SKKN Đổi mới phương pháp dạy học văn bản truyền thuyết trong chương trình Ngữ văn lớp 6 - Pdf 47

BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1. Lời giới thiệu.
Năm học 2002 – 2003 Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định thực hiện cải
cách giáo dục, do vậy việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa được triển
khai đại trà bắt đầu từ lớp 6 đến nay vẫn tiếp tục được thực hiện.
Đối với môn Ngữ văn việc đổi mới được thực hiện dựa trên nguyên tắc tích
hợp 3 phân môn Văn, Tiếng Việt và Tập làm văn. Có nghĩa là 3 phân môn được
biên soạn trong một quyển sách với cơ cấu theo từng bài có đầy đủ cả 3 phần
Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn. Cấu trúc đó cho thấy sự nhấn mạnh những điểm
đồng quy về kiến thức, kĩ năng giữa 3 phân môn để thực hiện quan điểm tích
hợp trong tổ chức nội dung dạy học và xác định phương pháp dạy học cho từng
bài. Yếu tố đồng quy này chính là ngôn ngữ trong văn bản của mỗi bài học.
Để đảm bảo nguyên tắc tích hợp, việc xây dựng chương trình lấy kiểu văn
bản làm cơ sở, sách giáo khoa Ngữ văn từ lớp 6 đến lớp 9 đưa vào 6 kiểu văn
bản khác nhau chứ không xây dựng chương trình theo tiến trình lịch sử văn học
như trước. Song việc đổi mới vẫn không phủ nhận vai trò của những bài dạy tác
phẩm văn học của phân môn Văn.
Phần văn bản là tiết mở đầu của một tuần học (4 tiết) với lớp 6, 7, 8 và (5 tiết)
với lớp 9 để định hướng nội dung tích hợp 3 phân môn trong bài. Tuy vậy phân
môn văn học theo tinh thần tích hợp như trên vẫn phải đảm bảo đúng đặc trưng,
phải dạy đúng phương pháp của từng thể loại.
Về mặt phương pháp ta thấy việc xây dựng sách giáo khoa Ngữ văn THCS
theo nguyên tắc tích hợp kết hợp với đổi mới phương pháp dạy học nên học sinh
được học với tinh thần tự học sáng tạo: từ chỗ làm quen, tập dượt, làm theo đến
tự phát hiện, khám phá, sáng tạo dưới sự chỉ đạo hướng dẫn của giáo viên. Giáo
viên cần loại bỏ hoàn toàn phương pháp dạy học cũ tức là làm cho học sinh thụ
động, bắt chước, hoặc dập khuôn theo mẫu sẵn có. Việc dạy học theo phương
pháp mới phải đạt được đến đích là: “ Học để biết học để suy nghĩ, rèn luyện trí
thông minh và tối đa hóa việc chuyển tải kiến thức. ” Cụ thể, học qua hành, tăng
cường cho học sinh thực hành giao tiếp và luyện tập ngôn ngữ bằng nhiều hình

lớp 6
- Đối tượng: Học sinh lớp 6.
4. Ngày sang kiến áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:
5. Mô tả bản chất của sáng kiến:
5. 1. Về nội dung của sáng kiến:
5. 1. 1. Về thực trạng nghiên cứu.
Trong những năm vừa qua đội ngũ giáo viên dạy văn nói riêng đã được trang bị
nhiều phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực đã mang lại hiệu quả tốt. Mặc dù vậy
vẫn còn những hạn chế trong cách vận dụng phương pháp từ đội ngũ.
Bản thân tôi qua nghiên cứu tìm hiểu về truyện dân gian và những kinh
nghiệm tích lũy được trong một số năm giảng dạy môn Ngữ văn 6 theo phương
pháp đổi mới, tôi đã rút ra cho mình được một số bài học quý báu khi giảng dạy
truyện truyền thuyết trong sách giáo khoa Ngữ văn 6 theo phương pháp đổi mới
đạt kết quả tốt.
Từ những kinh nghiệm của bản thân xin được trao đổi với các thầy cô,
mong là sẽ giúp ích được cho các thầy, cô giáo; đặc biệt là các thầy cô dạy môn
Ngữ văn ở bậc THCS trong nhà trường và các trường bạn trong huyện và các huyện
lân cận.
Để đổi mới phương pháp dạy học văn bản truyền thuyết thì trước hết người
giáo viên phải nắm vững: thời điểm ra đời, khái niệm, đặc trưng thể loại truyền
thuyết …mà chúng ta sẽ đi nghiên cứu ở mục : “Nội dung nghiên cứu” để từ
đó có những giải pháp mới hữu hiệu trong công tác giảng dạy của mình.
5. 1. 2. Về nội dung nghiên cứu.
2


