân hàng hầu như
chỉ tồn tại trên hình thức. Kiểm tra nội bộ cần phải được xem như hệ thống
“thắng” của cỗ xe tín dụng. Cổ xe càng lao đi với vận tốc lớn thì hệ thống này
càng phải an toàn, hiệu quả thì mới tránh cho cỗ xe khỏi đi vào những ngã rẽ rủi
ro vốn luôn luôn tồn tại thường trực trên con đường đi tới.
−Chạy theo lợi nhuận, chấp nhận các khoản cho vay không lành mạnh.
−Vi phạm các nguyên tắc cho vay, cho vay vượt tỷ lệ an toàn, thiếu tài sản
thế chấp và cầm cố, cho vay khống…
−Khi quyết định cho vay, thiếu căn cứ khoa học, không phân tích tình hình
khả năng sử dụng vốn và hoàn trả nợ của doanh nghiệp, do vậy đã đưa vốn vào
những doanh nghiệp kém hiệu quả sẽ dẫn đến nợ quá hạn, nợ tồn đọng.
−Nguyên nhân từ phía đạo đức và trình độ chuyên môn của người CBTD.
Một số vụ án kinh tế lớn trong thời gian vừa qua có liên quan đến cán bộ NHTM
đều có sự tiếp tay của một số cán bộ ngân hàng cùng với KH làm giả hồ sơ vay,
hay nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố lên quá cao so với thực tế để rút tiền ngân
hàng. Đạo đức của cán bộ là một trong các yếu tố tối quan trọng để giải quyết
vấn đề hạn chế rủi ro tín dụng. Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng
thêm, nhưng một cán bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật
vô cùng nguy hiểm khi được bố trí trong công tác tín dụng.
−Những thay đổi bất ngờ không được dự kiến, giải thích về số dư tiền gửi
ngân hàng, vốn tự có của đơn vị giảm dần một cách đáng nghi ngờ.
−Bán hàng một cách vội vã bất cứ giá nào thậm chí dưới giá vốn.
−Tình hình sản xuất kinh doanh bị đình trệ, sản phảm bị giảm dần cả về số
lượng lẫn chất lượng, số công nhân viên, đội ngũ cán bộ kĩ thuật xin nghĩ dần
hoặc chuyển đi các đơn vị khác.
2.1.3.4Thiệt hại do rủi ro tín dụng gây ra
Đối với bản thân ngân hàng
Rủi ro tín dụng sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân
hàng như thiếu tiền chi trả cho KH, vì phần lớn nguồn vốn hoạt động của ngân
hàng là nguồn vốn huy động. Khi ngân hàng không thu được gốc và lãi trong cho
vay thì khả năng thanh toán của ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn, lâm vào tình
16
trạng thiếu hụt vốn, làm mất cân đối trong thanh toán, dẫn đến ngân hàng bị thua
lỗ và có nguy cơ phá sản.
Ngoài ra ngân hàng còn phải gánh chịu những thiệt hại về uy tín, làm mất
lòng tin của công chúng là những tổn thất còn lớn hơn rất nhiều so với những tổn
thất về mặt tài chính.
Đối với nền kinh tế xã hội
Hoạt động của ngân hàng có liên quan đến hoạt động của toàn bộ nền kinh
tế, đến tất cả các doanh nghiệp nhỏ, vừa, lớn và đến toàn bộ các tầng lớp dân cư.
Vì vậy rủi ro tín dụng xảy ra có thể làm phá sản một vài ngân hàng, khi đó nó có
khả năng phát sinh lây lan các ngân hàng khác và tạo cho dân chúng một tâm lý sợ
hãi. Khi đó dân chúng sẽ đưa nhau đến ngân hàng để rút tiền trước thời hạn. Điều
đó cũng có thể đưa đến phá sản đồng loạt các ngân hàng. Khi đó rủi ro tín dụng sẽ
tác động đến toàn bộ nền kinh tế.
2.1.4Các chỉ tiêu sử dụng trong phân tích hiệu quả hoạt động tín dụng của
Ngân hàng thương mại
−Doanh số cho vay: Là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản tín dụng mà
ngân hàng cho KH vay không nói đến việc món vay đó thu được hay chưa trong
thu nợ của Ngân hàng càng có hiệu quả, đồng thời thể hiện ý thức trả nợ của
người dân cao, đồng vốn cho vay được sử dụng đúng mục đích có hiệu quả.
−Lãi treo: là tổng số lãi chưa thu được do nợ quá hạn.
