Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học nhằm nâng cao hứng thú học tập và hiệu quả dạy học Hóa học - Pdf 23

LỜI CẢM ƠN!
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Hóa học trường ĐHSP Hà Nội,
đặc biệt là PGS.TS Trần Trung Ninh đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ em
trong quá trình thực hiện đề tài này.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, tập thể giáo viên và học sinh
trường THPT Hữu Lũng, trường THPT Vân Nham (Lạng Sơn ), các bạn đồng nghiệp
ở các tỉnh khác đã cộng tác nhiệt tình và giúp đỡ em trong thời gian qua.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Th.s Nguyễn Hữu Hiệu đã cộng tác nhiệt tình
và giúp đỡ em trong việc thiết kế phần mềm “Ai là triệu phú Hóa học”.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, tới những người bạn đã cổ vũ động viên
em ngay từ những ngày đầu nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài do hạn chế về thời gian, trình độ
nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy sự đóng góp chỉ bảo nhiệt tình của
thầy, cô và các bạn là món quà quý nhất dành cho em.
Hà Nội, tháng 10 năm 2014. Học viên:Nguyễn Thị Hương
1
DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
CNTT Công nghệ thông tin
CNTT&TT Công nghệ thông tin và truyền thông
DH Dạy học
DHTC Dạy học tích cực
ĐC Đối chứng
ĐHSP Đại học sư phạm
GV Giáo viên
HS Học sinh
NXB Nhà xuất bản
PPDH Phương pháp dạy học
PPDHTC Phương pháp dạy học tích cực

phổ thông hiện nay, việc tổ chức hoạt động dạy học dưới dạng trò chơi cho học
sinh còn rất hạn chế, nếu có tổ chức thì cũng khô khan gây ra sự nhàm chán cho
học sinh và chưa phát huy được vai trò, tác dụng vốn có của nó trong quá trình
dạy học.
Khi dạy học hóa học dưới dạng trò chơi, yếu tố gây hứng thú, kích thích
khả năng tư duy cho HS là một yếu tố hết sức quan trọng, HS có hứng thú học tập
thì hoạt động dạy học đó mới không nhàm chán và có hiệu quả tốt. Trong các
5
hoạt động dạy học, nếu chúng ta kết hợp khéo léo việc đưa kiến thức gắn liền với
một trò chơi học tập, thì sẽ nâng cao hứng thú học tập, phát huy khả năng tự học
và hiệu quả dạy học Hóa học. Trò chơi với tính hấp dẫn tự thân của mình có một
tiềm năng lớn để trở thành một phương tiện dạy học hiệu quả, kích thích tư duy,
hứng thú nhận thức, niềm say mê học tập và tính tích cực sáng tạo của HS.
Đã có nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu các vấn đề về dạy học tích cực,
gây hứng thú học tập cho HS và cũng có nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng
CNTT vào dạy học ở các góc độ khác nhau. Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu việc
dạy học bằng trò chơi nhằm nâng cao hứng thú học tập và hiệu quả dạy học Hóa
học. Đó là lí do chúng tôi lựa chọn vấn đề: “ Thiết kế và sử dụng trò chơi trong
dạy học nhằm nâng cao hứng thú học tập và hiệu quả dạy học Hóa học” để
nghiên cứu và thực hiện.
2. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Một số hoạt động dạy học có sử dụng trò chơi
nhằm nâng cao hứng thú học tập và hiệu quả dạy học Hóa học.
- Khách thể nghiên cứu : Quá trình dạy học hóa học ở trường THPT.
3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu cách thiết kế trò chơi trên phần mềm MS.powerpoint,
phần mềm mô phỏng, và các phần mềm khác. Thiết kế, xây dựng các hoạt động dạy
học dưới dạng các chương trình trò chơi nhằm mục đích nâng cao hứng thú, tính
tích cực học tập của HS góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường
THPT.