*Nghiên cứu chung về truyện truyền thuyết
+Thời điểm ra đời của truyền thuyết
- Truyền thuyết Việt Nam ra đời và phát triển trong thời đại anh hùng Việt
Nam, thời đại mà những yếu tố xã hội – lịch sử của nó mang đặc trưng chung

Tóm lại: Thời đại truyền thuyết: Đó là bước tiến vọt từ đồ đá sang đồ
đồng- sắt, từ hái lượm săn bắt sang trồng trọt lúa nước và định cư nông nghiệp,
từ lối sống thô sơ đến sự ra đời của “nghề khéo” và “của ngon vật lạ”, từ mẫu
hệ sang phụ quyền, từ bộ lạc sang liên minh bộ tộc và nhà nước phôi thai, tóm
lại từ dã man sang văn minh, ở trên vùng châu thổ sông Hồng . . Và nếu như
thần thoại ra đời từ nhu cầu nhận thức của người nguyên thuỷ thì truyền thuyết
ra đời từ nhu cầu tôn vinh, nhu cầu được tự hào về những chiến công vĩ đại cả
về làm ăn, cả về chiến đấu của con người thời đại anh hùng.
3


+ Khái niệm về truyền thuyết
- Từ điển Tiếng Việt (H. 1992. Tr. 1034): “Truyền thuyết là truyện dân gian
truyền miệng về các nhân vật và sự kiện có liên quan về lịch sử, thường mang
yếu tố thần kì. ”
- Từ điển thuật ngữ văn học (GD. 1996. Tr. 249): “Truyền thuyết là một thể
loại truyện dân gian mà chức năng chủ yếu là phản ánh và lí giải các nhân vật và
sự kiện lịch sử có ảnh hưởng quan trọng đến một thời kì, một bộ tộc, một dân
tộc, một quốc gia hay một địa phương”.
+Những biểu hiện của truyền thuyết: Ở Việt Nam, truyền thuyết hình
thành từ thời Hùng Vương dựng nước và phát triển liên tục qua các giai đoạn
lịch sử của dân tộc. Truyền thuyết Việt Nam thường tồn tại theo chuỗi:
- Họ Hồng Bàng và thời kỳ Văn Lang: mang tính chất sử thi, phản ánh
không khí anh hùng ca thời Hùng Vương dựng nước và trình độ khá văn minh
của người Văn Lang. Các truyền thuyết tiêu biểu của thời kỳ này là Lạc Long
Quân- Âu Cơ, Sơn Tinh- Thủy Tinh, Thánh Gióng, Bánh chưng- bánh giầy,
Thánh Hùng Linh Công, Hùng Vương thứ sáu, Hùng Vương thứ mười tám. . .
- Thời kỳ Âu Lạc và Bắc thuộc: Nước Âu Lạc của An Dương Vương
tồn tại khoảng 50 năm (257 TCN- 208 TCN). Thời kỳ Bắc thuộc hơn 10 thế kỷ
(207 TCN- 938) là thời kỳ bị xâm lược và chiến đấu giành độc lập của dân tộc

