Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Kim Hường
SVTH: Nguyễn Thị Ngun 1
GVHD: Nguyễn Kim Hường SVTH: Nguyễn Thò Nguyên
Lớp: Toán 01 _ Khoá: 30
Khoa: Sư phạm_Trường ĐHCT
TP. CẦN THƠ 03/2008
TP. CẦN THƠ 03/2008
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Kim Hường
SVTH: Nguyễn Thị Nguyên 2
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Kim Hường đã tận tình hướng dẫn,
giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.
Em xin cảm ơn quí thầy cô, đặc biệt là các cô tổ phương pháp giảng dạy bộ
môn toán đã hết lòng dạy dỗ em trong suốt khóa học qua.
Em cũng xin lời cảm ơn sâu sắc đến: Ban giám hiệu trường THPT BC
Nguyễn Việt Dũng quận Bình Thủy thành phố Cần Thơ; các thầy cô trong tổ bộ
1. Bộ GD&ĐT: Bộ giáo dục và đào tạo
2. GV : Giáo viên
3. HS : Học sinh
4. KT- ĐG : Kiểm tra đánh giá
5. THPT : Trung học phổ thông
6. TNCM : Trắc nghiệm chuẩn mực
7. TNKQ : Trắc nghiệm khách quan
8. TNKQNLL: Trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn
9. TNTC : Trắc nghiệm tiêu chí
10. TNTL : Trắc nghiệm tự luận
11. SGK : Sách giáo khoa
12. NXBGD : Nhà xuất bản giáo dục
1.2. Các phương pháp kiểm tra- đánh giá thành quả dạy và học 15
1.2.1. Trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận 16
1.2.2. Hình thức các câu trắc nghiệm khách quan 18
1.2.3. Các dạng trắc nghiệm khách quan 22
1.2.4. Trắc nghiệm tiêu chí nhiều lựa chọn 35
1.3. Đo lường và đánh giá 39
1.3.1. Công cụ đo lường 39
1.3.2. Độ khó của câu trắc nghiệm 40
1.3.3. Đánh giá trong trắc nghiệm tiêu chí 43
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Kim Hường
SVTH: Nguyễn Thị Ngun 5
Kết luận chương 1 45
Chương 2: XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC
NGHIỆM KHÁCH QUAN NHIỀU LỰA CHỌN CHỦ ĐỀ “PHƯƠNG PHÁP
TỌA ĐỘ TRONG MẶT PHẲNG” 46
2.1. Chủ đề “Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng” trong sách giáo khoa
Hình học 10, bộ Nâng cao, NXBGD 2006 50
2.2.1. Cấu trúc và thời lượng 50
2.2.2. Các mục tiêu dạy học chương “Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng” 58
2.2.3. Phân loại câu hỏi 66
2.2.4. Về các câu trắc nghiệm 50
2.2. Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn chương
“phương pháp tọa độ trong mặt phẳng”
2.2.1. Phương trình tổng qt của đường thẳng 53
2.2.2. Phương trình tham số của đường thẳng 62
2.2.3. Khoảng cách và góc 70
KẾT LUẬN CHUNG 119
TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
PHỤ LỤC 122
Giáo án thực nghiệm 122
Phiếu trả lời trắc nghiệm 129
Đề kiểm tra trắc nghiệm 130
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Kim Hường
SVTH: Nguyễn Thị Ngun 7
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
quả về mặt kinh tế; thiếu công bằng trong khâu đánh giá; nạn tiêu cực, gian lận
trong kiểm tra và thi cử; … Vì vậy nhu cầu thực tiễn đòi hỏi cần phải có sự đầu
tư nghiên cứu về lý luận và thực tiễn để tìm kiếm một phương pháp KT-ĐG kết
quả học tập phù hợp với sự đổi mới của quá trình đào tạo.
