Mục lục Trang
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 2
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ: 2
3. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: 3
4. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: 4
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 4
6. CẤU TRÚC ĐỀ TÀI 4
PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THƠ HAI-CƯ
1.Nguồn gốc và qúa phát triển của thơ hai-cư 5
2. Đặc điểm thơ hai-cư 5
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI ÁP DỤNG ĐỀ TÀI 7
1. Thuận lợi: 7
2. Khó khăn: 8
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐÃ LÀM GIÚP HỌC SINH
HỨNG THÚ KHI TIẾP CẬN THƠ HAI-CƯ TRONG CHƯƠNG
TRÌNH NGỮ VĂN 10 (SGK CƠ BẢN TẬP 1) 10
1- Bước tiền tiếp nhận. 11
1.1. Dặn dò học sinh chuẩn bị bài 11
1.2. Phải am hiểu văn hóa Nhật 11
2- Bước tiếp nhận trên lớp. 13
2.1 Sử dụng phương tiện nghe nhìn. 14
2.2 Định hình, dẫn dắt các bước để học sinh tìm hiểu văn bản 16
2.2.1. Dẫn nhập: 16
2.2.2. Đọc sáng tạo, gợi tìm: 16
2.2.3. Cảm thụ cụ thể tác phẩm thông qua việc cắt nghĩa và 17
hệ thống câu hỏi
2.3. So sánh với các thể thơ gần gũi. 20
2.3.1.Thơ hai-cư và thơ lục bát, thơ tứ tuyệt 20
2.3.2. Thơ hai-cư của Ba-sô và thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du 22
tôi đã mạnh dạn chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm “Một số giải pháp giúp học sinh
chủ động, hứng thú khi tiếp cận thơ hai-cư của Ba-sô trong chương trình ngữ văn
10 cơ bản”
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Nền văn học Nhật Bản nói chung, thơ hai-cư nói riêng cũng được nhiều dịch
giả, giới nghiên cứu và bạn đọc trên thế giới quan tâm, trong đó có Việt Nam. Có thể
nói sự xuất hiện thơ hai cư của Ba-sô trong chương trình văn học nước ngoài ở Phổ
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ Văn năm học 2011 – 2012 Trang 2
thông Việt Nam đã thực sự đánh dấu một bước dài cho chân trụ vững chắc của thơ
hai-cư ở Việt Nam.
Thơ hai-cư được giới thiệu trên một số trang báo của Tài hoa trẻ, Tạp chí Văn
học, Báo Văn học và Tuổi trẻ hay bài viết của các tác giả nổi tiếng ở Việt Nam như:
Nhật Chiêu, Đoàn Lê Giang, Nguyễn Thị Bích Hải
Sách giáo viên và sách giáo khoa Ngữ văn 10 chương trình chuẩn và nâng cao
do GS. Phan Trọng Luận tổng chủ biên, Đoàn Lê Giang biên soạn phần: hướng dẫn
giảng dạy “Thơ hai-cư của Ba-sô” đã không quên tôn vinh “Ba sô là ông tổ của thể
thơ này.”
Trên Tạp chí văn học số 2 năm 2003, thầy Giang từng khẳng định “Nói đến thơ
ca Nhật Bản, người ta nghĩ ngay đến Mat-su-ô Ba-sô/ Tùng Vĩ Ba Tiêu, nhà thơ
lớn nhất mọi thời của xứ sở Phù Tang”. Đồng thời so sánh điểm gần gũi giữa hồn
thơ hai-cư của Ba-sô với những nhà thơ lớn của chúng ta, nhất là với Nguyễn Trãi và
Nguyễn Du.”
Nhà nghiên cứu văn học Nhật Chiêu trên Tạp chí văn học và tuổi trẻ cũng từng
ngợi ca về thể thơ nhỏ bé, dung dị này: “Hai-cư đồng nghĩa với nghệ thuật và đạo.
Với tôi, thơ Hai-cư thật kỳ diệu, bởi lẽ cái tài của nhà thơ không nằm ở việc vẽ
rồng, phụng mà vẽ những sự vật gần gũi, hiện thực mà phải vượt qua hiện thực.”
Những bài viết trên là những tư liệu cần thiết và bổ ích cho giáo viên và học
sinh tìm hiểu và tiếp cận thơ hai-cư.