- Truyền thuyết thời Văn Lang - Âu Lạc:
Những anh hùng dựng nước như: Lạc Long Quân - Âu Cơ, Hùng Vương ,
Sơn Tinh. Truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ phản ánh quá trình liên minh
bộ lạc của những người vùng núi và vùng sông nước, miền xuôi và miền ngược,
của những người thờ vật tổ là rắn và bộ lạc thờ chim làm vật tổ. Đó là mối dây
liên kết đầu tiên, là tiền đề để hình thành dân tộc Việt. Tiếp sau đó, những chiến
công diệt Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh của Lạc Long Quân thể hiện quá trình
chinh phục thiên nhiên, mở mang bờ cõi của ông cha ta (vùng biển, vùng đầm
lầy và vùng rừng núi).
+ Truyện Hùng Vương chọn đất đóng đô, Thành Phong Châu, Con Voi bất
nghĩa, Vua Hùng dạy dân trồng lúa, Vua Hùng đi săn …đề cao hình tượng
Vua Hùng là người có công dựng nước, biết cách trị nước giúp dân.
+ Hình tượng những người con trai, con gái, con rể cùng góp công dựng
nước, mở mang bãi bờ, cai trị dân chúng: Con gái Tiên Dung, con rể Chử
Đồng Tử dạy dân làm ăn, mở mang bờ cõi; con gái Ngọc Hoa, con rể Sơn Tinh
dạy dân trồng lúa, dệt vải, hát múa… Đặc biệt Sơn Tinh đã lập nên chiến công to
lớn, chiến thắng lực lượng tự nhiên để mở mang địa bàn sinh tụ.
Những sự kiện đó là quá khứ vẻ vang gắn với niềm tự hào về nòi giống và
dân tộc, đề cao ý thức về dòng dõi, nguồn gốc “con Lạc cháu Hồng” cao quý.
Dễ dàng nhận thấy chủ đề xuyên suốt các truyền thuyết này là suy tôn các vua
Hùng và ca ngợi công lao dựng nước, an dân của các vị trong suốt buổi bình
minh của lịch sử dân tộc.
Những anh hùng giữ nước: Thánh Gióng, An Dương Vương…Họ là những
người có lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần tự hào dân tộc sâu sắc, có khí phách
hiên ngang, kiên cường, bất khuất, vừa anh dũng vừa mưu trí, có tài dẹp giặc chỉ
trong nháy mắt. Bên cạnh sức khoẻ vô song, những nhân vật này lập được chiến
công nhờ sự phù trợ của các vật thiêng: An Dương Vương có nỏ thần, được sứ
Thanh Giang giúp sức, Thánh Gióng có ngựa sắt, roi sắt… Nhưng những vật
thiêng này không hàm chứa năng lượng của tự nhiên như trong thần thoại mà nó
là kết tinh của sức mạnh tập thể. Thánh Gióng được sự giúp sức của người thợ

thật. Những anh hùng đẹp một cách toàn diện, kì vĩ phi thường về tướng mạo và
tài năng. Nhân vật thường được gắn với những nguồn gốc cao quý, sự ra đời kì
lạ hoặc có một “điểm tướng tinh nào đó”: Hai Bà Trưng là cháu ngoại vua Hùng;
Đinh Thị Phật Nguyệt theo Hai Bà Trưng đánh giặc, lập nhiều chiến công, vốn
trước kia mẹ của nàng mơ thấy có vị thần xưng là Triều Đò Đài ban cho bà chiếc
kim thoa mà sinh hạ nàng. Sau này, khi đánh nhau với giặc Đông Hán, chống đỡ
không nổi, nàng một mình chạy đến bờ sông, có phù kiều nổi lên đón nàng biến
mất…
- Nhưng những cá nhân anh hùng này gắn bó mật thiết với tập thể và đặt
quyền lợi của dân tộc, quốc gia lên trên hết: Bà Trưng đặt nợ nước lên trên thù
nhà, hành động đầu tiên của bà trước khi lên đường diệt giặc cứu nước là cởi bỏ
khăn tang để ba quân khỏi xúc động về cái chết của chồng bà; nàng Xuân
Nương dẫu đang có mang đứa con đầu lòng vẫn thắt khăn, quấn bụng oai dũng
ra trận tiền trả thù cho nước nhà, cho người chồng yêu quý…
- Ở giai đoạn này, môtíp sức mạnh đó được biến thành môtíp truyền sức
mạnh. Không chỉ có người anh hùng xông pha giữa trận tiền mà còn có nhiều cá
nhân anh hùng khác, nhiều người con kiên cường khác, cũng dũng cảm như thế,
cũng vô song như thế, như cùng một bầu mẹ mà ra. Do đó, xuất hiện những
truyền thuyết như Nàng Vú Thúng, Truyện Nàng trăm sắc, Truyện bà áo the,

