Báo cáo thực tập chuyên đề Khoa: Quản trị kinh doanh
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày 11/01/2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của
Tổ chức thương mại thế giới WTO, mở ra rất nhiều cơ hội nhưng cũng không
ít thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam. Sự cạnh tranh mạnh mẽ với các
sản phẩm, hàng hoá của nước ngoài trên chính thị trường trong nước ngày
càng trở nên khốc liệt. Để có thể tồn tại và đứng vững trên thị trường đòi hỏi
các doanh nghiệp phải nỗ lực hơn nữa trong hoạt động sản xuất kinh doanh
nói riêng và hoạt động tiêu thụ sản phẩm nói riêng.
Sau một thời gian thực tập tại công ty TNHH Thương mại VIC, dưới sự
hướng dẫn của TH.S Lê Thanh Ngọc, em xin phép được trình bày đề tài:
“Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm của
công ty TNHH Thương mại VIC”.
Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, báo cáo được chia làm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về hoạt động tiêu thụ sản phẩm
Chương II: Phân tích thực trạng hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty
NHHH thương mại VIC
Chương III: Phương hướng và mục tiêu hoạt động của Công ty TNHH
Thương mại VIC trong thời gian tới
Do trình độ có hạn nên báo cáo không tránh khỏi nhiều thiếu sót. Em
mong nhận được sự giúp đỡ của thầy cô và toàn thể công ty để báo cáo được
hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Phạm Thị Phượng Lớp: Thương mại 46B
Báo cáo thực tập chuyên đề Khoa: Quản trị kinh doanh
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ
SẢN PHẨM
I. Khái quát về hoạt động tiêu thụ sản phẩm
1. Khái niệm và các hình thức tiêu thụ sản phẩm
1.1. Khái niệm
Thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh hiện nay có nhiều hình thức
tiêu thụ sản phẩm khác nhau, phản ánh mối quan hệ giữa người mua và người
bán trong giao dịch mua bán, thanh toán, vận chuyển. Một số hình thức tiêu
thụ sản phẩm chủ yếu:
a, Căn cứ vào địa điểm giao hàng cho khách hàng có:
Phạm Thị Phượng Lớp: Thương mại 46B
Quản lý lực
lượng bán
Lập các kế hoạch
tiêu thụ sản phẩm
Phối hợp và tổ
chức thực hiện
các kế hoạch
Dịch vụ
Giá, doanh
số
Phân phối
và giao tiếp
Ngân quỹ
Thị trường
Sản phẩm
Thông tin
thị trường
Nghiên cứu
thị trường
Thị trường
Quản lý hệ thống
phân phối
Hàng
hoá
Hình thức tiêu thụ ảnh hưởng lớn đên tốc độ lưu thông hàng hoá. Vì
vậy, doanh nghiệp cần xem xét, lựa chọn hình thức tiêu thụ phù hợp, thuận
tiện cho cả người mua và người bán nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong quá
trình tiêu thụ sản phẩm.
Phạm Thị Phượng Lớp: Thương mại 46B
Báo cáo thực tập chuyên đề Khoa: Quản trị kinh doanh
2. Vai trò và đặc điểm của hoạt động tiêu thụ sản phẩm
2.1. Vai trò
Bán hàng được coi là hoạt động cơ bản, quan trọng trong kinh doanh,
có vai trò to lớn đối với xã hội và doanh nghiệp.
_ Đối với nền kinh tế quốc dân, tiêu thụ sản phẩm là nghiệp vụ kinh
doanh cơ bản, trực tiếp thực hiện chức năng lưu thông hàng hoá, phục vụ cho
sản xuất và đời sống của nhân dân, là khâu quan trọng nối liền sản xuất với
tiêu dùng, đảm bảo cân đối giữa cung và cầu đối với từng mặt hàng cụ thể,
góp phần ổn định giá cả thị trường.