- Nghiên cứu các văn bản, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào
tạo có liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu các tài liệu về lý luận dạy học, tâm lý học, giáo dục học và các
7
tài liệu liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu chương trình và sách giáo khoa hoá học THPT.
- Tìm hiểu cách thiết kế trò chơi trên phần mềm MS.Powerpoint, phần mềm
mô phỏng, phần mềm tạo ô chữ Olympia crossword 4.0, cách thiết kế các hoạt
động dạy học dưới dạng trò chơi nhằm gây hứng thú, tích cực hóa hoạt động học
tập của HS.
8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát thái độ tiếp nhận của HS trong giờ DH được thiết kế dưới
dạng trò chơi.
- Thăm dò, trao đổi ý kiến với các GV dạy hoá THPT về nội dung, hình thức
trình bày, số lượng câu hỏi trong các trò chơi của mỗi hoạt động dạy học và cách
sử dụng trò chơi trong quá trình dạy học.
- Thử nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của hoạt động dạy học được
thiết kế bằng các trò chơi để gây hứng thú, rèn luyện tư duy nhanh, phát huy tính
tích cực của HS trong học tập.
8.3. Thống kê toán học để xử lý kết quả thực nghiệm.
Áp dụng những thành tựu mới của Toán Thống kê để xử lý số liệu thử nghiệm.
9. Dàn ý công trình
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng trò chơi trong
dạy học nhằm nâng cao hứng thú học tập và hiệu quả dạy học Hóa học.
Chương 2: Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học nhằm nâng cao
hứng thú học tập và hiệu quả dạy học Hóa học.
Chương 3: Thử nghiệm sư phạm
8

chính bản thân mình. Vì thế ông phủ nhận tính sáng tạo và tính tích cực của trẻ
trong khi chơi. Ph.Phroebel cho rằng, nhà giáo dục chỉ cần phát triển cái vốn có
sẵn của trẻ, ông đề cao vai trò giáo dục của trò chơi trong quá trình phát triển thể
chất, làm vốn ngôn ngữ cũng như phát triển tư duy, trí tưởng tượng của trẻ [24
tr22]. I.B.Bazedov cho rằng, trò chơi là phương tiện dạy học. Theo ông, nếu trên
tiết học, giáo viên sử dụng các phương pháp, biện pháp chơi hoặc tiến hành tiết
học dưới hình thức chơi thì sẽ đáp ứng được nhu cầu và phù hợp với đặc điểm của
người học và tất nhiên hiệu quả tiết học sẽ cao hơn [24 tr25-26]. Vào những năm
30-40-60 của thế kỷ XX, vấn đề sử dụng trò chơi dạy học trên “tiết học” được phản
ánh trong công trình của R.I.Giucovxkaia, VR.Bexpalova, E.I.Udalsova.
R.I.Giucovxkaia đã nâng cao vị thế của dạy học bằng trò chơi. Bà chỉ ra những tiềm
năng và lợi thế của những “tiết học” dưới hình thức trò chơi học tập, coi trò chơi
học tập như là hình thức dạy học, giúp người học lĩnh hội những tri thức mới từ
những ý tưởng đó, Bà đã soạn thảo ra một số “tiết học – trò chơi” và đưa ra một số
yêu cầu khi xây dựng chúng [24 tr30]. Bên cạnh đó, tính tích cực cũng được các
nhà khoa học như: B.P.Exipov, A.M.Machiuskin (Liên Xô); Okon (Balan), Skinner,
Bruner (Mỹ), Xavier, Roegiers (Pháp) nghiên cứu theo các khía cạnh khác nhau.
Thứ nhất, nghiên cứu và xem xét tính tích cực nhận thức của người học trong mối
quan hệ giữa nhận thức và tình cảm, ý chí (A.I.Serbacov, I.F.Kharlamov,
R.A.Nhidamov, V.Okon ) hướng nghiên cứu này đã bổ trợ rất nhiều cho các nhà
giáo dục trong việc tìm kiếm những con đường và điều kiện cần thiết nhằm phát
huy tính tích cực nhận thức của người học. Thứ hai, nghiên cứu về bản chất và cấu
trúc của tính tích cực nhận thức của người lớn và trẻ em, trong đó đặc biệt lưu ý
tới vai trò chủ động và chủ thể trong quá trình nhận thức (B.P.Exipop, LP.Anstova,
Xavier Roegiers, Jean-Marc Denomme, Madedine Roy ) các tác giả này coi tính tích
cực nhận thức là thái độ của chủ thể nhận thức đối với đối tượng nhận thức thông
qua việc huy động các chức năng tâm lý ở mức độ cao nhằm giải quyết những vấn
đề nhận thức.
10
1.1.2. Ở trong nước