6


Truyện may áo chồng bằng hơi thở ấm… Như vậy, người anh hùng vừa đại diện
cho tập thể, vừa hoà tan vào tập thể.
Truyền thuyết thời phong kiến tự chủ
- Thời phong kiến độc lập, truyền thuyết tập trung ca ngợi các nhân vật giữ
yên đất nước trong thời kỳ độc lập: Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Dương
Vân Nga… đến những anh hùng chống ngoại xâm Lý Thường Kiệt, Trần Hưng
Đạo, Lê Lợi, Lê Lai… Tất cả nêu lên ý chí giữ gìn độc lập và tinh thần quyết

chết tên chủ khảo trường thi nhưng lại lấy vợ lẽ của hắn…
Nhân vật trong truyện truyền thuyết bao gồm cả người và thần. Nhiều vị
thần đó được nhân hóa: vị thì sinh ra người (Lạc Long Quân, Âu Cơ), vị thì do
con người sinh ra (Thánh Gióng), vị thì lấy con người (Sơn Tinh)…
Sự kiện trong truyền thuyết là sự kiện lịch sử hoặc có liên quan đến lịch sử.
7


Các yếu tố nghệ thuật thường chứa nhiều yếu tố hoang đường, kì ảo.
Những chi tiết được nhân dân “chắp đôi cánh của sức tưởng tượng” đó, đã tụ
điểm cho hiện thực, thay đổi hiện thực cho phù hợp với quan niệm và lí tưởng
của dân gian.
5. 2. Xây dựng giải pháp áp dụng vào quá trình dạy học.
5. 2. 1. Công việc chuẩn bị cho hoạt động
* Phần việc của thầy
Nhằm thực hiện được nguyên tắc chung đồng thời cũng là nhiệm vụ trọng
tâm của đổi mới chương trình và sách giáo khoa ngữ văn 6: giáo viên – học sinh
thực hiện phương pháp tích cực hoá hoạt động của người học, trong đó giáo viên
đóng vai trò là người tổ chức hoạt động của học sinh, mỗi học sinh đều được
hoạt động , đều được bộc lộ mình và phát triển, tôi luôn đề cao công việc của
người thầy là thiết kế giáo án, dự kiến phương pháp, biện pháp, hình thức tổ
chức dạy- học. Nó tạo ra vị thế chủ động,tự tin cho người thầy.
Tôi bắt đầu cho mình từ việc xác định mục tiêu cần đặt ra cho tiết học về
nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức. Những kiến thức cần huy động phục
vụ cho nội dung của bài và tích hợp với các kiểu thức khác hay kiến thức thuộc
bộ môn khác, hệ thống câu hỏi với từng cấp độ, dạng loại, số lượng: các phương
tiện dạy học, tư liệu tranh ảnh, băng hình, các hoạt động bổ trợ sau tiết học.
Ví dụ: Khi soạn bài “Con Rồng cháu Tiên”– Truyền thuyết về các vua
Hùng , tôi đã chuẩn bị đọc kĩ tư liệu :
- Hướng dẫn học văn học dân gian ( dùng cho học sinh lớp 6) Nhà xuất bản

Giáo viên hướng dẫn học sinh trả lời và thảo luận các câu hỏi và bài tập
trắc nghiệm và định hướng phân tích theo ba nội dung:
a- Nguồn gốc kì lạ, lớn lao đẹp đẽ.
b- Sự nghiệp mở nước.
c- Ý nghĩa của truyền thuyết.
Hoạt động 4:
Hướng dẫn học sinh học phần ghi nhớ.
Hoạt động 5:
Hướng dẫn học sinh thực hiện phần luyện tập ở lớp và ở nhà, hoạt động bổ
trợ hay ngoại khoá. .
+ Dự kiến phương pháp: Qui nạp.
+ Hình thức thảo luận nhóm tiến hành ở việc cảm thụ chi tiết kì ảo hoang
đường tiêu biểu: Âu Cơ sinh bọc trăm trứng.
* Phần việc của trò
Song song với sự chuẩn bị về phía thầy, tôi chuẩn bị những câu hỏi gợi ý,
bài tập cụ thể yêu cầu học sinh chuẩn bị cho tiết học.
Ví dụ: + Bước 1: Yêu cầu đọc:
Đọc lướt lần 1 để thành thạo mặt chữ.
Đọc lần hai, đọc chậm để nắm nội dung, bố cục truyện.
Đọc lần ba, xử lí thông tin (làm miệng).
+ Xác định các nhân vật trong truyện: nhân vật chính là ai?
+ Các sự việc mở đầu – phát triển- kết thúc truyện là gì?
+ Ý nghĩa của truyện.
+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật, chi tiết cốt truyện .
9