_ Tiêu thụ sản phẩm là nghiệp vụ cơ bản thực hiện mục đích kinh
doanh của doanh nghiêp là lợi nhuận, vì vậy nó có vai trò quyết định và chi
phối các hoạt động nghiệp vụ khác của doanh nghiệp như: nghiên cứu thị
trường, tạo nguồn và mua hàng, dự trữ, dịch vụ…
_ Hoạt động tiêu thụ sản phẩm được thực hiện theo chiến lược và kế
hoạch kinh doanh đã vạch ra, hàng hoá của doanh nghiệp được khách hàng
chấp nhận, uy tín của doanh nghiệp được giữ vững và nâng cao trên thương
trường. Hoạt động tiêu thụ sản phẩm có quan hệ mật thiết với khách hàng, tạo
ra lòng tin và sự tái tạo nhu cầu của người tiêu dùng. Vì vậy, đó cũng là vũ
khí cạnh tranh mạnh mẽ của doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh.
_ Kết quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm phản ánh kết quả hoạt động kinh
doanh, phản ánh sự đúng đắn mục tiêu của chiến lược kinh doanh đồng thời
phản ánh sự nỗ lực của doanh nghiệp trên thị trường, thể hiện trình độ tổ chức,
năng lực điều hành, tỏ rõ thế và lực của doanh nghiệp trên thương trường.
2.2. Đặc điểm
phẩm thường bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
1. Nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu thị trường là việc làm cần thiết đầu tiên đối với mỗi doanh
nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Mục đích của nghiên cứu thị
Phạm Thị Phượng Lớp: Thương mại 46B
Báo cáo thực tập chuyên đề Khoa: Quản trị kinh doanh
trường là xác định khả năng tiêu thụ một loại hàng hoá nào đó trên một thị
trường nhất định, trong khoảng thời gian nhất định. Khi nghiên cứu thị
trường, doanh nghiệp phải trả lời được các câu hỏi: Doanh nghiệp nên hướng
vào thị trường nào? Tiềm năng thị trường? Làm thế nào để nâng cao doanh
số? Sản phẩm, dịch vụ như thế nào? Giá cả bao nhiêu? Mạng lưới tiêu thụ nên
được tổ chức như thế nào?
Nghiên cứu thị trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì đây là cơ sở để
xác định khối lượng bán, giá bán, mạng lưới và hiệu quả của công tác tiêu thụ
sản phẩm. Nghiên cứu thị trường còn giúp doanh nghiệp nhận biết được xu
hướng sự biến đổi nhu cầu của khách hàng; sự phản ứng của họ đối với sản
phẩm của doanh nghiệp; thấy được các biến động của thu nhập và giá cả, từ
đó có biện pháp điều chỉnh cho phù hợp
Dựa trên kết quả điều tra, nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp tiến
hành lựa chọn sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường về số lượng, chất
lượng, giá cả và thời gian; thực hiện đúng phương châm kinh doanh: bán cái
thị trường cần chứ không bán cái mình đang có.
2. Lập kế hoạch tiêu thụ
Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận là mục tiêu sống còn của doanh
nghiệp. Muốn có lợi nhuận, doanh nghiệp phải tiêu thụ được hàng hoá hay
sản phẩm của doanh nghiệp phải phù hợp với nhu cầu thị trường. Để tồn tại
và phát triển lâu dài mỗi doanh nghiệp cần xác định được chiến lược tiêu thụ
sản phẩm.
Chiến lược tiêu thụ sản phẩm là định hướng hoạt động có mục tiêu của
doanh nghiệp trong một thời gian dài và hệ thống các giải pháp nhằm thực
trình sản xuất trong khâu lưu thông (kho phân xưởng hoặc kho thành phẩm).
