Mở đầu
Việc thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đòi hỏi
phải đổi mới đồng bộ từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện
dạy học đến cách thức đánh giá kết quả dạy học, trong đó khâu đột phá
là đổi mới phương pháp dạy học
Mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ
thông là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo
“Phương pháp dạy học tích cực” nhằm giúp học sinh pháp huy tính tích
cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả nămg tự
học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống
khác nhau trong học tập và trong thức tiễn; tạo niềm tin, niềm vui, hứng
thú trong học tập. Làm cho “Học” là quá trình kiến tạo kiến thức: Học
sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lí thông tin,
…tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất. Tổ chức hoạt động
nhận thức cho học sinh, dạy học sinh cách tìm ra chân lí. Chú trọng hình
thành các năng lực (tự học, sáng tạo, hợp tác,…), dạy phương pháp và kĩ
thuật lao động khoa học, dạy cách học.
Một phương pháp dạy học tích cực đã được nhiều tác giả nghiên cứu là
“Dạy học kiến tạo”. Bài viết này trình bày một số vấn đề về việc: “Thiết
kế và sử dụng các tình huống dạy học kiền tạo kiến thức trong dạy học
toán ở trường phổ thông”
- 1 -
Chương 1: CỞ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỂN
1.1. Cơ sở lí luân
1.1.1. Khái niệm về kiến tạo
Động từ kiến tạo chỉ hoạt động của con người tác động lên một
đối tượng, quan hệ nhằm mục đích hiểu chúng và sử dụng chúng như
những công cụ kí hiệu để xây dựng nên các đối tượng, các hiện tượng,
các quan hệ mới.
1.1.2. Quan điểm kiến tạo trong dạy học
Khoa học luận coi bản chất của quá trình học tập của học sinh là
hóa kiến thức cho học sinh .
1.1.3.Một số luận điểm về dạy học theo quan điểm kiến tạo
Việc dạy học theo quan điểm kiến tạo dựa trên 5 luận điểm sau:
– Tri thức được tạo nên một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức
học sinh chứ không phải được tiếp thu một cách thụ động từ bên
ngoài .Quan điểm trên hoàn toàn phù hợp với thực tiễn nhận thức toán
học.
– Nhận thức nói chung (nói riêng là nhận thức Toán học) là quá
trình thích nghi chủ động với môi trường nhằm tạo nên các sơ đồ nhận
thức của chính chủ thể chứ không khám phá một thế giới tồn tại độc lập
bên ngoài chủ thể. Nói như vậy có nghĩa là người học không phải thụ
động tiếp thu kiến thức do người khác áp đặt lên mà chính bản thân họ
hoạt động kiến tạo kiến thức mới.
Theo Jean Piaget
Đồng hóa: Khi tương tác với môi trường, với các thông tin mới,
nếu bằng kiến thức cũ, kĩ năng đã có học sinh tiếp nhận được thông tin
vào sơ đồ nhận thức đã có gọi là đồng hóa
- 3 -
KT và kinh
nghiệm đã có
Phán đoán,
giả thuyết
Kiểm
nghiệm
Thích
nghi
Kiến
thức mới
Thất bại
Điều ứng: Khi tiếp nhận tình huống mới học sinh gặp khó khăn
hành động trí tuệ. Mỗi một kiến thức được hình thành đồng thời với việc
học sinh chiếm lĩnh được cách thức tạo ra kiến thức đó (tri thức về
phương pháp); nghĩa là hình thành các thao tác trí tuệ tương ứng. Điều
đó nói lên rằng mỗi khái niệm toán học, mỗi qui luật toán học cần được
lí giải tường minh trước khi tiến hành tổ chức ở học sinh để họ hành
động với từng nhiệm vụ cụ thể giải quyết từng nhiệm vụ cho tới khi
hòan thành nhiệm vụ.
1.1.4. Một số năng lực kiến tạo kiến thức trong dạy học toán
Việc xác định các năng lực cơ bản kiến tạo kiến thức trong dạy
toán dựa trên các cơ sở nhận thức sau:
– Xuất phát từ cách hiểu mô hình dạy học theo quan điểm kiến
tạo: Lý thuyết (đã có) – dự đoán – thử nghiệm – thất bại – thích nghi –
lý thuyết mới (kiến thức mới);
– Từ cách hiểu nhận thức là quá trình điều ứng và tổ chức lại thế
giới quan của chính mỗi người, trong đó điều ứng là sự thay đổi những
sơ đồ nhận thức hiện có sao cho tương hợp với những thông tin mới (có
thể trái ngược với kiến thức đã có);
– Từ cách hiểu bản chất của quá trình thích nghi trí tuệ của Jean
Piaget;
- 5 -
– Từ nhận thức về khả năng sinh sản các mới của Jerome Bruner
là khả năng chuyển di các nguyên tắc, các thái độ đã có vào các tình
huống mới khác nhau.
