Thiết kế và sử dụng mô hình động dạy học sinh lý học thực vật - Pdf 83

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
------------***------------
HOÀNG THỊ QUYÊN
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG MÔ HÌNH ĐỘNG
DẠY HỌC SINH LÝ HỌC THỰC VẬT (SINH HỌC 11)
BẰNG PHẦN MỀM MS.POWER POINT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH : LL&PPDH SINH HỌC
MÃ SỐ : 60.15.10 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TIẾN SĨ NGUYỄN VĂN HỒNG

phát triển đây là con đường đi tắt và nhanh nhất để loại bỏ sự cách biệt về giáo
dục với những nước phát triển.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
1.2. Xuất phát từ ƣu thế của phƣơng tiện trực quan nói chung và phần
mềm dạy học nói riêng trong quá trình dạy học.
Quá trình day học thực chất là một hệ thống thông báo giữa thầy và trò,
Trong đó điều quan trọng là sự truyền thông tin, lĩnh hội và xử lý thông tin.
Sự truyền thông tin được diễn ra trên các kênh: kênh thị giác, kênh thính
giác và kênh khứu giác, trong đó kênh thị giác có khả năng truyền thông tin
lớn nhất, điều đó cho thấy việc sử dụng các phương pháp trực quan trong
dạy học sẽ tạo điều kiện cho học sinh hình thành khái niệm nhanh hơn, ghi
nhớ tốt hơn, học tập chất lượng và hiệu quả hơn. Phương pháp trực quan
luôn gắn liền với việc sử dụng các phương tiện trực quan như: máy chiếu,
mô hình, tranh vẽ... ngoài các phương tiện vật chất hoá thì phần mềm dạy
học đã và đang thể hiện ưu thế của mình. Phần mềm dạy học là một phương
tiện trực quan hữu hiệu có tác dụng kích thích tính tích cực, độc lập, sáng
tạo của người học, giúp người dạy học thực hiên tốt việc phân hoá , cá thể
hoá trong dạy học. Đây cũng là một trong những lí do mà Bộ Giáo dục và
Đào tạo nước ta đã đề ra kế hoạch thực hiện:"Năm học 2008 - 2009 là năm
học của tin học" [17]..
1.3. Xuất phát từ những ƣu điểm của phần mềm MS. Power Point
MS. Power Point có nhiều tính năng ưu việt như: Tạo một trình diễn
bằng mẫu thiết kế, khả năng định dạng văn bản, các chức năng lập dàn bài và tổ
chức trình diễn. Khả năng trình diễn của MS. Power Point rất linh hoạt. Với số
lượng lớn các hiệu ứng Power Point cho phép trình bày bài giảng một cách
khoa học, rõ ràng, hình ảnh sinh động có sự kết hợp hài hoà và sắp xếp các đề
mục logic. Nhờ sử dụng MS. Power Point mà việc dạy và học trở nên hấp dẫn
hơn, học sinh dễ tiếp thu bài giảng hơn .
Phần mềm MS. Power Point rất hữu ích trong thiết kế các trình diễn phục

5. Nghiên cứu thực nghiệm sư phạm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
6. Đề xuất các biện pháp sử dụng mô hình ảo - động trong dạy học
Sinh học 11
V. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu: Các tài liệu
của Đảng, Chính phủ, Nhà nước và của Ngành Giáo dục và Đào tạo về việc
đổi mới phương pháp dạy học, về việc tăng cường ứng dụng tin học trong dạy
học; sách giáo khoa Sinh học phổ thông; phần mềm MS.Power Point; một số
công trình nghiên cứu và giáo án Sinh học sử dụng phần mềm MS.Power
Point trong thiết kế bài giảng. Sách giáo khoa Sinh học 11 THPT(Ban cơ
bản), sách giáo viên và một số trang Web về giáo án điện tử...
2. Phƣơng pháp điều tra (pp. anket)
- Đối với cán bộ quản lí giáo dục: Điều tra về chỉ đạo thực hiện ứng
dụng CNTT trong dạy học
- Đối với đội ngũ giáo viên phổ thông: Điều tra hiện trạng ứng dụng
MS.Power Point trong dạy học các môn học nói chung và môn học Sinh học
nói riêng.
- Đối với học sinh: Thăm dò thái độ của học sinh về việc sử dụng các mô
hình ảo - động trong dạy học.
3. Trưng cầu ý kiến của các chuyên gia chuyên ngành phương pháp dạy học
Sinh học, chuyên ngành Tin học, một số nhà quản lý giáo dục và giáo viên
dạy học bộ môn Sinh học ở trường phổ thông về hiệu quả sử dụng các mô
hình động trong bài giảng.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu thực nghiệm sƣ phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPTBC Việt Bắc và
Trường THPT Phú Lương Tỉnh Thái Nguyên nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng
mô hình động trong dạy học.