Các nghiệp vụ sản xuất ở các kho bao gồm: tiếp nhận, phân loại, đính nhãn
hiệu hàng hoá, bao gói, sắp xếp hàng hoá ở kho, bảo quản và ghép đồng bộ để
Phạm Thị Phượng Lớp: Thương mại 46B
Báo cáo thực tập chuyên đề Khoa: Quản trị kinh doanh
bán cho khách hàng. Đối với nghiệp vụ tiếp nhận, doanh nghiệp cần đảm bảo
tiếp nhận đủ về số lượng, đúng về chất lượng và quy cách chủng loại hàng
hoá; nhanh chóng, kịp thời, an toàn sản phẩm và tiết kiệm chi phí lưu thông.
4. Lựa chọn các hình thức tiêu thụ sản phẩm
Như đã trình bày ở trên, có nhiều hình thức tiêu thụ sản phẩm, theo đó
các sản phẩm được bán và vận động từ các doanh nghiệp sản xuất đến tận tay
các hộ tiêu dùng cuối cùng. Các doanh nghiệp thường căn cứ và mối quan hệ
giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng để lựa chọn kênh tiêu thụ trực tiếp,
kênh tiêu thụ gián tiếp hoặc hỗn hợp cả hai kênh trên.
4.1. Kênh tiêu thụ trực tiếp: là hình thức doanh nghiệp xuất bán thẳng
sản phẩm của mình tới người tiêu dùng cuối cùng mà không qua bất kỳ khâu
trung gian nào.
Ưu điểm của hình thức tiêu thụ này là:
_ Đẩy nhanh tốc độ chu chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu
dùng, giảm chi phí lưu thông.
_ Gắn sản xuất với tiêu dùng do các doanh nghiệp có điều kiện tiếp xúc
trực tiếp với người tiêu dùng, bảo đảm kịp thời giải quyết mâu thuẫn giữa sản
xuất và tiêu dùng.
_ Bảo đảm việc thâm nhập thị trường và phát triển thị trường một cách
tốt nhất.
Tuy nhiên, hình thức này cũng có những nhược điểm là: doanh nghiệp
phải tiếp xúc với nhiều bạn hàng, phải dành nhiều thời gian, công sức vào quá
trình tiêu thụ, nhiều khi làm tốc độ chu chuyển của vốn lưu động chậm hơn.
4.2. Kênh tiêu thụ gián tiếp: là hình thức mà doanh nghiệp xuất bán sản
phẩm của mình cho người tiêu dùng cuối cùng phải qua khâu trung gian. Số
Các hoạt động xúc tiến trong kinh doanh bao gồm xúc tiến bán hàng và xúc
tiến mua hàng.
Hoạt động xúc tiến bán hàng là toàn bộ các hoạt động nhằm tìm kiếm và
thúc đẩy cơ hội bán hàng trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Xúc tiến bán
hàng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc chiếm lĩnh thị trường và nâng cao
sức cạnh tranh của hàng hoá trên thương trường, qua đó quá trình tiêu thụ sản
phẩm của doanh nghiệp được đẩy mạnh về số lượng và thời gian.
Yểm trợ là các hoạt động nhằm hỗ trợ, thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi
để thực hiện tốt hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Xúc tiến và
yểm trợ là những hoạt động rất quan trọng trong việc hỗ trợ và thúc đẩy công
tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có điều kiện mở
rộng các mối quan hệ với khách hàng, củng cố và phát triển thị trường.
Những nội dung chủ yếu của hoạt động xúc tiến, yểm trợ bán hàng phải kể
đến là: quảng cáo, khuyến mại, trưng bày, tham gia hội chợ triển lãm…
6. Tổ chức hoạt động bán hàng
Trong việc quyết định tổ chức bán hàng thì vấn đề trước hết là cần xem
xét là doanh nghiệp sẽ bán trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng, cho gia
công tiếp tục (bán trực tiếp) hay thông qua các doanh nghiệp thương mại (bán
gián tiếp). Nếu doanh nghiệp tự đảm nhận việc bán hàng thì sẽ thêm phí tổn
về kho tàng và về việc bán hàng (nhân viên bán hàng). Trường hợp bán sản
phẩm gián tiếp thì doanh nghiệp thương mại phải được giảm giá.