trong dạy học nhằm nâng cao hứng thú học tập và hiệu quả dạy học Hóa học”
1.2. Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học hóa học
1.2.1. Đổi mới PPDH- xu hướng chung của thế giới
Đổi mới PPDH đã và đang được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới. Trước
đây, việc dạy học được diễn ra theo mô hình “lấy giáo viên làm trung tâm”, ngày nay
xu hướng mới đang được áp dụng là “dạy học lấy học sinh làm trung tâm”. Phương
pháp dạy học nặng về thuyết trình của thầy dần được thay thế bằng các phương
pháp dạy học tích cực, đề cao tự học của trò dưới sự hướng dẫn, điều phối của giáo
viên. Ngoài ra, hoạt động dạy và học còn được hỗ trợ đắc lực bằng các phương tiện
dạy học hiện đại như máy tính, máy chiếu, băng hình, phần mềm dạy học, …
Các nước trong khu vực Đông Nam Á như Singapo, Malaisia, Thái lan đã
có nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục. Người Singapo có khẩu hiệu
“dạy ít, học nhiều” với tham vọng đưa Singapo trở thành một trong những nước
dẫn đầu về giáo dục và khoa học công nghệ. Các nước phát triển trong tổ chức
OECD (Organisation for Economic Co-operation and Development) đã có một kỳ
thi quốc tế đánh giá trình độ học sinh phổ thông viết tắt là PISA (Programme For
International Student Assessment). Kết quả của ba lần thi gần đây cho thấy Phần
Lan, một nước Bắc Âu, đang có nền giáo dục tốt nhất thế giới. Tương ứng với nền
giáo dục ưu việt, Phần Lan có nền kinh tế cạnh tranh số một trên thế giới. Hàng
trăm đoàn chuyên gia giáo dục của các nước đã đến học tập Phần Lan, trong đó
có nhiều đoàn đến từ Việt Nam.
1.2.2. Định hướng đổi mới PPDH ở Việt Nam
Đại hội Đảng lần thứ VI của Đảng (1986) đã quyết định đưa nước ta vào
một thời kì phát triển mới – đoạn tuyệt với chính sách tập trung, quan liêu, bao
cấp, bước vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đảng ta chọn giáo
dục và đào tạo, khoa học và công nghệ làm “khâu đột phá” của thời kì mới. Đảng
ta khẳng định “sự phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ sẽ quyết
định sự thành bại của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Giáo
12
dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu để chấn hưng đất nước. Sau hơn 20 năm

- Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực (PPDHTC).
- Kết hợp giữa việc tiếp thu và sử dụng có chọn lọc các phương pháp dạy học hiện
đại với việc khai thác những yếu tố tích cực của các phương pháp dạy học truyền
thống.
- Tăng cường sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy học, lưu ý đến ứng dụng của
công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT).
1.3. Dạy học tích cực
1.3.1. Dạy học tích cực - một quan điểm sư phạm
1.3.1.1. Tính tích cực nhận thức
Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người. Con người không chỉ
tiêu thụ những gì sẵn có trong thiên nhiên mà còn chủ động sản xuất ra những
của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, chủ động cải
biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội. Hình thành và phát triển tính tích cực là
một trong các nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con người
năng động, thích ứng và góp phần phát triển xã hội.
Tính tích cực học tập
- Tính tích cực trong hoạt động học tập, về thực chất là tính tích cực nhận
thức và được đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao
trong quá trình chiếm lĩnh tri thức.
- Khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học, quá trình nhận
thức trong học tập không nhằm phát hiện những điều loài người chưa biết đến
mà nhằm lĩnh hội những tri thức loài người đã tích luỹ được. Tuy nhiên, trong
học tập HS cũng “khám phá” ra những hiểu biết mới đối với bản thân dưới sự tổ
chức và hướng dẫn của GV .
- HS sẽ thông hiểu, ghi nhớ những gì đã nắm được qua hoạt động nỗ lực của
chính mình. Nhưng khi đạt tới một trình độ nhất định thì sự học tập tích cực sẽ mang
tính nghiên cứu khoa học và người học cũng có thể tạo ra những tri thức mới cho
khoa học.
14
Những dấu hiệu của tính tích cực học tập