Trong nhà trường nhiều thầy cô tâm huyết với nghề cũng trăn trở nhiều về thể
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐÃ LÀM GIÚP HỌC SINH CHỦ ĐỘNG,
HỨNG THÚ KHI TIẾP CẬN THƠ HAI-CƯ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ
VĂN 10 CƠ BẢN
PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THƠ HAI-CƯ
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ Văn năm học 2011 – 2012 Trang 4
1.Nguồn gốc và quá trình phát triển của thơ hai-cư:
- Chữ "hai" nghĩa là "bài", "cư" hay “cú” là "câu". Hai cư là bài cú. Đây là loại thơ độc
đáo, rất thịnh hành của Nhật Bản và là loại thơ ngắn nhất trên thế giới.
- Thơ hai-cư bắt nguồn từ thể thơ đoản ca (Tanka) xuất hiện ở thế kỉ III. Đoản ca
(Tanka) gồm 31 âm tiết chia làm hai vế, vế đầu có ba câu 17 âm tiết (5-7-5), vế sau
hai câu 14 âm tiết (7-7). Đoản ca là loại thơ xướng họa. Vế đầu có một người khởi
xướng, vế sau do người khác họa theo, những người sau đó lại nối tiếp như kiểu của
hai người trước, cứ thế mà kéo dài hàng trăm, hàng ngàn câu được gọi là liên ca
(renga).
Loại thơ này phổ biến đầu tiên trong cung đình, nội dung thường mang tính giải
trí, mua vui trào lộng, nhiều khi dung tục tầm thường, về sau được phổ biến trong các
tầng lớp xã hội.
Đến thế kỉ XVII, Mat-su-ô Ba-sô cách tân thể thơ này. Ông rút vế đầu 17 âm
tiết xây dựng thành một bài thơ độc lập mang đậm chất suy tư, trữ tình.
Trong vườn thơ Nhật Bản, thơ hai-cư gắn liền với các tên tuổi tiêu biểu như:
Buson (1716-1784) “thi sĩ của mùa xuân”, là Issa (1762-1826) “nhà thơ của nhân
tình”, là shiki (1867-1902), Onitsura (1660-1738), là Ryokan – “kẻ đại ngu” Đối với
họ sáng tác thơ hai-cư không chỉ là niềm vui mà còn là lối sống.
Hiện nay, Nhật Bản “tiếp tục” phát triển thơ hai-cư.Thơ hai-cư đã tỏa ra thế giới
và trở thành một dòng thơ của thế giới, ảnh hưởng đến thơ ca hiện đại. Thơ ca phương
Tây trong những tìm kiếm và thể nghiệm của mình, đã nhiều lần đi theo phong thái
hai-cư”. Thơ hai-cư được mọi người đón nhận nồng nhiệt. Người ta dịch thơ hai-cư từ
tiếng Nhật, rồi nghiên cứu, khám phá những gì mà linh hồn thơ hai-cư chất chứa. Giới
huyền, cái mềm mại, nhẹ nhàng. Thiên nhiên trong thơ hai-cư thường là những cảnh
vật bình dị, nhỏ bé, tầm thường và dễ bị lãng quên như chú ếch, con quạ, chú khỉ nhỏ
bé, chim đỗ quyên, tiếng ve, đóa hoa dại nở bên bờ suối, hòn đá…và hai-cư cố gắng
tìm cái đẹp từ trong cái bình thường ấy.
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ Văn năm học 2011 – 2012 Trang 6
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI ÁP DỤNG ĐỀ TÀI:
1.Thuận lợi:
- Hai-cư là thể thơ dung dị, nhỏ xinh, ngôn từ hàm súc với nhiều vẻ đẹp lấp lánh. Đọc
thơ hai-cư ta như chạm được cái đẹp không lời, có khả năng khơi gợi ở người đọc
nhiều liên tưởng, cảm xúc. Những điều ấy sẽ kích thích cái khát khao khám phá của cả
thầy và trò về thể thơ đặc biệt này.
Ví dụ:
Trăng mùa hè
chiếu lên sóng không bụi
dòng Sông Trong.