Vài năm trở lại đây, việc áp dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan
(TNKQ) bắt đầu được quan tâm, xem xét bởi những ưu điểm của phương pháp
này có thể khắc phục được những nhược điểm của phương pháp TNTL và đáp
ứng được yêu cầu đổi mới trong giáo dục. Sơ bộ vài ưu điểm nổi bật của phương
pháp TNKQ như: kiểm tra được nhiều kiến thức hơn nên tránh được tình trạng
“dạy tủ và học tủ”, tiết kiệm được cả thời gian và tiền bạc, đảm bảo chính xác,
khách quan, công bằng vì hạn chế được nạn tiêu cực, gian lận trong thi cử và
trong khâu đánh giá, giảm bớt gánh nặng tâm lý căng thẳng do phải chờ đợi kết
quả vì việc chấm bài thi bằng phương pháp TNKQ rất nhanh. Hơn nữa, việc áp
dụng phương pháp TNKQ phù hợp với xu hướng hội nhập với nền giáo dục trong
khu vực và trên thế giới mà phương pháp TNKQ đã được áp dụng từ rất lâu.
Đang là một sinh viên sư phạm, sẽ là một giáo viên tương lai, việc nghiện
cứu về KT-ĐG thành quả dạy và học bằng hình thức TNKQ là một việc rất cần
thiết, một mặt đáp ứng được chủû trương đổi mới của Bộ GD&ĐT mặt khác còn
phục vụ cho công tác giảng dạy sau này được tốt hơn.
Xuất phát từ những lý do trên, thúc đẩy em chọn đề tài.
“Xây dựng vàsử dụng hệ thống câu hỏi TNKQ để đánh giá thành quả dạy
và học môn Toán ở trường THPT qua chương “Phương pháp toạ độ trong mặt
phẳng”, Hình học 10, nâng cao”. Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Kim Hường
SVTH: Nguyễn Thị Ngun 9
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu việc kiểm tra đánh giá thành quả dạy và học môn toán ở
Thực nghiệm sư phạm : Tiến hành tổ chức dạy thực nghiệm giới thiệu về
một số phương pháp soạn câu trắc nghiệm và tiến hành kiểm tra bằng hình thức
TNKQ.
Phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu và nhận xét, đánh giá kết
quả thực nghiệm.
7. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Về mặt lý luận :
Làm rõ cơ sở lý luận của công tác TK-ĐG thành quả dạy – học và việc
ứng dụng kỹ thuật TNKQ vào KT-ĐG thành quả dạy – học ở trường THPT.
Nghiên cứu về hai loại trắc nghiệm giúp ích cho việc KT-ĐG thành quả
dạy – học : trắc nghiệm chuẩn mực (TNCM) và trắc nghiệm tiêu chí (TNTC),
trên cơ sở so sánh chúng với nhau.
Phân tích mục tiêu dạy – học chương “phương pháp toạ độ trong mặt
phẳng” theo hướng ứng dụng kỹ thuật trắc nghiệm.
- Về mặt thực tiễn:
Thấy được sự khác nhau trong cách soạn thảo các câu trắc nghiệm giữa hai
dạng TNKQ, đó là TNCM và TNTC.
Xây dựng được hệ thống câu hỏi, bài tập TNKQ để KT-ĐG thành quả
dạy– học ở chương “phương pháp toạ độ trong mặt phẳng” và trên hết là góp
phần hoàn thiện phương pháp KT-ĐG thành quả dạy và học nhằm nâng cao chất
lượng dạy và học môn toán ở trường phổ thông.
Kết quả nghiên cứu được dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan
tâm đến lónh vực này. Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Kim Hường
SVTH: Nguyễn Thị Ngun 11
8. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Mở đầu
1.1. Kiểm tra – đánh giá thành quả dạy và học
1.1.1. Lòch sử phát triển kiểm tra - đánh giá
1.1.1.1. Vài nét về khoa học đo lường và đánh giá trong giáo dục và trên
thế giới.