chủ thể hoạt động, tự khám phá những kiến thức mà mình chưa biết. Trong giờ
học HS được tổ chức, động viên tham gia vào các hoạt động học tập qua đó vừa
nắm được kiến thức, kĩ năng mới vừa nắm được phương pháp nhận thức, học
tập. Trong PPDHTC việc tổ chức để HS học được tri thức, kĩ năng, phương pháp
học tập luôn gắn quyện vào nhau theo quá trình học kiến thức - hoạt động đến
biết hoạt động và muốn hoạt động, qua đó mà phát triển nhân cách người lao
động tự chủ, năng động và sáng tạo. Người học - đối tượng của hoạt động “dạy”
đồng thời là chủ thể của hoạt động “học”- được cuốn hút vào các hoạt động học
tập do GV tổ chức và chỉ đạo thông qua đó tự lực khám phá những điều mình
chưa rõ.
- Dạy học có chú trọng rèn luyện kĩ năng, phương pháp và thói quen tự học,
từ đó tạo cho HS hứng thú, lòng ham muốn, khát khao học tập, khơi dậy những
tiềm năng vốn có trong mỗi HS để giúp họ dễ dàng thích ứng với cuộc sống của xã
hội phát triển. PPDHTC xem việc rèn luyện phương pháp học tập không chỉ là một
biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học.
- Dạy học chú trọng đến việc tổ chức các hoạt động học tập của từng HS,
hoạt động hợp tác trong tập thể nhóm, lớp học thông qua tương tác giữa GV với
HS, giữa HS với HS. Bằng sự trao đổi, tranh luận, thể hiện quan điểm của từng cá
nhân, sự đánh giá nhận xét những quan điểm của bạn mà HS nắm được kiến thức,
cách tư duy, sự phối hợp hoạt động trong một tập thể đồng thời qua hoạt động học
tập dưới hình thức các trò chơi HS được thể hiện năng lực nhận thức về môn Hóa
học của chính bản thân. Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo
nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá thể trên con đường chiếm lĩnh kiến thức, kĩ
năng. Thông qua thảo luận, tranh luận ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định
hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới. Bài học vận dụng
được vốn hiểu biết và kinh nghiệm của HS, lớp học sẽ sinh động và kích thích được
sự hứng thú học tập nhờ sự động viên khích lệ của thầy, của bạn. Học hợp tác làm
tăng hiệu quả học tập nhất là khi xuất hiện nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để
16
hoàn thành nhiệm vụ chung. Trong việc học hợp tác tính cách, năng lực của mỗi

và hình thành kĩ năng hoá học, kĩ năng nghiên cứu hoá học.
+ Định hướng điều chỉnh các hoạt động của HS: GV có nhiệm vụ làm
chính xác hóa các khái niệm, kết luận, nhận xét về các hiện tượng, bản chất
của quá trình hoá học mà HS đã tự tìm tòi trong hoạt động học tập của mình
và thông báo thêm một số thông tin có liên quan đến bài học mà HS không thể
tự tìm tòi được qua hoạt động trên lớp. Hoạt động chính của GV ngày nay là
hướng dẫn HS chủ động học tập.
- Thiết kế và thực hiện việc sử dụng các phương tiện trực quan, thí nghiệm hoá
học, hiện tượng thực tế như là nguồn kiến thức để HS tìm tòi, phát hiện những
kiến thức kĩ năng cần nghiên cứu, tiếp thu. Trong quá trình tổ chức, điều khiển
luôn tạo điều kiện để HS được bộc lộ và vận dụng nhiều hơn những kiến thức đã có
của mình để giải quyết các vấn đề học tập và các vấn đề có liên quan đến hoá học
trong đời sống sản xuất.
Đổi mới hoạt động học tập của HS
- Quá trình học tập hoá học không phải là quá trình tiếp nhận một cách
thụ động kiến thức mà chủ yếu là quá trình tự học, tự nhận thức, tự khám phá,
tìm tòi các tri thức hoá học một cách chủ động, tích cực. Đó chính là quá trình tự
phát hiện và giải quyết các vấn đề hay là quá trình tập nghiên cứu khoa học dưới
sự điều khiển của GV. Như vậy trong giờ học, HS được tiến hành các hoạt động
như:
+ Tự phát hiện vấn đề hoặc hiểu được vấn đề, nhiệm vụ do GV nêu ra.
+ Hoạt động cá nhân hoặc hợp tác theo nhóm để tìm tòi phát hiện vấn đề,
giải quyết các vấn đề đặt ra. Tuỳ theo nội dung và nhiệm vụ đặt ra mà HS cần
thực hiện các hoạt động như: dự đoán lý thuyết, làm thí nghiệm, quan sát, mô tả
hiện tượng, giải thích rút ra kết luận hoặc phán đoán, suy luận, đề ra giả thuyết,
trả lời câu hỏi, tìm dữ kiện để khẳng định hoặc bác bỏ giả thuyết đề ra. Nếu
nhiệm vụ đòi hỏi hoạt động nhóm, HS cần chuẩn bị ý kiến, tham gia thảo luận
nhóm rút ra kết luận và báo cáo kết quả hoạt động của cá nhân hoặc nhóm của
18
mình.