6
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU DẠY HỌC BẰNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
1.1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin
trong giáo dục ở một số nƣớc trên thế giới
Cùng với sự phát triển của máy tính điện tử là sự phát triển của các phần
mềm hệ thống và ứng dụng. Hầu hết người sử dụng máy tính trên thế giới đã
quen với các phần mềm nổi tiếng như Windows, Visual Basic... Từ nửa sau
thế kỉ 20 sự phát triển của CNTT đã tiến những bước nhảy vọt. Các phần
mềm ứng dụng ngày càng được sử dụng nhiều hơn và được phát huy thế
mạnh của chúng trong lĩnh vực kinh tế, kĩ thuật, khoa học và giáo dục. Nhiều
phần mềm ứng dụng dạy học đã lần lượt ra đời. Phần mềm tin học là một
trương trình cho máy tính để xử lí thông tin. Các phần mềm tin học được ứng
dụng ngay từ khi có hệ thống phần cứng ra đời.
Monet định nghĩa: “phần mềm tin học là nội dung “thông minh” trong
máy tính, bao gồm toàn bộ những chỉ dẫn nhằm hướng dẫn hoạt động chung
(hệ thống khai thác) và riêng(ứng dụng) cho một cách sử dụng chính xác hay
đặc thù” [6] .
Phần mềm tin học được coi là chỗ dựa cho dạy học được coi là phần
mềm dạy học. Phần mềm tự học là dạng phần mềm giáo dục, cho phép cá nhân
tự học theo một nội dung nào đó, nhờ sự trợ giúp của máy tính, phần mềm tự
đặt ra các lỗi, các tình huống xử lí trong quá trình học (học viên tự kiểm tra và
hiệu chỉnh kiến thức qua các lỗi mắc phải). Phần mềm hỗ trợ dạy và học đã
sớm ra đời, ngày càng phong phú đa dạng, dễ sử dụng, thuận tiện, thường
xuyên cập nhật các phiên bản mới. Các phần mềm dạy học ngày càng chuyên
biệt và được xây dựng theo từng nội dung kiến thức cụ thể của chuyên ngành.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7

Xerilanca) năm 1985 ở Malaysia.
Việc đào tạo từ xa của các trường Đại học cũng như các Trung tâm
dạy nghiên cứu đã được thực hiện trên cơ sở xây dựng hệ thống thư viện, điện
tử và tra cứu thông tin qua mạng Internet.
Hiện nay, đã có phần mềm hỗ trợ dạy và học các môn học ở mọi cấp
học, trong đó có các phần mềm về lĩnh vực dạy Sinh học:
- Phần mềm Biology trong Encarta (từ điển bách khoa toàn thư) gồm các kiến
thức về phân loại thực vật, phân loại động vật, giải phẫu sinh lí, quá trình phát
triển phôi sớm...
- Phần mềm trong www.dnaftb.org xây dựng một số cấu trúc cơ chế của sự di
truyền như phiên mã, dịch mã; cấu trúc nhiễm sắc thể.
Nhìn chung, phần mềm nước ngoài có giao diện sinh động, có âm
thanh, màu sắc trung thực, nhưng bằng tiếng nước ngoài nên khả năng sử
dụng cho GV và HS rất hạn chế. Một điều đáng nói là nội dung các phần
mềm đó có ở khắp các cấp học, chỉ phù hợp cho việc tham khảo, minh họa
của GV khi cần thiết, không phù hợp với các trương trình SGK mới ở cấp tiểu
học, THCS, THPT hiện hành[27]; [28]; [29]..
1.1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ứng dụng CNTT trong dạy học ở
Việt Nam
Từ những năm 60, nước ta bắt đầu sử dụng máy tính điện tử. Hội đồng
chính phủ đã ra nghị quyết số 173- CP (1975) và 245- CP (1976) về tăng
cường ứng dụng toán học và máy tính điện tử trong cả nước. Viện Công
nghệ thông tin được thành lập và có những đề án nghiên cứu ứng dụng
CNTT, Đưa tin học vào nhà trường.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về việc ứng dụng tin học trong dạy học
các môn học ở trường phổ thông.
Năm 2002, Phạm Xuân Quế, Phạm Kim Chung đã thử nghiệm xây
dựng trang web dạy học chương “dao động cơ học” ở chương trình Vật lí lớp