+ Bước 2; Yêu cầu trả lời câu hỏi ở phần đọc- hiểu văn bản của sách giáo khoa.
Điều thuận lợi cho việc chuẩn bị của trò là Bộ Giáo dục biên soạn sách bài
tập, vở bài tập ngữ văn 6 rất cụ thể, nhiều dạng bài chia nhỏ các chi tiết các câu

-Mục đích của việc chia con .
d- Theo truyện này người Việt Nam là con cháu của: …
Bài tập 3 (Thuộc dạng bài trắc nghiệm thông qua việc phát hiện và cảm
nhận văn bản)
Em hiểu thế nào là chi tiết tưởng tượng, kì ảo? Hãy nói rõ vai trò của chi
tiết này trong truyện?
Đưa ra các ý kiến yêu cầu đánh dấu đúng sai.
Bài tập 4 (Thuộc dạng bài thảo luận):
10


Ý nghĩa của truyện. Hãy đọc thêm phần “Đọc thêm” trong sách giáo khoa
để hiểu đầy đủ hơn ý nghĩa đó:
- Ý nghĩa của truyện về nguồn gốc dân tộc
- Ý nghĩa của truyện về tinh thần đoàn kết, thống nhất dân tộc.
* Bài tập bổ trợ
Bài tập 1: Em biết truyện nào của các dân tộc khác ở Việt Nam cũng giải
thích nguồn gốc dân tộc tương tự như truyện “Con Rồng cháu Tiên”? Sự giống
nhau ấy khẳng định điều gì?
- Về nhân vật?
- Về cốt truyện, sự kiện?
Bài tập 2: Hãy kể diễn cảm truyện “Con Rồng cháu Tiên”.
- Những chi tiết chính cần kể theo trình tự trước sau.
- Kinh nghiệm của tôi là tận dụng hết hệ thống bài tập chi tiết, khoa học lô
gíc này, gợi ý cho học sinh phương án giải quyết. Đặc biệt bài khó như bài luyện
tập (1,2).
- Ngoài ra tôi bổ sung thêm một yêu cầu: Học sinh nắm vững khái niệm về
truyền thuyết vì đây là bài mở đầu cho chuỗi tác phẩm tiếp theo nên nó được
khai thác có hiệu quả thì việc tích hợp với tiếng việt, tập làm văn ở các tiết sau
mới thuận lợi.

