Thiết kế và sử dụng trò chơi học tập trong hoạt động khám phá môi trường xung quanh nhằm rèn luyện kĩ năng so sánh cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi - Pdf 37

Lêi c¶m ¬n !
Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn
PGS.TS Hoàng Thị Phương-Cô đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ
em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong
khoa Giáo dục Mầm non, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã
giúp đỡ, động viên, khuyến khích và tạo mọi điều kiện cho em
học tập, nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể giáo
viên, các cháu mẫu giáo trường mầm non Ánh Sao-Cầu
Giấy;trường mầm non Hà Nội-Thăng Long thành phố Hà Nội
đã hợp tác, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình khảo sát và thực
nghiệm đề tài.
Tôi cảm ơn các bạn đồng nghiệp, bạn học đã chia sẻ
kinh nghiệm nghiên cứu khoa học, hỗ trợ tôi tìm nguồn tài
liệu liên quan đến đề tài.
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Tác giả
Bùi Thị Hồng Điệp


DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
1.KN

:Kĩ năng

2:KNSS

: Kĩ năng so sánh

3.ĐC


11.MN

: Mầm non


MỤC LỤC
MỤC LỤC.........................................................................................................3
DANH MỤC HÌNH..........................................................................................4
Biểu đồ 2.1.Mức độ phát triển KNSS của trẻ MG 5-6 tuổi (tính theo%)........53
Biểu đồ 3.1. Mức độ PTKNSS của trẻ 5-6 tuổi trường MN Ánh Sao, MN Hà
Nội-ThăngLong trước TN (tính theo%)..........................................................88
Biểu đồ 3.2. Mức độ PTKNSS của trẻ 5-6 tuổi trường MN Ánh Sao, MN Hà
Nội-Thăng Long trước TN (tính theo BT khảo sát)........................................90
Biểu đồ 3.3. Mức độ PTKNSS của trẻ 5-6 tuổi trường MN Ánh Sao, MN Hà
Nội-Thăng Long lớp TN và ĐC sau TN.(tính theo %)...................................92
Biểu đồ 3.4. Mức độ PTKNSS của trẻ 5-6 tuổi trường...................................94
MN Ánh Sao, MN Hà Nội-Thăng Long lớp TN và ĐC sau TN.....................94
(tính theo BT đánh giá)...................................................................................94
Biểu đồ 3.5. Mức độ PTKNSS của trẻ lớp ĐC trước và sau...........................96
TN(tính theo %)..............................................................................................96
Biểu đồ 3.6. Mức độ PTKNSS của trẻ lớp ĐC trước và sau...........................97
TN(tính theo BT đánh giá)..............................................................................97
Biểu đồ 3.7. Mức độ PTKNSS của trẻ lớp TN trước và sau TN.....................99
(tính theo %)....................................................................................................99
Biểu đồ 3.8. Mức độ PTKNSS của trẻ lớp TN trước và sau TN...................100
(tính theo BT đánh giá).................................................................................101
4.Dưới tác động của hệ thống TCHT đã thiết kế với sự tổ chức và hướng dẫn đúng đắn của giáo
viên, sự hưởng ứng, tích cực tham gia hoạt động của trẻ thì KNSS của trẻ có sự phát triển rõ
nét. Kết quả thực nhiệm đã khẳng định kệ thống TCHT đã thiết kế trong hoạt động khám phá