Trên thế giới việc học và thi diễn ra hàng ngàn năm trước đây ( ở Trung
Quốc từ khoảng năm 2000 trước công nguyên), nhưng một khoa học đo lường
trong giáo dục thật sự có thể xem như bắt đầu cách đây chỉ khoảng một thế kỷ. Ở
châu Âu và đặc biệt là Mỹ lónh vực khoa học này phát triển mạnh vào thời kỳ
trước và sau thế chiến thứ hai với những đầu mối quan trọng như trắc nghiệm trí
tuệ Stanjord – Binet xuất bản năm 1916, bộ trắc nghiệm thành quả học tập đầu
tiên Stanjord Achievement Test ra đời năm 1923. Việc chấm trắc nghiệm bằng
máy của IBM năm 1935, việc thành lập National Camuil on Measurement in
Education CNCME vào thập niên 1950 và Educational Testing Services CETS) ra
đời năm 1947, một ngành công nghiệp trắc nghiệm đã hình thành ở Mỹ.
Từ đó đến nay khoa học về đo lường trong tâm lý và giáo dục đã phát
triển liên tục, những phê bình chỉ trích đối với khoa học này cũng xuất hiện
thường xuyên nhưng chúng không đánh đổ được nó mà lại làm cho nó tự điều
chỉnh và phát triển mạnh mẽ hơn.
Có thể điểm qua một số các hoạt động về đo lường đánh giá hiện nay liên
quan đến bậc đại học ở Mỹ và một vài nước khác như sau:
Ở Mỹ, đề tuyển sinh đại học, các trường đại học không tổ chức thi tuyển
mà dựa vào kết quả của thi SAT ( thi hai môn, Anh ngữ và Toán ) và ACT ( thi
bốn môn, ngoài Anh ngữ và Toán còn có đọc hiểu và suy luận khoa học).
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Kim Hường
SVTH: Nguyễn Thị Ngun 13
Ở Nhật Bản, hàng năm trung tâm quốc gia về tuyển sinh đại học ( được
thành lập 1977) tổ chức kỳ thi tuyển chung cho hầu hết các trường đại học công
và tư của Nhật Bản.
nghiệm, chấm thi bằng máy Opscan 7, trong khoảng 60 trường hợp vi phạm kỷ
luật thi do quay cóp thì chỉ có 4 thí sinh từ nhóm trắc nghiệm).
Từ năm 1997 đến nay, các hoạt động đổi mối phương pháp đo lường và
đánh giá trong giáo dục ở các trường đại học lắng xuống. Cho đến mùa thi tuyển
sinh đại học năm 2002, Bộ GD&ĐT mới tổ chức kỳ thi tuyển sinh đại học “3
chung”. Bộ GD&ĐT hứa hẹn sẽ thành lập “Cục khảo thí và Kiểm đònh chất
lượng”, dùng phương pháp TNKQ để làm đề thi tuyển sinh đại học vào mùa thi
2005. Theo đó, tháng 11 năm 2005, Bộ đã tổ chức thi thí điểm ở một số vùng
miền. Tháng 01 năm 2006 đã áp dụng thi thử cho học sinh lớp 12 trên phạm vi
toàn quốc, cùng trong năm kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học và kỳ thi tuyển
sinh đại học Bộ đã áp dụng thi trắc nghiệm cho môn thi ngoại ngữ. Và kỳ thi tốt
nghiệp trung học và tuyển sinh đại học vừa qua (năm 2007) Bộ đã áp dụng thi
trắc nghiệm cho thêm 3 môn vật lý, hoá học và sinh học. Theo lộ trình đến năm
2008 sẽ có thêm các môn toán, lòch sử và đòa lý. Đây là cơ hội phát triển của
khoa học về đo lường trong giáo dục ở nước ta trong thời gian sắp tới.
1.1.2. Khái niệm kiểm tra – đánh giá thành quả dạy - học
Kiểm tra là những hoạt động nhằm thu thập và cung cấp những dữ kiện,
những thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá.
Đánh giá là quá trình hình thành những nhận đònh, phán đoán về kết quả
công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được từ kiểm tra, sau đó đối
chiếu với những mục tiêu đã đề ra từ trước. Từ đó đề xuất những quyết đònh thích
hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công
việc [11,303].