+ Cuộc thi tài 8 phút
+ Lang Liêu được nối ngôi và tập tục làm bánh chưng, bánh giầy (3 phút).
- 2 phút học sinh đọc ghi nhớ- nhắc lại- giáo viên chốt lại kiến thức.
- 4 phút luyện tập củng cố kiến thức cuối giờ (vì một số bài luyện tập đã
lồng vào những phần trước).
- 3 phút hướng dẫn về nhà.
5. 2. 3. Phát huy hiệu quả của từng hoạt động bằng hệ thống câu hỏi, bài tập
và hìmh thức học tập kích thích sức sáng tạo của học sinh
- Trước hết đòi hỏi tính sáng tạo ở trò thì thầy cũng phải sáng tạo. Điều đó
được biểu hiện ở những tìm tòi sáng tạo ở thầy cho kiến thức bài giảng, những
hình thức tổ chức bài giảng, những hình thức tổ chức hoạt động mới mẻ để duy
trì hứng thú ở trò và hệ thống câu hỏi, bài tập chứa đựng những tình huống có
vấn đề giúp các em bị cuốn hút vào bài giảng, được tranh luận, bộc lộ chính
kiến, nghĩa là tự chiếm lĩnh lấy tác phẩm.
- Chẳng hạn nếu thảo luận nhóm, tiết nào cũng chỉ một hình thức các nhóm
chụm đầu vào nhau bàn bạc, nhóm trưởng thay mặt nhóm lên trình bày, học sinh
cũng thấy chán vì nó lặp đi lặp lại đơn điệu mà đặc điểm của học sinh là ham
thích cái mới. Nên người thầy cần tạo ra nhiều con đường mới (ở tất cả các hoạt
động) dẫn học sinh đến tri thức.
* Đa dạng hình thức học tập bằng các dạng bài tập, phương tiện học tập
- Đơn cử như hoạt động khởi động, dẫn học sinh vào bài mới “Bánh
chưng, bánh giầy” tôi cho các em quan sát, xem bức tranh vẽ nền văn minh lúa
nước (Chụp từ ảnh bảo tàng Hùng Vương). Cảnh nhân dân ta trở lá dong, gạo,
xay đỗ, gói bánh chưng bánh giầy. Cho các em tưởng tượng không khí xuân về,
tết đến nhân dân ta, con cháu của vua Hùng từ miền ngược đến miền xuôi nô
nức chuẩn bị gói bánh tế trời đất, tổ tiên. Để giới thiệu các em phong tục từ xa
xưa của nhân dân ta truyền thuyết “Bánh chưng bánh giầy”.
- Nhưng đến truyền thuyết “Thánh Gióng” tôi tiến hành khởi động dưới
hình thức câu đố yêu cầu các nhóm thảo luận giải đố nhanh bí mật ghi câu trả lời
vào phiếu học tập nộp cho cô giáo (Đây cũng là một hình thức hoạt động tập thể

nghĩa sẽ tiết kiệm được thời gian cho công việc trọng tâm là phân tích tác phẩm.
Ví dụ 1: Em hãy giải nghĩa của từ bằng việc điền vào ô trống các từ tương
ứng với nghĩa của chúng:
( Nghĩa cho trước)
( Nghĩa cho trước)
( Nghĩa cho trước)
Ví dụ 2: Đánh mũi tên thích hợp nối từ với nghĩa của từ:
13


Nghĩa của từ.
Nghĩa của từ.
(Giáo viên điền từ, điền nghĩa theo hướng thẳng hay chéo để học sinh dẫn mũi tên).
Ví dụ 3: Phương pháp bể cá: Học sinh bắt thăm từ và giải nghĩa.
- Các bài tập trắc nghiệm hay tranh luận, thảo luận cũng được tôi linh hoạt
vận dụng ở từng phần hoặc từng đơn vị kiến thức cứ không dồn vào phần luyện
tập cuối bài (Xin đề cập nội dung ở phần dưới).
- Thực tế cho thấy việc làm này giúp học sinh nắm được kiến thức và vận
dụng vào thực hành rất nhanh có hiệu quả, tiết học sẽ nhẹ nhàng.
- Rõ ràng cùng với việc đa dạng hình thức bài tập, bằng các dạng bài tập,
giáo viên sẽ tạo được vô vàn phương tiện dạy học và bổ ích, tiết kiệm, giản đơn,
có hiệu quả và gần gũi với học trò.
* Hệ thống câu hỏi và bài tập chứa đựng các tình huống có vấn đề khơi
gợi trí tưởng tượng liên tưởng của học sinh
- Đòi hỏi này xuất phát từ quan điểm đổi mới. Dạy học bằng phương
pháp nêu vấn đề chúng tôi đã ứng dụng trong những năm trước qua nhiều
chuyên đề và sáng kiến kinh nghiệm đã mang lại hiệu quả thiết thực cho từng bộ môn.
- Vì vậy năm học này, dựa trên cơ sở những bước đi thành công, tôi tiếp
tục vận dụng vào bài dạy tác phẩm truyền thuyết song song với mục tiêu bám sát
đặc trưng cơ bản về thể loại.