(Đoàn Lê Giang dịch thơ)
Đấy là hình ảnh dòng thác, hay dòng Sông Trong trong sạch không bụi, lấp lánh
sóng bạc khi trăng mùa hạ chiếu lên trông thật nguyên sơ, thanh sạch. Một bức tranh
tuyệt đẹp của dòng sông lấp lánh dưới trăng mùa hạ.
- Thơ hai-cư lần đầu tiên được đưa giảng dạy vào chương trình ngữ văn THPT và
trong số hàng trăm bài thơ của Ba-sô, tác giả sách giáo khoa đã lựa chọn 8 bài có tính
nhân văn, tính thẩm mĩ cao, có tác dụng lớn trong bồi đắp tư tưởng và tình cảm cho
học sinh để các em có ý thức vươn tới hoàn thiện nhân cách cho mình. Hai-cư còn là
tác phẩm có giá trị nghệ thuật, đạt trình độ mẫu mực được viết ra bởi tài nghệ bậc thầy
của thi hào Ba-sô nên tạo điều kiện cho giáo viên dạy tốt, học sinh hứng thú học hơn.
Ví dụ:
Chim đỗ quyên hót
ở Kinh đô
mà nhớ Kinh đô.
Kawazu tobikomu
Mizu no oto
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ Văn năm học 2011 – 2012 Trang 8
( Ao cũ
Con ếch nhảy vào
Vang tiếng nước xao.)
- Tính chất ước lệ của các hình thức biểu hiện cũng khiến cho học sinh gặp nhiều trở
ngại. Cũng có khi đó là nguyên nhân dẫn đến việc học sinh không thể phát hiện và
khẳng định giá trị của những bài thơ hai-cư. Thậm chí còn hiểu sai về chúng.
Ví dụ: Hình ảnh làn sương thu trong bài thơ số 3 mơ hồ, đa nghĩa. Đó có thể là
hình ảnh gợi nỗi buồn trống trải; tóc mẹ bạc như sương, giọt lệ như sương….
- Tư liệu tham khảo cho giáo viên, học sinh về thơ hai-cư cho giáo viên, học sinh
thiếu nhiều, từ đó có xảy ra tình trạng giáo viên dạy chay, học sinh học chay, giáo
viên mải miết thuyết trình, học sinh thì cắm cổ ghi chép bài giảng khó sinh động,
không gây được những ấn tượng thẩm mỹ tốt đẹp cho học sinh. Đây còn là một tác
phẩm trước đây thuộc phần đọc thêm, lại được sắp xếp cuối chương trình kì 1 nên
nhiều giáo viên và học sinh chủ quan.
- Khi giảng chùm bài thơ hai-cư trao đổi với một số giáo viên, chúng tôi thấy không ít
giáo viên lúng túng, tự bản thân còn chưa biết dạy như thế nào cho phù hợp, vì thế khi
truyền đạt tới học sinh chắc chắn không thể tránh khỏi sự khiên cưỡng.
- Về phía học sinh thì thụ động, không hiểu bản chất, chiều sâu, vẻ đẹp lấp lánh của
thơ hai-cư. Vì các em quen với kiểu tư duy trực quan sinh động nên khi tìm hiểu thơ
hai-cư vốn hàm súc, cô đọng, phải vận dụng trí tưởng tượng phong phú, cùng vốn
sống linh hoạt thì mới có thể cảm thụ được cái hay cái đẹp của bài thơ thì khó khăn
trên là không thể tránh khỏi. Nhiều giáo viên sau khi dạy xong hỏi lại học thì nhiều
em vẫn không hiểu gì hoặc hiểu một cách lơ mơ. Đặc biệt là những học sinh dân tộc
thiểu số tại chỗ
Trong năm học trước tôi đã khảo sát 2 lớp học sinh có điểm trung bình môn văn
tương đương với năm học này bằng hình thức phát phiếu trắc nghiệm để học sinh bộc
S
%
Năm học
2010-2011
10a5 43 0 0% 5 19 19
10a6 42 0 0% 3 16 23
Từ kết quả nói trên chúng tôi nhận thấy rằng:
+ Phần lớn học sinh có thái độ bình thường và không thích học thơ hai-cư, còn số học
sinh thích học chiếm tỷ lệ thấp hơn nhiều.
+ Sự hiểu biết của học sinh về các tác giả cũng như các tác phẩm còn rất hạn chế.