Bảng 2.1.Mức độ phát triển KNSS của trẻ MG 5-6 tuổi (tính theo %)...........52
Bảng 2.1.Hệ thống TCHT nhằm rèn luyện KNSS cho trẻ mẫu giáo cho chủ đề
“Thực vật”.......................................................................................................68
Bảng 3.1. Mức độ phát triển KNSS của trẻ 5-6 tuổi trường MN Ánh Sao, MN
Hà Nội-Thăng Long trước TN (tính theo%)...................................................88
Bảng 3.2. Mức độ PTKNSS của trẻ 5-6 tuổi trường MN Ánh Sao, trường MN
Hà Nội-Thăng Long trước TN (tính theo BT khảo sát)..................................90
Bảng 3.3. Mức độ PTKNSS của trẻ 5-6 tuổi trường MN Ánh Sao, MN Hà
Nội-Thăng Long lớp TN và ĐC sau TN.(tính theo %)...................................92
Bảng 3.4. Mức độ PTKNSS của trẻ 5-6 tuổi trường MN Ánh Sao, MN Hà
Nội-Thăng Long lớp TN và ĐC sau TN.(tính theo BT đánh giá)...................94
Bảng 3.5. Mức độ PTKNSS của trẻ lớp ĐC trước và sau TN (tính theo %).. 95
Bảng 3.6. Mức độ PTKNSS của trẻ lớp ĐC trước và sau TN (tính theo BT
đánh giá)..........................................................................................................96
Bảng 3.7. Mức độ PTKNSS của trẻ lớp TN trước và sau TN(tính theo %)....99
Bảng 3.8. Mức độ PTKNSS của trẻ lớp TN trước và sau TN (tính theo BT
đánh giá)........................................................................................................100


MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài.
Trong những năm gần đây, giáo dục Việt Nam có sự đổi mới mạnh mẽ
cho phù hợp với xu thế chung của thế giới. Giáo dục đề cao phát triển nhân
cách con người mới với những phẩm chất của con người trong thời đại mới
mạnh về thể chất, khỏe về tinh thần, năng động, sáng tạo, có khả năng thích
ứng cao với những thay đổi nhanh chóng của xã hội. Giáo dục mầm non là
bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân nên cũng không nằm ngoài
sự chuyển biến đó. Ngành học đã đặt ra mục tiêu không cung cấp kiến thức cụ
thể mà là cung cấp cho trẻ năng lực nhận thức chung, giúp cho trẻ thông
minh, nhanh nhẹn, ham hiểu biết, thích tìm tòi khám phá và có một số kĩ năng

học khác. Giáo dục phải đảm bảo nhiệm vụ giáo dục nhưng cũng cần đề cao
yếu tố “chơi mà học, học mà chơi”. Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để trẻ
thực hiện được nhiệm vụ nhận thức theo mục tiêu giáo dục đề ra nhưng trẻ
cảm thấy nhẹ nhàng, hứng thứ, tích cực hoạt động. Để cho năng lực nhận thức
nói chung và kĩ năng so sánh của trẻ được phát triển một cách tốt nhất, tạo
tiền đề cho trẻ có được những phẩm chất trí tuệ cần thiết để bước vào trường
phổ thông một cách dễ dàng và thuận lợi. Trò chơi học tập với những đặc
trưng riêng của mình có thể giải quyết được vấn đề này, giúp trẻ được vui
chơi nhưng vẫn góp phần phát triển trí tuệ cho trẻ nói riêng và phát triển toàn
diện nhân cách trẻ nói chung.
Vì những lí do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài: “Thiết kế và sử dụng trò chơi
học tập trong hoạt động khám phá môi trường xung quanh nhằm rèn luyện kĩ
năng so sánh cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi” với mục tiêu đóng góp vào cơ sở lí luận
và thực tiễn cho quá trình hình thành và phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ, nhằm
năng cao khả năng nhận thức cho trẻ trong quá trình học tập sau này.
2.Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu cách thiết kế và sử dụng trò chơi học tập trong hoạt động
khám phá môi trường xung quanh nhằm rèn luyện kĩ năng so sánh cho trẻ

2


mẫu giáo 5-6 tuổi góp phần phát triển kĩ năng nhận thức nói riêng, phát triển
toàn diện nhân cách trẻ nói chung.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3.1.Khách thể nghiên cứu.
Quá trình phát triển kĩ năng so sánh của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong
hoạt động khám phá môi trường xung quanh.
3.2.Đối tượng nghiên cứu.
Thiết kế và sử dụng trò chơi học tập trong hoạt động khám phá môi