kể tóm tắt chi tiết này).
(3): Em thấy việc trao gươm và nhận gươm có gì đặc biệt?
(4): Học sinh thảo luận nhóm và ghi câu trả lời vào phiếu học tập:
- Vì sao tác giả dân gian không để Lê Lợi trực tiếp nhận cả chuôi gươm và
lưỡi gươm cùng một lúc? Cách Long Quân cho mượn gươm có ý nghĩa gì?
(5): Căn cứ vào phần học thêm (Ấn kiếm Tây Sơn- SGK trang 43)
Học sinh đã đọc trước- em có thể thấy rõ hơn tính lặp lại và ý nghĩa của chi
tiết trao gươm thần trong các truyền thuyết Việt Nam như thế nào?
(6): Hãy phân tích sức mạnh kì diệu của gươm thần đối với nghĩa quân
Lam Sơn bằng cách quan sát phim và đối chiếu:
BUỔI ĐẦU

KHI CÓ GƯƠM THẦN

- Thực lực non yếu

- Tung hoành ngang dọc

- Nhiều lần bị thua

- Đánh trần ra mãi.
- Giặc bạt vía kinh hồn không còn một
bóng.

(Học sinh đọc thầm đoạn truyện “Một năm sau” … đến hết)
(7): Khi nào Long Quân cho đòi gươm? Cảnh đòi và trả gươm diễn ra như
thế nào?
(Học sinh tưởng tượng bức tranh minh hoạ trong sách giáo khoa và kể lại
cảnh đòi gươm, trả gươm).
(8): Học sinh tranh luận (phim đèn chiếu).

- Bài 2: Truyền thuyết “Sự tích Hồ Gươm” gợi cho em niềm tự hào gì về
Thăng Long – Hà Nội xưa và nay?
Yêu cầu viết đoạn văn ngắn cảm thụ.
Những bài tập này sẽ được tiếp tục thảo luận và giải đáp ở tiết học bổ trợ.
5. 2. 4. Phát huy vai trò chủ thể sáng tạo của học sinh thông qua các hoạt
động bổ trợ và ngoại khoá
Cùng với các hoạt động chính khoá, tôi nghĩ rằng việc tiến hành có bài
bản, có đầu tư thoả đáng cho các hoạt động bổ trợ và ngoại khoá là một việc
làm hỗ trợ không nhỏ cho các hoạt động dạy và học đạt hiệu quả. Vì thế trong chương
trình dạy học bổ trợ theo đề án học mỗi tuần một buổi ngữ văn như ở trường tôi, ban
giám hiệu, tổ chuyên môn vạch rõ chương trình tiến hành đồng bộ với các tiết chính
khoá. Nội dung bổ trợ nâng cao kĩ năng văn học: Nói, nghe, đọc, viết và có các tiết
hướng dẫn học tập (gợi mở cho các em hướng giải quyết các bài tập khó, bài soạn,
chuẩn bị cho bài mới), xen kẽ các tiết hội vui học tập. Chương trình được tôi bàn bạc,
16


soạn thảo kĩ lưỡng, vạch rõ thời gian thực hiện, nội dung hình thức tổ chức và tập rượt
từng bước cho học sinh trước khi tiến hành.
Chẳng hạn mảng truyền thuyết được soạn thảo nhiều dạng câu hỏi và bài tập.
* Hình thức hái hoa dân chủ, câu hỏi:
- Truyền thuyết là gì? Phân biệt với truyện cổ tích, ngụ ngôn và truyện cười?
(Câu hỏi khắc sâu khái niệm truyền thuyết tạo đà cho các thể loại khác cuả
văn học dân gian sắp học)
- Nét đặc trưng của truyền thuyết là mượn cái áo hoang đường để ca ngợi
cái lõi lịch sử (nhân vật lịch sử)?
- Hãy phân tích những nét đặc trưng đó ở một truyền thuyết mà em đã học?
Cảm thụ một số chi tiết kì ảo, hoang đường (Bọc trăm trứng; Thánh Gióng
lên ba vẫn không biết nói, biết cười, bỗng bật nói khi nghe sứ giả raoThánh Gióng vươn vai thành tráng sĩ, đánh giặc xong bay về trời; Sơn Tinh bốc
từng quả đồi rời từng dãy núi; thần mách bảo Lang Liêu; sự xuất hiện của