Sau đây là một số năng lực cơ bản kiến tạo các kiến thức toán học
của học sinh phổ thông
a. Năng lực dự đoán phát hiện vấn đề, phương pháp dựa trên cơ
sở các qui luật tư duy biện chứng, tư duy tiền lôgic, khả năng liên tưởng
và di chuyển các liên tưởng
Để có năng lực dự đoán, phát hiện vấn đề học sinh cần được rèn
luyện các năng lực thành tố như: năng lực xem xét các đối tượng toán
cùng một nội dung toán học. Khi xác định năng lực huy động kiến thức
chúng tôi cho rằng khả năng biến đổi vấn đề, biến đổi các bài toán đóng
vai trò rất quan trọng. Nhờ quá trình biến đổi vấn đề, biến đổi các bài
toán học sinh có thể quy các vấn đề trong tình huống mới, các bài toán
lạ về các vấn đề quen thuộc, các bài toán tương tự đã giải. Quá trình
biến đổi chính là quá trình điều ứng để học sinh thích nghi – chuyển đến
sơ đồ nhận thức mới, tương hợp với tình huống mới.
d. Năng lực lập luận lôgíc, lập luận có căn cứ giải quyết chính xác
các vấn đề đặt ra.
e. Năng lực đánh giá phê phán
1.1.5. Các biện pháp rèn luyện năng lực kiến tạo
Biện pháp 1: Quan tâm dạy học các khái niệm, qui tắc, định lí
theo hướng luyện tập nhận dạng, phát hiện các thể khác nhau, từ đó đề
xuất càng nhiều cành tốt các ứng dụng khác nhau của chúng
Biện pháp 2: Thông qua dạy học chứng minh các định lí toán học,
dạy học giải các bài tập toán, luyện tập cho học sinh cách biến đổi tương
đương, nhìn nhận định lí, bài toán theo nhiều cách khác nhau dẫn đến
- 7 -
các cách chứng minh, giải toán khác nhau. Từ đó tập luyện các cách huy
động kiến thức khác nhau cho học sinh. Khi thực hiện biện pháp này cần
quan tâm các đối tượng quan hệ trong bài toán được xem xét, cài đặt
trong các mô hình khác nhau; Chẳng hạn xem tứ diện là bộ phận của
hình hộp, tùy theo các loại tứ diện để có các loại hình hộp tương ứng
ngoại tiếp nó. Đặt biệt chú trọng diễn đạt các định lí, các bài toán theo
các cách tương đương, tương thích với cách giải khác nhau
Biện pháp 3: Luyện tập cho học sinh cách thức chuyển đổi ngôn
ngữ trong một nội dung toán học hoặc chuyển đổi ngôn ngữ này sang
ngôn ngữ khác thông qua dạy học các tình huống điển hình. Từ đó dẫn
đến các cách lập luận chứng minh, giải quyết các vấn đề khác nhau
Biện pháp 4: Thông qua dạy học các tình huống điển hình chú
- 9 -
B
D
C
A
B
D
C
A
K H
A D
B
C
Chương 2 THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG CÁC TÌNH HUỐNG
DẠY HỌC KIẾN TẠO KIẾN THỨC TRONG
DẠY HỌC TOÁN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Việc thiết kế và sử dụng các tình huống trong dạy học kiến tạo cần đảm
bảo một số yêu cầu sau
1. Dựa trên cơ sở các quan điểm của dạy học kiến tạo
2. Cần xuất phát từ tri thức, kỉ năng được qui định trong sách
giáo khoa (cần khảo sát việc nắm kiến thức đã có, kỉ năng đã
có ở học sinh)
3. Tình huống có ý đồ dạy học kiến tạo cần tạo được chướng
ngại, khó khăn cần vượt qua (đề ra những nhiệm vụ nhận thức)
để học sinh điều ứng từ đó dẫn đến sơ đồ nhận thức mới (thích
nghi với môi trường)
4. Xác định được các trường hơp riêng của kiến thức cần kiến tạo
để học sinh khảo sát, hoạt động đề xuất các dự đoán, giả
thuyết có căn cứ khoa học (vận dụng trong dạy học khái niệm,
định lí, qui tắc, bài tập toán )