Như vậy, kiểm tra chính là hoạt động cần phải có trước khi đánh giá và
đánh giá là hoạt động tất yếu diễn ra sau khi kiểm tra. Hơn nữa, đánh giá không
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Kim Hường
SVTH: Nguyễn Thị Ngun 15
chỉ đơn thuần là sự ghi nhận thực trạng mà còn là đề xuất những quyết đònh làm
lớp so với tiêu chuẩn đề ra ban đầu, nhưng nó chưa trực tiếp nói lên thực chất
trình độ của HS đó. Có hai cách lượng giá: lượng giá theo chuẩn là so sách trình
độ của học sinh với trình độ trung bình chung của tập hợp (tập thể lớp); còn lượng
giác theo tiêu chí là so sánh trình độ của học sinh với tiêu chí đã đề ra ban
đầu.[5,165]
Đánh giá là bước quyết đònh trong toàn bộ quá trình đánh giá. Đó không
chỉ là việc đưa ra những nhận xét, phán đoán về trình độ của người học trước vấn
đề cần kiểm tra mà còn đề ra những biện pháp để bổ khuyết sai sót hoặc phát
huy kết quả.
Ra quyết đònh là khâu cuối cùng của quá trình đánh giá. Dựa vào những
nhận xét, nhận đònh trong khâu đánh giá mà giáo viên đưa ra những biện pháp
cụ thể giúp học sinh khắc phục thiếu sót hoặc phát huy những mặt mạnh để đạt
kết quả tốt hơn. GV cũng có thể đưa ra những quyết đònh đối với bản thân như
phải thay đổi cách dạy như thế nào…[4,166]
Các kiểu đánh giá thường dùng trong nhà trường :
Đánh giá chuẩn được thiết kế để xác đònh điểm xuất phát của người học,
trước khi học một chủ đề nào đó, giúp cho giáo viên đònh hướng dạy học.
Đánh giá từng phần được thực hiện trong quá trình dạy học một nội dung
nào đó giúp cho giáo viên và học sinh nắm được thông tin ngược về quá trình học
tập, làm căn cứ cho việc điều chỉnh kòp thời hoạt động dạy của thầy và hoạt động
của trò để có thể thực hiện mục tiêu đã đặt ra.
Đánh giá tổng kết được thực hiện sau quá trình dạy học ( tức là sau khi kết
thúc môn học, khóa học,…), hướng vào thành phẩm cuối cùng nhằm hiểu được
mức độ thực hiện mục tiêu và đánh giá tổng quát kết quả học tập của học sinh.
1.1.3. Chức năng kiểm tra – đánh giá thành quả dạy – học.
Trong quá trình dạy – học, tùy vào từng đối tượng, việc KT-ĐG có các
chức năng khác nhau:
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Kim Hường
SVTH: Nguyễn Thị Ngun 17
- Nội dung KT-ĐG phải bám sát với yêu cầu, mức độ của chương trình,
phù hợp với điều kiện dạy học và đối tượng học sinh, tránh những nhận đònh chủ
quan, áp đặt, thiếu căn cứ.
- Phải đảm bảo sự vô tư của người đánh giá, đảm bảo tính trung thực của
người được đánh giá, tránh tình cảm cá nhân, thiên vò, chống quay cóp, gian lận
trong khi kiểm tra.
1.1.4.2. Đảm bảo tính toàn diện
Một bài KT-ĐG có thể nhằm vào một mục tiêu trọng tâm nào đó nhưng
toàn bộ hệ thống đánh giá phải đạt yêu cầu toàn diện, không chỉ về mặt kiến
thức mà cả về kó năng, thái độ, tư duy.
1.1.4.3. Đảo bảo tính hệ thống
Việc KT-ĐG phải được tiến hành có kế hoạch, có hệ thống: đánh giá
thường xuyên, đánh giá sau khi học từng nội dung, đánh giá đònh kỳ, đánh giá
tổng kết cuối khóa học, năm học.