7.2.Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
7.2.1.Phương pháp điều tra.
Sử dụng phiếu điều tra 52 giáo viên trên địa bàn nghiên cứu để đánh
giá thực trạng việc thiết kế và sử dụng TCHT để rèn luyện kĩ năng so sánh
cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động khám phá MTXQ.
7.2.2.Phương pháp quan sát sư phạm.
Quan sát nhằm tìm hiểu việc tổ chức trò chơi học tập của giáo viên và
việc tham gia trò chơi học tập trong hoạt động khám phá MTXQ.
Dự giờ, sử dụng phiếu quan sát và sổ ghi chép cá nhân để ghi chép lại
những biểu hiện của trẻ khi tham gia TCHT, kĩ năng so sánh của trẻ, cách sử
dụng trò chơi của giáo viên và thõi dõi kết quả thực nghiệm.
7.2.3.Phương pháp đàm thoại.
Chúng tôi sử dụng phương pháp đàm thoại với giáo viên về thực trạng
KNSS của trẻ, cách tổ chức rèn luyện KNSS cho trẻ mà giáo viên đã và đang
làm. Chúng tôi đàm thoại với trẻ về cách trẻ thực hiện thao tác so sánh nhằm
làm rõ thực trạng và kết quả thực nghiệm của đề tài.
7.2.4.Phương pháp nghiên cứu sản phẩm.
Nghiên cứu sổ kế hoạch, sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên về hoạt
động khám phá môi trường xung quanh. Nghiên cứu trò chơi giáo viên đã
thiết kế để tìm hiểu thực trạng việc sử dụng TCHT nhằm rèn luyện kĩ năng so
sánh cho trẻ, theo dõi và đánh giá kết quả thực nghiệm.

4


7.2.5.Phương pháp thực nghiệm.
Phương pháp này được sử dụng để kiểm chứng tính đúng đắn của giả
thuyết khoa học của đề tài. Sử dụng các bài tập đánh giá để đánh giá sự tiến
bộ của trẻ sau thực nghiệm so với trước thực nghiệm.
7.2.6.Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.

1.1.Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề.
1.1.1.Những nghiên cứu ở nước ngoài.
Thao tác so sánh là một trong những vấn đề được các nhà khoa học
quan tâm nghiên cứu. Cũng như mọi vấn đề khác, thao tác so sánh được nhìn
nhận dưới nhiều góc độ khác nhau với nhiều quan điểm khác nhau. Có một số
hướng nghiên cứu chính sau đây:
Hướng nghiên cứu thứ nhất: Nghiên cứu vai trò của KNSS đối với sự
phát triển nhận thức.
Đại diện cho xu hướng này là các nhà tâm lí học X.L.Rubinstein,
K.Đ.Usinski, Grant Evans…Họ đều cho rằng hành động so sánh chính là sự
nhận thức thế giới xung quanh. Nhà tâm lí học người Mỹ Saul Sternberg đã
khẳng định quá trình so sánh là quá trình nhận thức cơ bản đầu tiên, nghĩa là
khi con người tiến hành so sánh chính là đang thực hiện quá trình nhận thức
thế giới xung quanh. Khi nhận biết một đối tượng, một khái niệm, một sự vật
nào đó trong môi trường xung quanh thì chủ thể nhận thức phải nắm bắt được
đối tượng đó có đặc điểm gì, khác biệt gì so với sự vật, hiện tượng khác. Như
vậy, có nghĩa là chủ thể nhận thức phải tiến hành hoạt động so sánh.
Đồng tình với quan điểm này còn có nhà giáo dục học K.Đ.Usinski, ông
cho rằng: “so sánh là cơ sở của mọi sự hiểu biết và tư duy” (37). Hay Grant
Evans coi “so sánh là một cách nhận thức”. Những quan điểm này đều cho rằng
xuất phát của sự nhận thức chính là sự so sánh, nếu không so sánh thì không
nhận biết được thế giới xung quanh. Bên cạnh đó, A.V.Daparogiet chỉ ra rằng:
“Trong khi so sánh một lần nữa những phẩm chất được tri giác của đối tượng