Năm 2007, Nguyễn Mạnh Hưởng đã nghiên cứu thiết kế bài giảng “ Cách
mạng tháng Tám” với sự hỗ trợ của phần mềm Microsoft power point [12].
Theo tác giả, phần mềm này có vai trò, ý nghĩa to lớn trong việc giúp học sinh
đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, hiểu đúng bản chất sự kiện,
hiện tượng lịch sử.
Vấn đề ứng dụng CNTT trong GD - ĐT được Đảng và Nhà nước ta rất coi
trọng, coi yêu cầu đổi mới PPDH có sự hỗ trợ của các phương tiện kĩ thuật
hiện đại là điều hết sức cần thiết. Các văn kiện, nghị quyết, Chỉ thị của Đảng,
Chính phủ, Bộ GD - ĐT đã thể hiện rõ điều này( Nghị quyết trung ương 2
khóa VIII, Chỉ thị số 29 của Bộ GD - ĐT(30/7/2001/CT)). Đặc biệt, chiến
lược phát triển GD - ĐT 2001 - 2010 của Bộ GD - ĐT đã yêu cầu ngành GD
phải từng bước phát triển dựa trên CNTT, vì:“ CNTT và đa phương tiện sẽ tạo
ra những thay đổi lớn trong quản lí hệ thống GD, trong chuyển tải nội dung
chương trình đến người học, thúc đẩy cuộc cách mạng về phương pháp dạy và
học” [17]; [19].
1.1.3. Một số nghiên cứu về ứng dụng tin học trong dạy học Sinh học
Hiện nay việc áp dụng công nghệ thông tin trong dạy học Sinh học đã
giúp học sinh hiểu bài một cách dễ ràng, sâu sắc và chính xác. Đã có một
số tác giả nghiên cứu về sử dụng tin học trong dạy học Sinh học ở trường
phổ thông.
Năm 2002, Dương Tiến Sỹ đã sử dụng phần mềm Microsoft powerpoint
thiết kế các trình phim dạy khái niệm môi trường và các nhân tố sinh thái
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
[21]. Tác giả thiết kế được một sơ đồ hoàn chỉnh bao gồm nhân tố sinh thái
tác động vào đời sống cây xanh, các nhân tố đó được xếp vào nhân tố vô sinh,
nhân tố hữu sinh, nhân tố con người. Các câu hỏi được khắc họa bằng sơ đồ,
hình ảnh, giúp học sinh tích cực suy nghĩ để giải quyết vấn đề mà giáo viên
đặt ra cho học sinh say mê, tích cực tìm tòi chiếm lĩnh những kiến thức mới
và phương pháp chiếm lĩnh kiến thức đó[9]; [25].