1.1.4.4. Đảm bảo tính công khai
KT-ĐG phải được tiến hành công khai kết quả cũng phải được công bố
công khai trước tập thể để tập thể có thể hiểu biết, học tập lẫn nhau và giúp đỡ
lẫn nhau.
1.1.5. Mục tiêu dạy học - Cơ sở của kiểm tra - đánh giá thành quả dạy học
1.1.5.1. Khái niệm
Một cách ngắn gọn thì mục tiêu dạy học là những gì mà người học cần
phải đạt được sau khi học xong một môn học, một chương, một bài … Nó bao
gồm:
- Hệ thống các kiến thức khoa học và cả phương pháp nhận thức chúng.
- Hệ thống các kó năng, kó xảo.
- Khả năng vận dụng, sáng tạo trong các tình huống hoàn toàn mới.
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Kim Hường
SVTH: Nguyễn Thị Ngun 19
SVTH: Nguyễn Thị Ngun 20
thuộc về lónh vực nhận thức được chia thành các mức độ từ thấp đến cao như sau:
Nhận biết; Thông hiểu; Áp dụng; Phân tích; Tổng hợp và đánh giá. ([6,51] ; [23])
- Nhận biết ( knowledge, mức hiểu): được đònh nghóa là sự nhớ lại các điều
kiện đặc biệt hoặc tổng quát, nhớ lại các phương pháp và quá trình, hoặc nhớ lại
một dạng thức, một cấu trúc, một mô hình mà người học đã có lần gặp trong quá
khứ ởû lớp học, trong sách vở, hoặc ngoài thực tế. Đây là cấp độ thấp nhất của kết
quả học tập trong lónh vực nhận thức. Khi đo mức này, ta chỉ cần yêu cầu học
sinh nhớ lại đúng điều được hỏi đến.
- Thông hiểu (Comprehension, mức hiểu): bao gồm cả nhận biết kiến thức
nhưng ở mức cao hơn trí nhớ. Nó có liên quan đến ý nghóa và các mối liên hệ của
những gì mà học sinh đã biết, đã học. Ở mức nhận thức này, người học không
những có thể nhớ lại và phát biểu lại nguyên dạng vấn đề đã học mà có thể thay
đổi vấn đề đã học sang một dạng khác tương đương nhưng có ý nghóa hơn đối với
người học. Họ phải giải thích được, minh họa được, tóm tắt và viết lại được
những nguyên lý, sự việc theo ngôn ngữ riêng của mình. Đây là mức thấp nhất
của việc thấu hiểu sự vật.
- Áp dụng ( Application, mức vận dụng): được đònh nghóa là khả năng sử
dụng các tài liệu đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới. Nó bao gồm việc ứng
dụng các điều trừu tượng như các qui tắc, phương pháp, khái niệm, các nguyên
lý, đònh luật đã học vào các trường hợp đặc biệt, cụ thể. Khi đo ở mức độ này,
đòi hỏi người học thấu hiểu sự vật cao hơn so với mức độ thông hiểu trên đây.
- Phân tích ( Analysis): được đònh nghóa là khả năng phân chia một tài liệu
ra thành các phần của nó sao cho có thể hiểu được các cấu trúc tổ chức của nó.
Điều đó có thể bao gồm việc chỉ ra đúng các bộ phận, phân tích mối quan hệ
giữa các bộ phận, và nhận biết được các nguyên lý tổ chức được bao hàm. Kết
quả học tập ở đây thể hiện một mức độ trí tuệ cao hơn so với mức hiểu và áp
dụng vì nó đòi hỏi một sự thấu hiểu cả nội dung và hình thái cấu trúc của tài liệu.
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Kim Hường
SVTH: Nguyễn Thị Ngun 22
quyết vấn đề mà câu hỏi nêu ra. Đây là phương pháp KT-ĐG được dùng phổ
biến hiện nay [23].