+ Khả năng tiếp thu và cảm nhận tác phẩm mơ hồ, hời hợt. Số lượng học sinh đạt mức
độ giỏi không có, khá rất ít, trong khi đó trung bình và yếu kém chiếm đa số.
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐÃ LÀM GIÚP HỌC SINH CHỦ ĐỘNG,
HỨNG THÚ KHI TIẾP CẬN THƠ HAI-CƯ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ
VĂN 10 (SGK CƠ BẢN TẬP 1)
1. Bước tiền tiếp nhận: Đây là công việc quan trọng, vì thời gian phân phối không
nhiều vì vậy để chuẩn bị cho học sinh “tâm thế” vững vàng khi bước vào khâu tiếp
nhận chính trên lớp thì cả giáo viên và học sinh cần làm một số việc sau:
1.1. Dặn dò học sinh chuẩn bị bài học một cách chi tiết, cụ thể, đầy đủ và cẩn thận
theo hướng dẫn học bài SGK. Lưu ý phần dặn dò này được thực hiện ở tiết trước,
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ Văn năm học 2011 – 2012 Trang 10
trước khi học văn bản. Kết thúc tiết học hôm trước, giáo viên nên dành thời gian
khoảng 3 phút cho phần hướng dẫn và dặn dò này.
1.2. Phải am hiểu sâu sắc văn hóa Nhật Bản
Sự hiểu biết về tác giả, về thời đại, về đất nước đã sản sinh ra tác phẩm và những đặc
sắc về thiên nhiên, về tập tục xã hội, nhất là về tâm lý dân tộc sẽ giúp ta hiểu và cảm
tác phẩm một cách sâu sắc, có căn cứ. Với thơ hai-cư, trước hết giáo viên và học sinh
phải am hiểu văn hóa Nhật Bản. Đây là công việc khá vất vả song không khó bởi
cảm nhận được nhưng không phân tích được. Ba-sô cảm nghiệm cái sabi của sự vật
như sau:
Ôi tiếng ve kêu
thấu xuyên vào đá
trong cõi quạnh hiu.
Niềm cô tịch của thiên nhiên được thể hiện qua âm thanh của tiếng ve. Tiếng ve làm
xuyên thủng không gian, thời gian và đến tận cõi hư vô. Ta cảm nhận được cái u
huyền sâu thẳm của tiếng ve mà không thể giải thích hết thành lời. Và từ cái nhìn sâu
thẳm của một sự vật huyền diệu nào đó trong khoảnh khắc, khiến cho tâm ta xao
xuyến ngất ngây, khát khao hòa nhập, đem tâm ta chìm đắm vào thế giới lãng đãng,
mênh mang, u huyền.
- Wabi (bình dị) là cách thể hiện cái đẹp trong sự bình dị. Giữa cảnh vật xung quanh
ta như một cành lá, một bông hoa trong lọ, một hòn đá trơ trọi xù xì, một thân cây
khô, một cành lá héo, người ta có thể tìm thấy sự sống và cái đẹp ở trong đó. Nhà thơ
hai phải biết chọn lọc, mô tả những sự vật đơn sơ, bình dị, tránh sự chói lọi rực rỡ,
làm sao gây ấn tượng để người đọc thả được hồn mình vào đó, nhà thơ hai-cư còn
phải biết lựa chọn sự vật đơn sơ, giản dị, ít chữ mà đủ ý, tránh lời hoa mĩ, phù phiếm,
khoa trương. Tính chất đó bắt nguồn từ lí tưởng thẩm mĩ của người phương Đông cho
rằng trong cái xấu vẫn có cái đẹp, trong cái ác vẫn có cái thiện, trong cái nhỏ bé vẫn
có cái lớn lao.
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ Văn năm học 2011 – 2012 Trang 12
- Aware (bi) tức là nỗi buồn của sự vật, là bi cảm, một cảm thức xao xuyến trước mọi
cái đẹp của sự vật. Nó chịu ảnh hưởng tư tưởng "vô thường" của Phật giáo. Aware còn
là cảm thức thâm trầm trước cái đẹp não lòng của sự vật vì sự vật nào cũng vậy có lúc
rực rỡ, cũng có lúc tàn phai. Aware mang màu sắc lãng mạn và chú trọng khoảnh
khắc. Nhưng khoảnh khắc ấy làm nên xúc cảm thẩm mỹ chớ không phải là "cái bi lụy
ngông cuồng của lãng mạn hay nỗi bi tráng ngất trời của bi kịch". Bài thơ sau của
Basho là một ví dụ:
Tiếng ve mải mê
Hay dạy bài thơ số 3- một bài thơ rất cảm động về tình mẫu tử, ta có thể sử dụng hình
ảnh dưới đây và có thể kết hợp với việc trình bạy lời bình của các em.