6


với những yếu tố tương ứng của các hệ thống ấy, trẻ nhận thức đúng hơn, sâu
sắc hơn các thuộc tính khác nhau của những đối tượng cụ thể…” (30). Như
vậy, có nghĩa là nhờ thao tác so sánh mà sự nhận biết về sự vật được chính xác

1. Phân tích có mục đích từng đối tượng so sánh.
2. Xác định cái giống nhau và khác nhau của các dấu hiệu của chúng.
Cách tiến hành này ngắn gọn và đầy đủ nhưng bước 1 chưa rõ ràng, và
chủ thể khi so sánh sẽ rất dễ bỏ sót các đặc điểm cần so sánh vì không có
bước trung gian là kể tên các đặc điểm cần so sánh.
- J. Lompscher, nhà tâm lí học nhận thức người Đức đưa ra các bước
của tiến trình so sánh (dẫn theo 21):
1.Xem xét riêng từng đối tượng.
2.Nêu các đặc điểm cần so sánh.
3.So sánh các đối tượng theo từng đặc điểm.
4.Nêu cái chung.
5.Nêu cái khác nhau.
Tiến trình so sánh này tương đối đầy đủ, chủ thể so sánh tri giác kĩ từng
đối tượng và nêu lên được các đặc điểm cần so sánh sẽ giúp cho kết quả so
sánh được đầy đủ hơn.
Hướng nghiên cứu thứ ba: Nghiên cứu về đặc điểm so sánh của trẻ
mẫu giáo nói chung và đặc điểm so sánh của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi nói riêng.
Trong các công trình nghiên cứu của A.N.Mensinxkaia, A.A.Liubnxkaia,
A.N.Daparôgiet, Mukhina…đã nêu lên đặc điểm phát triển thao tác so sánh của
trẻ mầm non nói chung và trẻ 5-6 tuổi nói riêng. Các tác giả đều có cùng quan
điểm là trẻ tuổi nhà trẻ chưa biết tiến hành đúng thao tác so sánh, chưa biết
tách các dấu hiệu bản chất trong mỗi đối tượng. Đến tuổi MG thì KNSS
của trẻ phát triển tốt hơn, đặc biệt là trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi. Ở giai đoạn
này, trẻ đã biết so sánh để tìm ra sự giống nhau và khác nhau giữa các đối
tượng, trẻ đã biết chú ý đến các dấu hiệu cơ bản để tách bạch các đối
tượng. Nhưng phải đến 5-6 tuổi thì kĩ năng so sánh của trẻ mới hoàn chỉnh
hơn. Trẻ 5-6 tuổi có thể tiến hành so sánh các đối tượng với nhau để tìm ra

8




tốt sẽ tạo điều kiện tích cực hóa quá trình tư duy của trẻ” (7;29). Khi tham gia
vào TCHT, tham gia giải quyết nhiệm vụ nhận thức cũng như điều khiển hành
động chơi trẻ cần phải sử dụng các thao tác tư duy, nhờ vậy mà tư duy của trẻ
trở nên tích cực, được rèn luyện và phát triển.
N.K.Krupxkaia đã viết rằng: “Trò chơi đối với trẻ là sự học tập, là lao
động, và nó là một hình thức giáo dục nghiêm túc”(37;37). Trò chơi đối với
trẻ không đơn giản là trò giải trí, không phải là trong trò chơi học tập thì trẻ
học dễ dàng không cần suy nghĩ và không có trách nhiệm. Trò chơi học tập
đòi hỏi sự hoạt động trí tuệ rất phức tạp, vì vậy mà nó tạo điều kiện thực hiện
nhiệm vụ giáo dục trí tuệ, nó sẽ góp phần phát triển trí tuệ cho trẻ-phát triển
các năng lực trí tuệ cho trẻ trong đó có thao tác so sánh.
Qua đây, chúng ta thấy rằng TCHT là phương tiện, là hình thức giáo
dục trí tuệ nói chung và phát triển các phẩm chất, năng lực trí tuệ cho trẻ nói
riêng, góp phần phát triển toàn diện nhân cách trẻ.
1.1.2.Những nghiên cứu trong nước.
Cũng như các nhà tâm lí học, giáo dục học trên thế giới. Các nhà tâm lí
học, giáo dục học ở Việt Nam cũng rất quan tâm đến KNSS của trẻ mầm non.
Hướng nghiên cứu thứ nhất: Nghiên cứu vai trò của KNSS đối với sự
phát triển nhận thức.
Thạc sĩ Trần Thị Ninh cho rằng: “KNSS ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi là một
trong những kĩ năng nhận thức cơ bản giúp trẻ nhận thức thế giới xung
quanh”(15). Nhận định này rất đúng vì quá trình nhận thức cơ bản nhất là
nhận biết những sự vật, hiện tượng gần gũi xung quanh trẻ thì trẻ cũng cần
phải có KNSS. Trẻ có so sánh mới phân biệt, mới nhận ra được đâu là sự vật
này, đâu là sự vật khác. Chưa kể đến nếu muốn biết các sự vật khác biệt hay
giống nhau như thế nào thì KNSS càng thực sự cần thiết hơn.