hoá học có nhiều phương pháp được sử dụng theo hướng dạy học tích cực như:
sử dụng các PPDH dạy học truyền thống theo hướng tích cực, sử dụng thí nghiệm,
phương tiện dạy học, sử dụng bài tập hoá học, tiếp thu có chọn lọc những
phương pháp dạy học hiện đại như: dạy học kiến tạo, dạy học hợp tác theo nhóm
nhỏ, dạy học tương tác
1.3.1.3.Những nguyên tắc sư phạm cần đảm bảo để nâng cao tính tích
cực nhận thức cho HS
Qua những cơ sở lý luận trên ta nhận thấy muốn nâng cao tính tích cực
nhận thức của HS cần dảm bảo những nguyên tắc sau:
- Việc dạy học phải được tiến hành ở mức độ gắng sức đối với HS. Cần
phải lôi cuốn HS vào hoạt động nhận thức tích cực, kích thích sự ham hiểu biết
của HS, có chú trọng đến năng lực và khả năng của HS sao cho mỗi HS phải huy
động hết mức trí lực của mình. GV không nên làm cho hoạt động học tập trở nên
khó khăn với HS bằng bài tập tình huống khó mà phải tạo cho HS một chướng
ngại nhận thức bằng những bài tập sáng tạo và rèn luyện ý chí nhận thức.
- Việc nắm vững kiến thức lý thuyết phải chiếm ưu thế. Cần giúp HS nắm
vững một cách sâu sắc nội dung lý thuyết, đi sâu vào bản chất của các hiện tượng
và các chất nghiên cứu nhằm lĩnh hội những quan điểm và khái niệm quan trọng
nhất. Nội dung lý thuyết, khái niệm là cơ sở cho tư duy hoạt động trí tuệ.
- Trong quá trình dạy học phải duy trì nhịp độ khẩn trương của việc
nghiên cứu tài liệu, còn những kiến thức đã lĩnh hội sẽ được củng cố khi nghiên
cứu kiến thức mới. Qua thực tế đã chứng minh việc dừng lại lâu để nghiên cứu
một nội dung học tập sẽ chóng làm HS mệt mỏi vì tính chất đơn điệu của nó, nên
khi HS đã hiểu một số vấn đề rồi thì phải chuyển sang nghiên cứu vấn đề khác.
Như vậy hoạt động của HS sẽ được liên tục, không bị nhàm chán.
- Trong dạy học phải tích cực chăm lo sự phát triển trí tuệ của tất cả các đối
tượng HS (khá giỏi, trung bình, yếu kém).
GV điều khiển, chỉ đạo hoạt động trí tuệ của HS theo năng lực của họ làm cho
20
HS tư duy tích cực để vượt qua chướng ngại nhận thức bằng hoạt động tự lực, độc