nào có một tư duy khoa học, nhạy cảm thì hiệu quả của việc dạy văn chương
mới được khẳng định.
- Qua nghiên cứu về truyện truyền thuyết để xây dựng phương pháp dạy
truyện truyền thuyết theo hướng đổi mới, đảm bảo tinh thần tích hợp và đúng
đặc trưng thể loại. Từ đó giáo viên và học sinh có phương pháp chung khi dạy
và học truyện truyền thuyết nói riêng và truyện dân gian nói chung.
- Qua áp dụng những sáng kiến trên đã giúp cho giáo viên có sự đổi mới
trong phương pháp dạy truyện truyền thuyết, từ đó học sinh có hứng thú học tập,
góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học môn Ngữ văn 6 nói riêng và
môn Ngữ văn trong nhà trường THCS nói chung.
- Đã giúp cho học sinh có hứng thú và yêu thích học môn Ngữ văn đặc biệt
là phân môn văn học, phụ huynh thấy được tầm quan trọng của việc học văn,
bạn bè đồng nghiệp thấy được vai trò tích cực của giáo viên dạy Ngữ văn ở
trường THCS theo phương pháp đổi mới để cùng cố gắng.
6. Những thông tin cần được bảo mật(nếu có): không
7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
7. 1. Đối với giáo viên:
Trước hết phải thay đổi căn bản nhận thức của giáo viên. Nếu trước đây
giáo viên chỉ sử dụng phương pháp truyền thống ,thì hiện nay dạy học theo
phương pháp dạy học tích cực đã và đang được sử dụng ngày càng phổ biến
trong các nhà trường phổ thông. Nhìn chung hiện nay đa số giáo viên đã nhận
thức được tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học.
Người thầy phải:
- Xác định mục tiêu cần đặt ra cho tiết học về nội dung, phương pháp, hình
thức tổ chức. Những kiến thức cần huy động phục vụ cho nội dung của bài và
tích hợp với các kiểu thức khác hay kiến thức thuộc bộ môn khác, hệ thống câu
hỏi với từng cấp độ, dạng loại, số lượng: các phương tiện dạy học, tư liệu tranh
ảnh, băng hình, các hoạt động bổ trợ sau tiết học.
- Đầu tư thiết kế giáo án chú trọng đến từng hoạt động.
- Hệ thống câu hỏi, bài tập, đặt ra các tình huống, khuyến khích học sinh

chính xác ,khoa học và sâu sắc ,giúp các em có hứng thú trong học tập môn Ngữ văn
Trong học kì I năm học 2014- 2015, sau khi áp dụng sang kiến nêu trên
nêu trong giảng dạy, bản thân tôi đã thu được một số kết quả khả quan trong quá
trình dạy phần truyện truyền thuyết. Kết quả như sau:
* Kết quả khảo sát đầu năm khi chưa áp dụng SKKN với tiết dạy cụ thể
ở lớp 6A1 tại trường THCS Yên Phương- Yên Lạc- Vĩnh Phúc:
Môn
Văn
6A1

Giỏi
Tổng số
Số
học sinh
%
lượng
43

5

Khá
Số
lượng

12,5 11

Trung bình

Yếu


học sinh

Giỏi
Số
lượng

43

9

Khá
%

21,8

Số
lượng
23

Trung bình

Yếu

%

Số
lượng

%


8. 2. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
sáng kiến theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân:
- Sáng kiến này khi được triển khai tập huấn cho các giáo viên trong tổ,
được các giáo viên đón nhận,hưởng ứng, đánh giá cao. các giáo viên đều nhận
xét là sáng kiến có thể áp dụng rộng rãi làm tài liệu bồi dưỡng cho học sinh giỏi
môn Ngữ văn.
- Khi áp dụng sáng kiến này vào giảng dạy được các em học sinh tiếp thu
bài một cách hào hứng, các em hiểu bài và nắm vững kiến thức bài học.
9. Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng
Sáng kiến lần đầu. (nếu có)
ST
T
1

Tên tổ chức/ cá nhân
Giáo viên Văn Tổ
KHXH

Địa chỉ
Trường THCS Yên
Phương

Phạm vi/Lĩnh vực áp
dụng sáng kiến
Áp dụng sáng kiến dạy
học sinh đại trà, bồi
dưỡng học sinh giỏi

20


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status