10

11


Giai đoạn 1:Dựa trên vốn hiểu biết và các kĩ xảo đã có sẵn trong sinh hoạt
để tìm ra cách thức thực hiện hành động so sánh. Trẻ thực hiện hành động so
sánh nhưng chưa đầy đủ và thiếu chính xác theo phương thức “thử và sai”.
Giai đoạn 2: Quan sát hành động mẫu (kèm theo lời giải thích hành
động mẫu) của người lớn và làm theo mẫu để có được sự hiểu biết về cách
thức thực hiện hành động so sánh theo đúng quy định.
Giai đoạn 3: Tạo cơ hội cho trẻ thực hiện các hành động so sánh trong
hoạt động hàng ngày và vận dụng các hành động đó vào việc giải quyết các
tình huống so sánh trong thực tiễn để hình thành, rèn luyện và phát triển kĩ
năng so sánh ở trẻ.
Giai đoạn 4: Trên cơ sở hiểu biết về cách thức so sánh và thực hiện
hành động so sánh trong thực tiễn dần dần người lớn giúp trẻ hiểu được mục
đích và nhiệm vụ của so sánh.
Hướng nghiên cứu này có ưu điểm là vừa đề cao được khía cạnh độc
lập, chủ động, tự hành động của chủ thể nhận thức vừa đề cao vai trò của
người hướng dẫn. Tuy nhiên, việc sắp xếp các giai đoạn chưa hợp lí. Trẻ cần
hiểu được mục đích và nhiệm vụ so sánh trước khi hành động. Như vậy sẽ
giúp cho trẻ dễ dàng định hướng cho hành động, sau đó mới lựa chọn phương
thức, cách thức hành động để thực hiện nhiệm vụ nhận thức.
Hướng nghiên cứu thứ ba: Nghiên cứu về đặc điểm so sánh của trẻ
mẫu giáo nói chung và đặc điểm so sánh của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi nói riêng.
PGS.TS.Nguyễn Ánh Tuyết khi nghiên cứu đặc điểm và sự phát triển
tâm lí của trẻ từ 0-6 tuổi đã nhận thấy rằng: quá trình tư duy của con người
phải sử dụng các thao tác trí tuệ như phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng
hóa, khái quát hóa… Đối với trẻ em lứa tuổi mẫu giáo, so sánh cần cho hoạt
động trí tuệ , so sánh càng tốt thì sự phát triển trí tuệ cả về cả hai phương
diện: cảm tính và lí tính đều diễn ra một cách thuận lợi (25;58). Bà đã chỉ ra

Hướng nghiên cứu thứ tư: Nghiên cứu TCHT đối với sự phát triển trí
tuệ, rèn luyện KNSS cho trẻ mẫu giáo.