kháiniệm nền tảng
- Tính tích cực: Có nhiều ý kiến bàn về tính tích cực. Theo quan điểm của
Tâm lýhọc, tính tích cực được biểu đạt bởi những quan niệm khác nhau như:
+ Động lực cá nhân của các cơ thể sống với tư cách là nguồn gốc của mọi
hànhđộng cải cách hay duy trì các mối quan hệ có ý nghĩa sống còn mà chúng
tiến hành vớimôi trường xung quanh.
+ Là đặc điểm chung của cơ thể sống, trong mối tương quan với hoạt
động, TTCđóng vai trò điều kiện của các quá trình hình thành, thực hiện và thay
đổi về loại hìnhcủa hoạt động, nó là thuộc tính quan trọng của mọi sự vận động
nội sinh của hoạtđộng. TTC được đặc trưng bởi sự chi phối mạnh mẽ của các
hành động đang xảy ra,tính đặc thù của trạng thái bên trong của chủ thể cả thời
điểm hành động, tính quy địnhcủa mục đích hành động trong hiện tại, tính siêu
hoàn cảnh (tức là sự vượt quá các giớihạn của mục đích ban đầu), và tính bền
vững tương đối của hành động trong sự tươngquan với mục đích đã thông qua.
Theo tác giả Nguyễn Xuân Thức, TTC phải bao hàm các dấu hiệu sau:
+ Nhu cầu tâm lý hoạt động của con người, tồn tại như một thành tố tâm
lý bên trong, động lực của TTC. Nhu cầu tồn tại khát vọng, nguồn gốc bên trong
của TTC, hoạt động của con người, thể hiện ở sự tự nguyện hoạt động tác động
vào thế giới bên ngoài, nhằm thoả mãn nhu cầu đó.
+ Tính chủ động trong hoạt động đối lập với tính bị động
+ Nói lên kết quả của TTC hoạt động, sự thích ứng tâm lý, sự cải tạo thay
đổi của chủ thể đối với thế giới xung quanh. Dưới góc độ Giáo dục học, TTC được
hiểu là nét tính cách quan trọng trong nhân cách thể hiện ở năng lực làm thay
đổi thực tiễn theo nhu cầu, mục đích của mình trong lao động sản xuất, học tập,
sáng tạo, đấu tranh…Do vậy, TTC cần được định hướng đúng đắn, phải nhằm
22
phục vụ cho mục đích tốt đẹp, cao cả thì hoạt động của con người mới có giá trị
đích thực, mới đem lại lợi ích cho bản thân và cho xã hội.
-Tính tích cực nhận thức: “Là trạng thái hoạt động của người học, đặc trưng
bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực vươn cao trong quá trình nắm

- Cho phép sự tưởng tượng và liên tưởng.
* Các bước tiến hành
1) Người điều phối dẫn nhập vào chủ đề và xác định rõ một vấn đề.
2) Các thành viên đưa ra những ý kiến của mình: trong khi thu thập ý
kiến, không đánh giá, nhận xét. Mục đích là huy động nhiều ý kiến tiếp nối nhau.
3) Kết thúc việc đưa ra ý kiến.
4) Đánh giá:
- Lựa chọn sơ bộ các suy nghĩ, chẳng hạn theo khả năng ứng dụng.
- Có thể ứng dụng trực tiếp.
- Có thể ứng dụng nhưng cần nghiên cứu thêm.
- Không có khả năng ứng dụng.
- Đánh giá những ý kiến đó lựa chọn.
- Rút ra kết luận hành động.
* Ứng dụng
- Dùng trong giai đoạn nhập đề vào một chủ đề.
- Tìm các phương án giải quyết vấn đề.
- Thu thập các khả năng lựa chọn và ý nghĩ khác nhau.
* Ưu điểm
- Dễ thực hiện.
- Không tốn kém.
- Sử dụng được hiệu ứng cộng hưởng, huy động tối đa trí tuệ của tập thể.
- Huy động được nhiều ý kiến.
- Tạo cơ hội cho tất cả thành viên tham gia.
24
* Nhược điểm
- Có thể đi lạc đề, tản mạn.
- Có thể mất thời gian nhiều trong việc chọn các ý kiến thích hợp.
- Có thể có một số HS “quá tích cực”, số khác thụ động. Kỹ thuật động não
được áp dụng phổ biến và nguời ta xây dựng nhiều kỹ thuật khác dựa trên kỹ
thuật này, có thể coi là các dạng khác nhau của kỹ thuật động não.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status