−Tỷ lệ lãi treo trên tổng doanh thu từ hoạt dộng tín dụng (%): phản ánh tỷ
lệ doanh thu từ lãi chưa hoặc không thu được từ hoạt động cho vay.
2.2PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1Phương pháp chọn vùng nghiên cứu
Chi nhánh NHCTBL nằm trong khu vực nội ô của thị xã Bạc Liêu, có phạm
vi cho vay trong toàn tỉnh. Ngân hàng có chức năng hoạt động khá phong phú trên
nhiều lĩnh vực khác nhau. Đối tượng tín dụng của Ngân hàng cũng tương đối đa
dạng với nhiều hình thức cho vay dàn trãi trên các lĩnh vực sản xuất khác nhau.
Tuy nhiên, do thời gian thực tập không nhiều nên việc tiếp cận đối tượng tín dụng
vẫn còn hạn chế nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tình hình hoạt động tín dụng
và rủi ro tín dụng theo địa bàn, thành phần kinh tế, thời hạn tín dụng và ngành
nghề kinh doanh tại NHCTBL.
2.2.2Phương pháp thu thập thông tin và số liệu
Thu thập số liệu thông qua hồ sơ lưu trữ của phòng kinh doanh và phòng kế
toán, kết hợp với phỏng vấn trực tiếp với KH về quy trình cho vay của ngân
18
hàng… Đồng thời tham khảo ý kiến của các cô chú, anh chị trong các phòng ban
tại Ngân hàng và kết hợp đi thực tế tại các địa bàn để tìm hiểu về phương pháp
thẩm định khi cho vay và thu hồi nợ quá hạn.
Thu thập số liệu thông qua các báo cáo Ngân hàng như: bảng cân đối kế
toán, bảng kết quả hoạt động kinh doanh, cơ cấu nguồn vốn của NHCTBL qua các
năm 2004 – 2005 – 2006.
2.2.3Phương pháp phân tích số liệu
2.2.3.1Phương pháp so sánh
a.Phương pháp so sánh số tuyệt đối
Số tuyệt đối là mức độ biểu hiện quy mô, giá trị của một chỉ tiêu tín dụng
nào đó trong thời hạn và địa điểm cụ thể. Nó có thể tính bằng số lượng đơn vị tiền
1
b
1
19
Kỳ gốc: Q
0
= a
0
b
0
Bước3: Lần lượt thay thế các nhân tố ở kỳ phân tích vào kỳ gốc theo trình
tự sắp xếp ở bước 2.
Thế lần 1: a
1
b
0
Thế lần 2: a
1
b
1
Bước 4: Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến đối tượng phân
tích bằng cách lấy kết quả thay thế lần sau so với kết quả thay thế lần trước. Tổng
đại số của các nhân tố được xác định bằng đối tượng phân tích là ∆Q.
−Xác định mức ảnh hưởng
+Mức ảnh hưởng của nhân tố a:
∆a = a
1
b
0
– a
vốn pháp định của ICB là 200 tỷ đồng.
Trụ sở chính: 108 Trần Hưng Đạo – Hoàn Kiếm – Hà Nội
Tên giao dịch: ICB (INDUSCRIAL CONARIAL BANK OF VIỆT NAM)
Ngân hàng Công thương Việt Nam là một trong bốn NHTM quốc doanh
lớn nhất trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam, có chức năng kinh doanh tiền tệ, tín
dụng và các nghiệp vụ liên quan đến hoạt động Ngân hàng. ICB có mạng lưới kinh
doanh rộng khắp, sản phẩm và dịch vụ Ngân hàng đa dạng và chất lượng cao, hệ
thống công nghệ Ngân hàng tiên tiến vào bậc nhất, có uy tín đối với Ngân hàng
trong nước và quốc tế, có quan hệ truyền thống với nhiều công ty lớn, các doanh
nghiệp vừa và nhỏ. Hoạt động của ICB chủ yếu trong các lĩnh vực công nghiệp,
thương mại, dịch vụ, giao thông vận tải, bưu điện và các hoạt động thanh toán
quốc tế nhằm góp phần vào sản xuất lưu thông và ổn định tiền tệ.
Có mạng lưới kinh doanh trải rộng toàn quốc với 2 Sở Giao dịch, 130 chi
nhánh và trên 700 điểm giao dịch.
Cùng với những tín hiệu khởi sắc của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ
đổi mới, hoạt động kinh doanh của NHCTVN đã có những bước phát triển khả
quan, đã thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu kế hoạch về tín dụng, huy động vốn, lợi
nhuận, trích lập dự phòng rủi ro.