Bán hàng là một trong những khâu cuối cùng của hoạt động kinh
doanh. Để bán được hàng, người bán phải đặc biệt quan tâm đến quá trình tác
động vào tâm lý của khách hàng vì những bước tiến triển về tinh thần, tâm lý,
tính chủ quan và khách quan diễn ra rất nhanh chóng trong khách hàng. Ngoài
ra, doanh nghiệp phải đáp ứng các yêu cầu của khách hàng như: chất lượng,
mẫu mã, giá cả, dịch vụ… và phải có hình thức bán hàng phù hợp. Thực tế
Phạm Thị Phượng Lớp: Thương mại 46B
Báo cáo thực tập chuyên đề Khoa: Quản trị kinh doanh
hoạt động bán hàng có rất nhiều hình thức khác nhau như: bán hàng trực tiếp,
nghiệp cần tìm hiểu, đánh giá các yếu tố này ở nhiều mức độ (từ khái quát
đến cụ thể) để có thể đưa ra một cách chính xác sản phẩm và cách thức phục
vụ khách hàng, bao gồm: dân số và xu hướng vận động của dân số, quy mô
dân số, quy mô hộ gia đình, văn hoá – tôn giáo, thu nhập và phân bố thu
nhập…
_ Nhóm yếu tố kinh tế: Đây là nhóm yếu tố có phạm vi rộng và ảnh
hưởng to lớn đến kết quả, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Để thực
hiện tốt công tác tiêu thụ sản phẩm doanh nghiệp cẩn tập trung nghiên cứu và
làm tốt công tác dự báo các yếu tố trên thị trường như: cung, cầu, giá cả, cạnh
tranh…
_ Nhóm yếu tố chính trị – pháp luật: Hiện nay nhà nước sử dụng hệ
thống công cụ vĩ mô để diều tiết nền kinh tế thị trường. Vì vậy, để thành công
trong kinh doanh, các doanh nghiệp phải nghiên cứu, phân tích, dự báo về
chính trị, pháp luật cùng với xu hướng vận động của nó bao gồm: sự ổn định
về chính trị, đường lối ngoại giao, chính sách ngoại thương, các luật về thuế,
về bảo vệ môi trường; chiến lược, quy hoạch phát triển của nhà nước, của địa
phương; các quy định về cạnh tranh, chống độc quyền; các quy định về bảo
vệ quyền lợi của các công ty, của người tiêu dùng…
_ Nhóm yếu tố khoa học – công nghệ: Khoa học – công nghệ là yếu tố
phát triển nhanh chóng và ảnh hưởng ngày càng lớn đến hoạt động tiêu thụ
sản phẩm. Việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ tiên tiến vào thực tiễn sản
xuất kinh doanh có tác động mạnh mẽ đến hai yếu tố quan trọng tạo nên khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp là: chất lượng và giá bán sản phẩm, đồng
thời làm rút ngắn chu kỳ sản phẩm và gia tăng các sản phẩm thay thế. Do đó,
các doanh nghiệp phải chú trọng ứng dụng khoa học – công nghệ vào sản xuất
Phạm Thị Phượng Lớp: Thương mại 46B
Báo cáo thực tập chuyên đề Khoa: Quản trị kinh doanh
kinh doanh nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh và tạo điều kiện cho việc
tiêu thụ ngày càng tốt hơn.
Ngoài các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô ở trên, còn có các yếu tố
doanh nghiệp cần phải nắm bắt được giá cả của sản phẩm thay thế cũng như
xu hướng biến động của nó trong tương lai, từ đó quyết định cho sản phẩm
hàng hoá của mình một mức giá cạnh tranh đủ để duy trì và tiếp tục mở rộng
thị trường.