Word và Microsoft Excel, PowerPoint thực sự cần thiết cho tất cả các cơ
quan, công sở, trường học, văn phòng. Hiện nay, phần mềm PowerPoint là
công cụ được sử dụng với nhiều mục đích và ngày càng được khẳng định
tầm quan trọng trong nhiều lĩnh vực. Nó cũng được nghiên cứu sâu những
chức năng vốn có để phục vụ nhu cầu ngày càng lớn về giảng dạy và học
tập trong các nhà trường.
Khác với hai sản phẩm của Microsoft, PowerPoint với các công cụ
tinh xảo, các biểu mẫu, biểu đồ có sẵn và tự thiết kế cũng như một loạt các
chức năng tự động hoá các quá trình này dùng để tạo ra các áp phích, tờ
rơi, quảng cáo, các biểu mẫu đồ hoạ trang trí đẹp mắt và các phim dương
bản được kết nối tạo nên các trình phim biểu diễn các cơ thể, các quá
trình... được ứng dụng rất nhiều trong việc thiết kế các bài giảng, các
thuyết minh khoa học, các báo cáo,... hết sức sinh động. Nhờ đó,
PowerPoint thực sự mang lại hiệu quả cho những ứng dụng nhằm tổ chức
hoạt động dạy học theo hướng tích cực.
Hiện nay, một số giáo viên chưa nhận thức được đầy đủ về đổi mới
phương pháp giảng dạy. Khi sử dụng Power Point, nhiều giáo viên quên việc
sử dụng bảng và coi màn hình là công cụ duy nhất. Kết quả là trong giờ học,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
học sinh chỉ làm nhiệm vụ chép lại những chữ phóng to trên màn, không còn
thời gian để nghe hoặc trao đổi về bài học. Vì vậy mçi gi¸o viªn cÇn phân tích
những ưu nhược điểm của việc áp dụng công nghệ thông tin, phân tích sự
khác nhau về mức độ áp dụng cho từng bài, từng bộ môn.
Nghiên cứu bước đầu của chúng tôi thấy phần mềm PowerPoint có thể
thực hiện được các công việc phục vụ giảng dạy, học tập sau:
1. Tạo giáo trình, sách giáo khoa, sách tham khảo, sách hướng dẫn phục
vụ giảng dạy, học tập trong nhà trường.
2. Tạo các trình phim biểu diễn đồ hoạ mang tính trực quan, phù hợp
với tiến trình dạy học cho các môn, phục vụ hội thảo, triển lãm...

các màu sắc sinh động, giáo viên có thể tổ chức hoạt động nhận thức cho
học sinh theo chương trình tự động trong thời gian một tiết học, hay tự điều
khiển bằng bàn phím hoặc con chuột cho linh hoạt phù hợp với tiến trình
bài giảng và đối tượng học sinh, cho phép cụ thể hoá từng phần kiến thức
hay sơ đồ hoá một cách hệ thống chứ không đơn điệu như khi đưa bản
trong lên đèn chiếu.
Việc thiết kế và sử dụng phần mềm PowerPoint giảng dạy bằng máy vi
tính thực sự đơn giản và tiện ích, không tốn kém nhưng khả năng phát huy
tính tích cực của học sinh trong giờ học lại đạt hiệu quả cao. Các hình thức sử
dụng hình ảnh, bảng biểu, sơ đồ trong giảng dạy linh hoạt, phong phú cho
phép giáo viên dẫn dắt học sinh đi từ các chi tiết cụ thể đến khái quát hoặc
ngược lại. Hơn thế nữa, những kiến thức quan trọng cần phải nhấn mạnh và
phải dành nhiều thời gian hơn thì khi thiết kế, chúng ta có thể hoàn toàn chủ
động điều chỉnh bằng cách đặt chế độ tự động về thời gian, hay điều khiển các
slide bằng bàn phím hoặc con chuột; hoặc ghi toàn bộ phần mềm dạy học đó
ra đĩa CD để sử dụng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
2.2. NGUYÊN TẮC THIẾT KẾ
* Đảm bảo tính khoa học của nội dung
Theo lý luận dạy học sinh học, tính khoa học của nội dung đòi hỏi phải
phản ánh các thành tựu mới nhất của sinh học hiện đại, lựa chọn những kiến
thức cơ bản "chìa khoá" nhất phù hợp với trình độ lĩnh hội của học sinh. Tài
liệu vừa sức sẽ gây được hứng thú học tập, kích thích tư duy tích cực, lôgic
sáng tạo. Vì vậy, khi thiết kế bài soạn phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Phải phù hợp với chương trình và sách giáo khoa
- Đáp ứng yêu cầu của quá trình dạy học như: hình thành kiến thức
mới, ôn luyện, rèn luyện kỹ năng bộ môn.
- Khắc phục được những hạn chế của sách giáo khoa và các thiết bị dạy
học "tĩnh" như đưa âm thanh, hình ảnh "động" bằng video để minh hoạ.