- Trắc nghiệm khách quan : đề thi thường bao gồm rất nhiều câu hỏi, mỗi
câu hỏi nêu lên vấn đề và những thông tin cần thiết để thí sinh có thể lựa chọn
câu trả lời hoặc cung cấp thêm vài từ để trả lời [23]
Cả hai phương pháp TNKQ và TNTL đều là những phương pháp hữu hiệu
để KT-ĐG thành quả dạy – học. Cần phải khẳng đònh ngay rằng không thể nói
phương pháp nào hoàn toàn tốt hơn. Mỗi phương pháp có các ưu điểm và nhược
điểm nhất đònh. Điều quan trọng là phải kết hợp cả hai loại để hạn chế nhược
điểm và tăng cường ưu điểm của mỗi phương pháp nhằm đạt được hiệu quả tốt
nhất trong việc KT-ĐG thành quả dạy – học.
Bảng so sánh dưới đây cho thấy tùy theo từng vấn đề, ưu thế thuộc về
phương pháp nào : [23].
Ưu thế thuộc về
Yêu cầu
TNKQ TNTL
Đề thi phủ kín được môn học +
Ít may rủi do trúng tủ, trật tủ +
Chấm bài nhanh, ít tốn công sức +
p dụng được công nghệ mới trong việc nâng cao chất
lượng kỳ thi, giúp phân tích kết quả thi
+
Khách quan, hạn chế tiêu cực trong khi thi và khi
chấm thi
+
Ít tốn công ra đề thi +
Cả TNKQ và TNTL đều có thể sử dụng để:
- Đo lường mọi thành quả học tập mà một bài khảo sát viết có thể đo
lường được
- Khảo sát khả năng hiểu và áp dụng các nguyên lý
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Kim Hường
SVTH: Nguyễn Thị Ngun 24
- Khảo sát khả năng suy nghó có phê phán
- Khảo sát khả năng giải quyết các vấn đề mới
- Khảo sát khả năng lựa chọn những sự kiện thích hợp và các nguyên tắc
để phối hợp chúng lại với nhau nhằm giải quyết những vấn đề phức tạp.
- Khuyến kích học tập để nắm vững kiến thức
1.2.2. Hình thức các câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Các câu hỏi trắc nghiệm có thể được đặt dưới nhiều hình thức khác nhau
như : trắc nghiệm đúng-sai, ghép đôi, điền khuyết, trả lời ngắn, nhiều lựa chọn.
Mỗi hình thức đều có ưu điểm và khuyết điểm của nó. Vấn đề đặt ra là phải nắm
vững công dụng của từng loại và biết lựa chọn hình thức câu trắc nghiệm nào
thích hợp cho việc khảo sát khả năng hay kiến thức mà ta dự đònh đo lường, đánh
giá.
1.2.2.1 . Loại cậu hỏi trắc nghiệm đúng – sai
- Cấu trúc : gồm một câu phát biểu và phần người làm bài trả lời bằng
cách lựa chọn : Đúng (Đ) – Sai (S)
- Ưu và nhược điểm :
§ Có thể đạt được nhiều câu hỏi trong một bài trắc nghiệm với thời
gian cho trước; điều này làm tăng tính tin cậy của bài trắc nghiệm nếu như các
câu trắc nghiệm Đ–S được soạn thảo theo đúng quy cách.
§ Trong thời gian ngắn có thể soạn được nhiều câu trắc nghiệm Đ – S
§ Độ may rủi cao (50%) nên dễ khuyến khích sự đoán mò.
1.2.2.2. Loại câu trắc nghiệm ghép đôi
Đây là hình thức câu trắc nghiệm thông dụng và phổ biến nhất hiện nay và
cũng là hình thức mà tôi chọn để sử dụng trong đề tài. Loại câu trắc nghiệm
nhiều lựa chọn sẽ được trình bày kỹ hơn ở mục tiếp theo nhằm phục vụ tốt cho
việc soạn thảo hệ thống câu hỏi TNKQ mà nhiệm vụ của đề tài đề ra.
- Cấu trúc : gồm hai phần : phần gốc và phần lựa chọn.