2. Các yếu tố thuộc môi trường bên trong doanh nghiệp: Đây là những
yếu tố chủ quan mà doanh nghiệp có thể kiểm soát được, bao gồm các yếu tố:
sản phẩm và lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp, tiềm lực về lao động, hệ
thống thông tin, vốn, nghiên cứu và phát triển, uy tín và nề nếp văn hoá của
doanh nghiệp …
_ Sản phẩm và lĩnh vực kinh doanh: Ngành nghề kinh doanh và đặc
tính sản phẩm của doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến công tác tiêu thụ
sản phẩm. Đặc tính của sản phẩm quyết định phương thức sản xuất, bảo quản,
vận chuyển, các thức tổ chức kênh phân phối,… từ đó quyết định đến tốc độ
và khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, sản phẩm của
doanh nghiệp phải đáp ứng được một cách tốt nhất các nhu cầu của khách
hàng về mọi mặt: số lượng, chất lượng, mẫu mã, giá cả phải chăng, phù hợp
xu thế tiêu dùng tiên tiến, hiện đại… Hiện nay, chất lượng sản phẩm luôn
được đặt lên hàng đầu và là công cụ cạnh tranh đắc lực, vì vậy để tăng cường
hoạt động tiêu thụ, doanh nghiệp phải thường xuyên cải tiến và nâng cao chất
lượng sản phẩm của mình. Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải xây dựng một
chính sách giá phù hợp, đây cũng là vấn đề quan trọng giúp nâng cao khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
_ Tiềm lực về lao động của doanh nghiệp: Gồm các yếu tố ảnh hưởng
đến công tác tiêu thụ sản phẩm như: cơ cấu tổ chức bộ máy lãnh đạo, trình độ
Phạm Thị Phượng Lớp: Thương mại 46B
Báo cáo thực tập chuyên đề Khoa: Quản trị kinh doanh
khả năng lãnh đạo, trình độ tay nghề công nhân trực tiếp sản xuất, trình độ
chuyên môn của đội ngũ cán bộ, tiềm lực tài chính, khả năng huy động vốn…
_ Hệ thống thông tin: Doanh nghiệp phải xây dựng hệ thống thu thập
thông tin về các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô, về khách hàng, về đối thủ
nghiệp, được tính theo mặt hàng, theo khu vực thị trường, theo khách hàng
hoặc theo thời gian… Chỉ tiêu này dùng thước đo hiện vật như: cái, chiếc, tấn,
kg, bao, gói, m, m
3
…
1.2. Tổng doanh thu tiêu thụ: là phần còn lại của doanh số bán hàng
sau khi đã trừ đi các khoản giảm giá hàng bán, chiết khấu, hàng bán bị trả lại,
hao hụt hàng hoá mà không truy cứu được trách nhiệm cho ai và thuế VAT
tính theo phương pháp trực tiếp.