13


Theo PGS.TS.Nguyễn Thị Hòa thì trong khi chơi các TCHT trẻ biết sử
dụng một số thao tác tư duy (so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa) để
giải quyết nhiệm vụ của TC đặt ra (7;47). Như vậy, TCHT đã tạo cơ hội cho
trẻ được rèn luyện các thao tác tư duy, giúp cho các thao tác tư duy được phát
triển và hoàn thiện. Bên cạnh đó, chúng ta cũng thấy rằng rất nhiều TCHT
được sử dụng với mục đích nhận biết các đối tượng trong thế giới xung
quanh. Trẻ cần phải thực hiện hành động so sánh mới có thể nhận biết, phân
biệt được các đối tượng với nhau.
TS.Đinh Văn Vang trong cuốn “Giáo trình tổ chức hoạt động vui chơi cho
trẻ mầm non” đã nói rằng: TCHT được xem là phương tiện để rèn luyện các thao
tác tư duy. Qua TCHT trẻ biết nhìn nhận, phân tích, so sánh, khái quát các sự vật
theo một vài dấu hiệu bề ngoài(4). Bên cạnh đó, ông cũng đưa ra cách phân loại
TC, hướng dẫn cách tổ chức TC cho phù hợp với mục tiêu giáo dục đã đề ra.
Ngoài ra còn một số các nghiên cứu khác đi sâu nghiên cứu thiết kế hệ
thống TCHT nhằm rèn luyện các lĩnh vực nhận thức khác nhau. Tuy nhiên,
chưa có một nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu TCHT nhằm rèn luyện KNSS
cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động KPMTXQ. Chính vì vậy, với mong
muốn phát huy vai trò của TCHT trong việc rèn luyện KNSS cho trẻ mẫu giáo
5-6 tuổi mà tôi chọn đề tài này để nghiên cứu
1.2.Cơ sở lí luận về việc thiết kế và sử dụng TCHT
trong hoạt động khám phá MTXQ nhằm rèn luyện kĩ năng
so sánh cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
1.2.1.Kĩ năng so sánh của trẻ 5-6 tuổi.
1.2.1.1.Khái niệm kĩ năng so sánh.

trên cơ sở nắm vững phương thức, cách thức hành động.
*Khái niệm “so sánh”
Khi bàn về khái niệm so sánh cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau,
có quan điểm nhìn nhận “so sánh” là một quá trình nhận thức, có quan điểm
thì nhìn nhận “so sánh “ là một trong những thao tác tư duy cơ bản.

15


Đại điện cho khuynh hướng xem xét so sánh trong một quá trình nhận
thức: “So sánh là quá trình dùng trí óc để xác định sự giống nhau hay khác
nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau
giữa các đối tượng nhận thức(26;151) là các tác giả Nguyễn Quang Uẩn,
Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang. Bên cạnh đó, các tác giả Tạ Ngọc Thanh,
Nguyễn Thành Nhân cũng cho rằng: so sánh là quá trình dùng trí óc để các
định sự giống nhau hay khác nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất giữa
các sự vật hiện tượng, “so sánh là nhìn vào cái này để xem cái kia, để thấy sự
giống nhau, khác nhau hoặc sự hơn kém” (32;27). So sánh là cách thức giúp
trẻ tìm ra điểm giống nhau và khác nhau trong các vật thể. Đối với các vật cụ
thể, có thể so sánh theo các bình diện như kích cỡ, hình dáng, số lượng, màu
sắc,…Các khái niệm trừu tượng có thể được so sánh về chức năng, vị trí, mức
độ…(42,29). Tuy nhiên, đối với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thì việc thực hiện thao
tác so sánh thường được tiến hành trên những đối tượng cụ thể phù hợp với sự
phát triển tư duy của trẻ.
Một khuynh hướng khác là xem xét so sánh là một thao tác cơ bản của
tư duy. Theo Nguyễn Ngọc Bảo trong cuốn thực hành giáo dục đã viết rằng:
so sánh là một trong những thao tác tư duy làm chức năng đối chiếu các sự
vật để phát hiện ta những nét khác nhau giữa chúng (4). Tác giả Trần Ngọc
Lan cho rằng: so sánh là thao tác của tư duy, trong đó chủ thể tư duy dùng trí
óc để xác định sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng (giữa