( Nỗi đau khôn xiết khi không còn mẹ)
Hay khi bình, phân tích bài số 6 ta có thể lồng hình ảnh này:
( Hoa anh đào rụng xuống hồ Bi oa)
Cách gây ấn tượng bằng hình ảnh sinh động, kết hợp với âm nhạc và giọng đọc diễn
cảm đã có tác động toàn diện đến tri giác, cảm xúc, tư duy và tâm hồn người học. Và
do đó cùng với sự gợi ý phân tích của giáo viên học sinh cảm nhận bài học sâu sắc
hơn.
2.2. Định hình, dẫn dắt các bước để học sinh tìm hiểu văn bản:
Thơ hai-cư là loại thơ cực ngắn, ngắn nhất so với các loại thơ ngắn khác trên
thế giới. Vì nó cực ngắn cho nên ngôn ngữ trong thơ hai-cư được tinh lọc trở thành tín
hiệu ngôn ngữ. Do đó, người đọc phải suy ngẫm, liên tưởng, đào sâu suy nghĩ qua
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ Văn năm học 2011 – 2012 Trang 15
tầng lớp nghĩa được tiềm ẩn trong bài thơ. Giáo viên phải khai thác tác phẩm theo các
bước sau:
2.2.1 Dẫn nhập:
Có nhiều cách khác nhau nhưng quan trọng nhất đó là lời vào bài của giáo viên.
Yêu cầu của lời vào bài là ngắn gọn, súc tích, cốt yếu là nêu vài điểm một cách ấn
tượng, xác định rõ ràng đối tượng tiếp nhận cho học sinh. Có hai dạng chủ yếu là lời
vào bài trực tiếp và lời vào bài gián tiếp.
Ví dụ: Nói đến Nhật Bản người ta không chỉ nhớ tới hoa anh đào duyên dáng, tuyệt
đẹp, mà còn cả thơ hai-cư. Thơ hai-cư trở thành tâm hồn người Nhật được cả thế giới
biết đến. Và người thơ hai-cư lên đỉnh cao là thiền sư Ba-sô. Hôm nay chúng ta sẽ tìm
hiểu vẻ đẹp của chùm thơ ấy.
2.2.2. Đọc sáng tạo, gợi tìm:
Muốn thực hiện khâu này trước hết cần phải tìm hiểu về tác giả, tác phẩm và
hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. Đây là cơ sở đầu tiên làm tiền đề cho việc tiếp nhận
những điểm sáng tạo độc đáo của tác phẩm.
Ví dụ 1: Trong bài thơ thứ nhất “ Đất khách mười mùa sương – về thăm quê ngoảnh
lại – Ê đô là cố hương” ta có thể cắt nghĩa các từ “đất khách” là nơi xa lạ, gợi cảm
giác cô đơn lạc lõng. Đi giữa phố đông mà mình cảm thấy lẻ loi vô cùng. Hay , “ mùa
sương” là mùa thu, cái lãng đãng và lạnh lẽo của sương thu gợi bao nỗi buồn đau cho
kẻ li hương. Hoặc “ cố hương” là quê cũ, gắn bó máu thịt như nơi chôn nhau cắt rốn
của mình. Vậy từ “đất khách” chuyển thành “ cố hương” là một quá trình, nó diễn ra
âm thầm trong lòng người. Để rồi người đọc cảm nhận được một tình cảm tha thiết,
chân thành của Ba-sô với miền đất mình từng gắn bó.
Ví dụ 2: Trong bài thơ số 3 “ Lệ trào nóng hổi – tan trên tay tóc mẹ- làn sương thu”có
thể cắt nghĩa hình ảnh “ mớ tóc mẹ”: là hình ảnh của cuộc đời vất vả một nắng hai
sương đang hòa quyện trong dòng nước mắt của con. Hay “làn sương thu” là một hình
ảnh đầy gợi cảm. Đó có thể hiểu là giọt lệ như sương, tóc mẹ như sương hay đời
người như giọt sương ngắn ngủi, vô thường. làn sương thu cứ lơ lửng và bài thơ trở
nên mơ hồ, đa nghĩa.