Doanh số bán hàng được tính theo công thức sau:
DS = Σ Qi × Pi
Trong đó:
DS: Doanh số bán hàng trong kỳ
Qi: Khối lượng sản phẩm i được tiêu thụ trong kỳ
Pi: Đơn giá sản phẩm i được tiêu thụ trong kỳ
2. Các chỉ tiêu đánh giá chi phí hoạt động tiêu thụ sản phẩm: Chi
phí bán hàng gồm các khoản mục: chi tiền lương, chi khấu hao, chi lãi vay
ngân hàng. Chi phí mua hàng, chi phí bảo hành hàng hoá, chi phí cố định, chi
phí biến đổi. Chi bảo quản, dự trữ hàng hoá, chi phí hàng tồn kho, hàng mất,
không thu hồi. Vốn lưu động bình quân, số vòng quay của vốn lưu động, số
ngày của một vòng quay…
3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm
3.1. Lợi nhuận
Phạm Thị Phượng Lớp: Thương mại 46B
Báo cáo thực tập chuyên đề Khoa: Quản trị kinh doanh
Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp tuyệt đối phản ánh kết quả hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Lợi nhuận cao chứng tỏ hoạt động tiêu thụ sản
phẩm có hiệu quả cao. Lợi nhuận là nguồn gốc của tái sản xuất mở rộng kinh
doanh và là đòn bẩy kinh tế quan trọng, khuyến khích người lao động nâng
cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Lợi nhuận cơ bản được xác định như sau:
Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh
nghiệp trong kỳ: một đồng vốn kinh doanh mang lại cho doanh nghiệp bao
nhiêu đồng lợi nhuận
3.4. Mức doanh lợi trên chi phí kinh doanh
P
3
=
P
CP
× 100%
Trong đó:
Phạm Thị Phượng Lớp: Thương mại 46B
Báo cáo thực tập chuyên đề Khoa: Quản trị kinh doanh
P
3
: Mức sinh lời của chi phí kinh doanh
CP: Tổng chi phí kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ
Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả sử dụng chi phí kinh doanh của doanh
nghiệp trong kỳ: một đồng chi phí kinh doanh mang lại bao nhiêu đồng lợi
nhuận cho doanh nghiệp.
4. Một số chỉ tiêu định tính khác
Ngoài các chỉ tiêu định lượng, doanh nghiệp cũng cần quan tâm đến
các chỉ tiêu định tính khác như:
_ Mức độ hài lòng của khách hàng về sản phẩm và dịch vụ, các ý kiến
phản hồi của khách hàng…
_ Khả năng tiêu thụ và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp…
_ Uy tín, hình ảnh của doanh nghiệp trên thương trường, độ nổi tiếng
của nhãn hiệu, thương hiệu của doanh nghiêp…
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ
_ Nguyên liệu: Mua lại của các đơn vị nhập khẩu, giá không ổn định
_ Sản lượng tiêu thụ: 300 – 500 tấn/tháng (4000 – 6000 tấn/năm)
_ Sản phẩm: Có 6 loại sản phẩm đậm đặc và 2 sản phẩm hỗn hợp cho
lợn và gà
_ Thị trường tiêu thụ chính: Hải Phòng và các tỉnh đồng bằng sông
Hồng.
Thành tựu:
+ Ổn định chất lượng sản phẩm.
+ Quảng bá hình ảnh thương hiệu Con Heo Vàng.
+ Xây dựng các kênh phân phối thông qua đại lý cấp 1 và bán hàng trực
tiếp tại Hải Phòng và các tỉnh xung quanh.
Khó khăn:
Phạm Thị Phượng Lớp: Thương mại 46B
Báo cáo thực tập chuyên đề Khoa: Quản trị kinh doanh
+ Mặt bằng nhà xưởng chật hẹp, xuống cấp.
+ Môi trường ô nhiễm do khói bụi.
+ Sản phẩm mới, chưa có uy tín trên thị trường.
2. Giai đoạn 2 (Phát triển) từ 2003 – 2004
_ Công ty được Thành phố Hải Phòng cho thuê 12.500 m
2
đất tại cụm
công nghiệp Vĩnh Niệm. Công ty đã đầu tư 2 dây chuyền sản xuất thức ăn gia
súc, công suất 90.000 tấn/năm và chính thức sản xuất từ tháng 10/2002.
_ Tuyển dụng thêm lao động, tập trung phát triển đội ngũ nhân viên
tiếp thị, bán hàng, cán bộ kỹ thuật.
_ Nhập khẩu trực tiếp các lô nguyên liệu lớn với giá ưu đãi và ổn định.
_ Tăng cơ cấu sản phẩm lên 26 loại gồm các sản phẩm đậm đặc và hỗn
hợp dùng cho các giai đoạn phát triển của lợn, gia cầm, đại gia súc.
_ Sản xuất và đưa ra thị trường sản phẩm mới mang thương hiệu Ông
Tiên, gồm 6 loại sản phẩm, với công thức chế biến mới, sử dụng kháng sinh
– Cạnh tranh bằng quảng cáo.