1.2.1.2.Quá trình hình thành thao tác so sánh.
Các giai đoạn hình thành hoạt động trí tuệ của Galpêrin:Theo
P.Ia.Galpêrin và J.Lompscher, muốn hình thành các thao tác trí tuệ, người ta
không thể chỉ biết đó là những thao tác nào, được tiến hành trên đối tượng,
với những nội dung, phương tiện ra sao mà điều cơ bản là phải hiểu rõ cách
thực hiện chúng. Các thao tác trí tuệ mới hay các thao tác ở trình độ cao hơn
thường không bao giờ xuất hiện với một chất lượng tương ứng ngay từ đâu,

17


nên chúng phải được hình thành một cách khoa học. Theo họ thì thoạt tiên
thao tác trí tuệ phải được hỗ trợ bởi hành động thực tiễn để trẻ có thể tri giác
những sự thay đổi ở đối tượng của hoạt động trí óc một cách trực tiếp và lấy
đó làm điểm xuất phát của những hành động bộ phận tiếp theo. Tuy nhiên, sự
hỗ trợ đó phải giảm dần tùy theo trình độ tiếp thu hành động để khi các thao
tác trí tuệ đã được “chuyển vào trong” hay “nội tâm hóa”, thì chính các hành
động có đối tượng sẽ nhanh chóng trở thành không cần thiết nữa. Galpêrin đã
đề ra các giai đoạn hình thành hành động trí tuệ “chuyển” một khái niệm từ
hình thức vật chất bên ngoài vào bên trong.
Giai đoạn 1: Lập cơ sở định hướng của hành động:
Giai đoạn này trẻ có thể tự làm theo phương thức thử và sai, tự thực
hiện hành động hoặc cũng có thể được hướng dẫn nhưng sự hướng dẫn chỉ
ứng với một hành động cụ thể nên trẻ sẽ gặp khó khăn trong những tình
huống mới. Bên cạnh đó có loại định hướng có sự hướng dẫn của giáo viên.
Loại định hướng này hướng dẫn trẻ cách phân tích hành động mới giúp trẻ
phát hiện ra các điểm tựa, các điều kiện để thực hiện đúng hành động. Loại
định hướng này giúp trẻ nắm được cách phân tích, trên cơ sở đó giúp trẻ có
thể làm các hành động khác một cách dễ dàng hơn.Trong nghiên cứu này để
giúp trẻ lĩnh hội được thao tác so sánh, chúng tôi vận dụng loại định hướng

Bước này xảy ra từ khi việc luyện tập nói thầm thành thạo. Chúng được
rút gọn tới mức chỉ còn lại những đoạn nhỏ và không ổn định, vừa đủ để nhận ra
toàn bộ lôgic của ngôn ngữ nói to hoặc lô gic hành động vật chất ban đầu khi cần
thiết. Như vậy, ngôn ngữ bên ngoài đã chuyển thành ngôn ngữ bên trong.
Năm giai đoạn trên luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Qua năm giai đoạn
này, nội dung của đối tượng không thay đổi mà chỉ có sự thay đổi về hình
thức của nó, nghĩa là thay đổi về mặt tâm lý, từ một hành động vật chất bên
ngoài biến thành hành động trí óc bên trong. Những luận điểm của
P.Ia.Galpêrin không những hấp dẫn về mô tả mà còn vạch ra được bản chất và

19


cơ chế của một quá trình hình thành cái tâm lý, trí tuệ từ cái vật chất bên
ngoài. Giá trị to lớn trong công trình nghiên cứu của P.Ia.Galpêrin là lấy hành
động làm cơ sở hình thành hành động trí tuệ.
Quá trình phát triển kĩ năng so sánh của trẻ tạo nên sự biến đổi về chất của
thao tác tư duy so sánh từ dạng so sánh sơ khai lên dạng so sánh chính thức:

Mới tri giác vật

Quan sát kỹ lưỡng vật





Dạng so sánh sơ khai

Dạng so sánh chính thức

phận, nhiều thuộc tính giúp cho việc so sánh được kĩ càng, sau cùng là so

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status