học của HS. Tiến trình tổ chức cho HS từng bước giải quyết được các câu hỏi,
phiếu học tập đó cũng đồng thời là quá trình thực hiện các mục tiêu dạy - học
đã đề ra.
GV lưu ý khi thiết kế câu hỏi, phiếu học tập theo từng nội dung dạy -
học, phải gắn liền với việc thiết kế, sưu tầm và sử dụng các hình ảnh, phim
video… tương ứng phù hợp với nội dung và ý đồ về PPDH. Một kịch bản tốt
là phải bám sát vào mục tiêu dạy - học, nghĩa là từ các hình ảnh trực quan
cùng với những câu hỏi dẫn dắt cho phép định hướng sự suy nghĩ, tìm tòi phát
hiện ra tri thức mới trong bài học. Qua đó, rèn luyện kỹ năng tư duy và hành
động - một yếu tố quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách
của HS.
Sau đây là một ví dụ về cách xác định mục tiêu bài 03 “Trao đổi khoáng
ở thực vật” - Sinh học 11 THPT.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17

1. Về kiến thức:
- Phân biệt được 2 cách hấp thụ các chất khoáng ở rễ: chủ động và bị
động.
- Trình bày được vai trò của các nguyên tố đại lượng, vi lượng.
- Giải thích bằng hình vẽ hai con đường dẫn truyền nước, các chất
khoáng và chất hữu cơ trong cây.

- Chứng minh được tính thống nhất và mối liên quan chặt chẽ giữa các quá
trình trao đổi chất trong các cơ quan khác nhau của cây.
2. Về kỹ năng:
Rèn luyện kỹ năng quan sát, phân tích, so sánh các nội dung của bài học.
Để thực hiện mục tiêu kiến thức thứ nhất của bài đòi hỏi phải có những
hình ảnh động để minh họa hai cơ chế hấp thụ chủ động và hấp thụ bị động
các chất khoáng để HS quan sát rồi trả lời theo câu hỏi định hướng hoạt động
H2.2: Cơ chế hấp thụ bị động các chất khoáng
Qua việc quan sát các hình ảnh và trả lời các câu hỏi định hướng như
trên HS sẽ đạt được mục tiêu thứ nhất của bài học. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
*Nguyên tắc phù hợp với nội dung dạy học
Các m« h×nh ¶o được nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sử dụng phải phù
hợp với nội dung, nghĩa là các m« h×nh ¶o đó phải phục vụ cho nội dung
truyền tải đến người học. Người học thông qua việc tổ chức sử dụng m«
h×nh ¶o mô phỏng của GV hoặc chính mình trực tiếp sử dụng chương trình
mô phỏng đó, có khả năng lĩnh hội được tri thức mà chương trình mô phỏng
muốn truyền tải.
Thiết kế một bài giảng thực chất là ta đi mã hóa các nội dung dạy - học
thành các dạng câu hỏi, các hình ảnh, các đoạn phim video. Tuy nhiên khi
mã hóa nội dung dạy - học cần phải thực hiện nguyên tắc đảm bảo tính chính
xác, khoa học và phù hợp. Các hình ảnh động, các đoạn phim video và hệ
thống câu hỏi định hướng hoạt động của HS cần phải hợp lý - nghĩa là phải
đảm bảo tính chính xác, phù hợp trong cấu trúc logic của nội dung thì hoạt
động tìm tòi kiến thức của HS mới đạt yêu cầu mục tiêu dạy - học đặt ra.
Chất lượng của kịch bản quyết định chất lượng của chương trình mô
phỏng m« h×nh ¶o. Do vậy việc gia công sư phạm nội dung kịch bản đảm
bảo tính chính xác, khoa học là yêu cầu rất quan trọng trong qui trình thiết kế
bài giảng.
Ví dụ bài 03 “Trao đổi khoáng ở thực vật” mô tả các con đường vận
chuyển nước, chất khoáng, chất hữu cơ trong cây. GV có thể gia công hình vẽ
thành các hình ảnh chuyển động và các câu hỏi định hướng như sau:


H2.4: Sơ đồ mô phỏng các giai đoạn trong cơ chế hô hấp ở thực vật
Sau khi tự hoàn thành được sơ đồ HS sẽ nắm được bản chất logic của cơ
chế hô hấp.
- Các hình ảnh phải sáng sủa, rõ nét, màu sắc hài hòa.
- Cụ thể hóa được những kiến thức lí thuyết cơ bản, đơn giản hóa các
kiến thức phức tạp để HS có thể tiếp thu một cách nhanh chóng và sâu sắc.
- Tạo được sự chú ý, kích thích được sự tìm tòi, sáng tạo, phát hiện
những tri thức mới của HS.
a- Phát huy được tính tích cực hoạt động học tập của HS, làm nảy sinh
nhu cầu nhận thức… từ đó có ý thức và lòng say mê học tập.
Ví dụ: Bài 06 “Khái niệm về quang hợp” khi dạy mục bản chất hai pha
của quang hợp, trong SGK không có hình ảnh cụ thể minh họa mà chỉ có hình

?

?
?

?
H2.5: Hai pha của quá trình quang hợp
Để đảm bảo nguyên tắc này, khi thiết kế chương trình mô phỏng cần
phải chú ý sao cho các tranh, ảnh, phim… được lựa chọn là những tư liệu có
khả năng truyền tải thông tin, nội dung bài học hiệu quả nhất. Các tư liệu đó
phải được sắp xếp một cách khoa học để GV có thể sử dụng chúng dễ dàng
khi tổ chức hoạt động nhận thức cho HS.
Việc sử dụng các phương tiện và thiết bị dạy học cần đảm bảo tính hiệu
quả , hữu dụng. Có thế mới rèn được khả năng tư duy, năng lực tự nhận thức
của học sinh đồng thời giúp cho giáo viên có cơ hội thuận lợi để tổ chức bài
lên lớp.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23
Ví dụ khi dạy phần III - Quá trình vận chuyển nước ở thân bài 01 “Trao
đổi nước ở thực vật”, GV có thể mô phỏng kênh chữ trong SGK thành hình
ảnh động. Chỉ cần một thao tác đơn giản (kích chuột vào màn hình) HS sẽ
quan sát được con đường vận chuyển nước từ đất vào rễ vào thân lên lá và tỏa
ra môi trường.
GV hoặc chuyên gia thực hiện bước mô hình hóa và sau đó sử dụng mô hình
với mục đích sư phạm như một phương tiện nhận thức giúp HS hiểu rõ một
khái niệm nào đó.
Xét về khía cạnh sö dông m« h×nh ¶o trong dạy - học sinh học, những
mô hình cần thiết tối thiểu đã được các chuyên gia viết SGK lựa chọn để trình
bày trong sách dưới dạng tranh vẽ, sơ đồ. Nhưng khả năng tư duy của người
viết sách và HS khác nhau nên HS thường học một cách máy móc. Nhiệm vụ
của người GV muốn truyền tải kiến thức cho HS phải hoàn cảnh hóa lại, cụ
thể hóa lại, tìm cách biến đổi những mô hình trong sách sao cho dễ hiểu hơn,
sinh động hơn, tìm ra những mối liên hệ hiện thực đang ẩn dấu trong các hình
vẽ, sơ đồ đó. Hơn thế nữa, bằng quan sát những hình ảnh động, bài học sẽ trở
nên hấp dẫn, khơi dậy hứng thú của HS nếu được thiết kế sao cho làm sống
lại quá trình suy nghĩ và hành động của các nhà khoa học.
Trong dạy - học môn sinh học ở trường THPT, chưa đủ điều kiện để d¹y
HS bằng PPMH tự lực khám phá lại các khái niệm mà cần phải có sự hỗ trợ,
giúp đỡ của GV. Với khung thời gian qui định trên lớp, GV không thể giới
thiệu đầy đủ các bước của PPMP. Khi vận dụng PPMP trong dạy - học môn
sinh học, bước nghiên cứu trên mô hình giữ vai trò rất quan trọng. Ở giai đoạn
này HS cùng với GV thực nghiệm kết hợp thao tác trí óc để nhận thức và
củng cố lý thuyết.

Trích đoạn Quy trình thiết kế Quy trình sưu tầm CƠ CHẾ VÀ QUÁ TRÌNH SINH LÝ THỰC VẬT THEO HƢỚNG TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HS. Quy trình thiết kế bài giảng theo phương pháp dạy học MỘT SỐ THUẬT NGỮ TIẾNG ANH
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status