– Sản xuất hàng nhái, hàng giả các sản phẩm uy tín.
3. Giai đoạn 3 (Tăng trưởng) từ năm 2005 đến nay
_ Mở rộng thị trường đến tất cả các tỉnh trong cả nước.
_ Sản xuất sản phẩm mới là thức ăn hỗn hợp viên cho cá tra và cá basa.
_ Công ty đầu tư thêm các nhà máy mới để đáp ứng nhu cầu thị trường
tại chỗ
+ Nhà máy Con Heo Vàng Quy Nhơn, công suất 60.000 tấn/năm,
cung cấp hàng cho các tỉnh từ Đà Nẵng trở vào Tây Nguyên.
+ Nhà máy Con Heo Vàng Đồng Tháp, công suất 120.000 tấn/năm,
cung cấp thức ăn heo và cá tra, cá basa cho các tỉnh miền Tây Nam Bộ.
_ Xây dựng chi nhánh là các trung tâm phân phối sản phẩm khu vực:
Phạm Thị Phượng Lớp: Thương mại 46B
Báo cáo thực tập chuyên đề Khoa: Quản trị kinh doanh
+ Chi nhánh Hải Phòng, gồm các tỉnh: Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái
Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh.
+ Chi nhánh Hà Nội, gồm các tỉnh: Hà Nội, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Phú
Thọ, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái,
Lào Cai, Lai Châu.
+ Chi nhánh Nam Định, gồm các tỉnh: Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình,
Thanh Hoá, Hoà Bình, Điện Biên, Lai Châu.
_ Duy trì phương thức bán hàng theo 2 kênh (cấp 1 và bán lẻ), chú ý
tăng cường mở rộng kênh bán lẻ.
Thành tựu:
_ Sản lượng thức ăn đậm đặc cho lợn và gia cầm đạt 7.000 tấn/tháng.
_ Sản lượng thức ăn cho cá đạt 2.500 tấn/tháng.
_ Thị phần thức ăn đậm đặc bình quân đạt 25 - 35% năm 2006.
Với những nỗ lực phấn đấu của mình, công ty đã được thưởng nhiều
bằng khen của UBND thành phố Hải Phòng, Bộ Thương mại, Bộ Khoa học
công nghệ, được tổ chức TUVCERT, Cộng hoà Liên bang Đức trao chứng
Phòng KT
Phòng KCS
Phòng HCNS
Xưởng SX
Phòng bảo vệ
Các chi nhánh
PHÓ
GIÁM
ĐỐC
GIÁM
ĐỐC
Ghi chú:
TC-KT: Tài chính-kế toán
KT : Kỹ thuật
KCS : Kiểm tra chất lượng
sản phẩm
HCNS : Hành chính nhân sự
Xưởng SX: Xưởng sản xuất
Báo cáo thực tập chuyên đề Khoa: Quản trị kinh doanh
3.2. Chức năng của các phòng ban
3.2.1. Tổng giám đốc và phó tổng giám đốc
Theo điều lệ thành lập công ty quy định Tổng giám đốc công ty TNHH
Thương mại VIC tổng giám đốc là đại diện pháp nhân của công ty, đại diện
cho toàn thể cán bộ công nhân viên, thay mặt công ty quan hệ pháp lý với các
đơn vị tổ chức bên ngoài; là người tổ chức, điều hành toàn bộ hoạt động kinh
doanh trong công ty, chịu trách nhiệm về toàn bộ kết quả kinh doanh và làm
nghĩa vụ với Nhà nước theo đúng luật định.
Giúp việc cho giám đốc là Phó tổng giám đốc. Phó tổng giám đốc là
người tham mưu trợ giúp cho tổng giám đốc trong mọi hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty, tư vấn cho tổng giám đốc về các mặt: kinh doanh,