Qua 20 năm xây dựng và trưởng thành, NHCTVN đã vượt qua nhiều khó
khăn, thử thách, đi tiên phong trong cơ chế thị trường, phục vụ và góp phần tích
cực thực hiện đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước; không ngừng
phấn đấu vươn lên, khẳng định được vị trí là một trong những NHTM hàng đầu ở
Việt Nam, có bước phát triên và tăng trưởng nhanh, đạt được nhiều thành tựu to
lớn trên mọi mặt hoạt động kinh doanh - dịch vụ ngân hàng; phát triển đồng đều cả
21
kinh doanh đối nội và kinh doanh đối ngoại, công nghệ ngân hàng tiên tiến, có uy
tín với KH trong nước và quốc tế.
Thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội, phát triển đất nước đến năm
2010, chủ trương tiếp tục đổi mới hoàn thiện hệ thống tài chính - ngân hàng và đề
án cơ cấu lại NHCTVN giai đoạn 2001 và 2010. Mục tiêu phát triển của
Cơ cấu tổ chức bộ máy NHCTBL được thiết kế gọn nhẹ, năng động và hiệu
quả với mức độ tập trung hoá cao, kiểm soát chặt chẽ các hoạt động khác nhau
trong toàn Ngân hàng, đáp ứng được nhu cầu xã hội nói chung và của Ngân hàng
nói riêng trong nền kinh tế thị trường ngày nay.
Sơ đồ 1: SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC CHI NHÁNH NHCT BẠC LIÊU
Chức năng các phòng ban:
Giám Đốc:
Là người lãnh đạo chung và quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động
của Ngân hàng.
23
NHCT Việt Nam
Giám đốc Chi nhánh Phòng Kiểm soát
Phòng
Kế toán
Tài chính
Phó Giám đốc
(Kinh doanh)
Phó Giám đốc
(Kế toán)
Phòng tiền
tệ, kho quỹ
Phòng Kinh
doanh đối ngoại
Phòng
Giao dịch
Phòng KH
Tổ
Tiếp
thị
Quỹ
Ngân hàng có hai phó giám đốc: một phụ trách về công tác kế toán và kho
quỹ, một phụ trách về công tác tín dụng và công tác bảo vệ.
−Có nhiệm vụ hỗ trợ cùng giám đốc trong các mặt nghiệp vụ.
−Giám sát tình hình hoạt động của các phòng trực thuộc, đôn đốc việc thực
hiện đúng quy chế đề ra.
Phòng Tổ Chức Hành Chánh:
−Làm tham mưu cho Giám đốc về các vấn đề: Tổ chức bộ máy nhân sự,
hoạt động, tiền lương, đào tạo, thi đua, khen thưởng, kỷ luật, …
−Trực tiếp thực hiện việc quản trị, quản lý tài sản, đảm bảo trang thiết bị,
dụng cụ làm việc.
−Đảm bảo an ninh trật tự, bảo vệ an toàn cơ quan, đảm bảo mỹ quan trụ sở
làm việc.
−Soạn thảo các văn bản về nội quy cơ quan, quy chế làm việc, an toàn lao
động, … quy định phân phối quỹ lương, thưởng, xây dựng chương trình, nội
dung thi đua nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động.
Phòng KH:
−Tham gia xây dựng chiến lược kinh doanh của Ngân hàng nhằm đảm bảo
đủ nguồn vốn và sử dụng vốn tín dụng hiệu quả.
−Trực tiếp nghiên cứu, tính toán, xét duyệt cụ thể trước khi đề xuất cho vay
lên Ban giám đốc.
24
−Báo cáo thống kê, xây dựng kế hoạch cho toàn chi nhánh và vạch ra kế
hoạch hoạt động tín dụng, tiếp cận vốn và thông báo vốn từ Trung ương.
−Kiểm tra, giám sát và thực hiện các nghiệp vụ liên quan trong suốt quá
trình sử dụng vốn vay của KH, đản bảo vốn cho vay ra phải được thu hồi đúng
hạn, đầy đủ cả gốc lẫn lãi.
Phòng Kinh Doanh Đối Ngoại:
−Thực hiện các khoản cho vay, mua bán và chuyển đổi ngoại tệ.
−Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến các hoạt động thanh toán quốc tế
như: Cho vay ngoại tệ thanh toán thư tín dụng (L/C), theo dõi các khoản tiền tệ