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ Văn năm học 2011 – 2012 Trang 17
Ví dụ 3: Trong bài thơ số 6 có thể cắt nghĩa hình ảnh ‘hoa anh đào”: hồn hoa của đảo
quốc xứ Phù Tang, có màu hồng phấn, cánh mỏng manh. “Hồ Bi-oa”: một hồ nước
thơ mộng đã trở thành hình ảnh quen thuộc trong thơ Nhật Bản. Bi-oa tức là tì bà, cái
hồ được đặt tên theo hình dáng chiếc đàn. Bài thơ gợi cho người đọc cảm nhận được
một bức tranh thiên nhiên đẹp, tao nhã: Trên mặt hồ bao la, có vô số cánh đào rơi
xuống làm mặt hồ gợn sóng.
*Cảm thụ cụ thể tác phẩm thông qua hệ thống câu hỏi:
Trong giờ giảng dạy tác phẩm văn chương nói chung không phải giáo viên chỉ
đọc và giảng cho học sinh ghi chép mà giữa giáo viên và học sinh cần có sự trao đổi,
đàm luận nhằm tạo ra bầu không khí văn chương và phát huy khả năng tiếp nhận sáng
tạo của học sinh. Để sử dụng câu hỏi trong giảng văn có hiệu quả, phải chú trọng xây
dựng hệ thống câu hỏi
. Câu hỏi phải chú trọng chất văn, vừa đảm bảo tính vừa sức,
thức giảng bình: có thể bình bằng một tứ thơ, hình tượng, điển tích, không gian, thời
gian nghệ thuật mà nhà thơ sử dụng. Sau đây là một số lời bình cụ thể trong chùm thơ
hai-cư.
Ví dụ 1: Bài 3
Mẹ của Ba-sô đã qua đời trước khi ông về quê và di vật còn lại là mớ tóc bạc. Đó
là sự mất mát quá lớn đối với ông vì sau một thời gian dài ông không được gặp mẹ.
Bỗng những giọt nước mắt tràn trên má ông nóng hổi. Những giọt nước mắt của sự
thương tiếc, xót xa ấy vừa thể hiện được nỗi ân hận vì ơn nghĩa sinh thành chưa một
lần báo đáp, vừa nói lên tình cảm thiêng liêng cao cả nhất của Ba-sô dành cho mẹ khi
mẹ không còn nữa: ”Lệ trào nóng hổi - Tan trên tay tóc mẹ - Làn sương thu.” Bài thơ
cũng nhắc nhở mỗi chúng ta cần biết yêu thương, trân trọng tình mẫu tử mà mình
đang có. Tôi xin được mượn lời của phật để mong ước gửi lòng mình gửi đến những
ai đang còn mẹ “ Ai có mẹ xin đừng làm mẹ khóc- Đừng để buồn trên mắt mẹ nghe
chưa”.
Ví dụ 2: Bài 1 có thể bình: Ê-đô, quê hương thứ hai, thuở nào là đất khách, đến khi về
quê, ngoảnh nhìn lại mới thấy Ê-đô thật là quê nhà: ”Đất khách mười mùa sương - về
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ Văn năm học 2011 – 2012 Trang 19
thăm quê ngoảnh lại - Ê-đô là cố hương.” Những lời thơ ấy cho ta liên tưởng đến
những bài thơ viết về tình quê hương tha thiết của Nguyễn Du trong Truyện Kiều
« Đoái trông muôn dặm tử phần
Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa »
2.3. So sánh với các thể thơ gần gũi:
Thơ haikư – loại thơ của văn học nước ngoài cho nên rất cần vận dụng phương
pháp liên hệ so sánh để chỉ ra cái tương đồng và riêng biệt của thể thơ này.
2.3.1.Thơ hai-cư với thơ tuyệt cú của Trung Quốc, lục bát của Việt Nam. Ví dụ
như thơ Đỗ Phủ, Lí Bạch của Trung Quốc hoặc thơ lục bát, thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn
Du ở Việt Nam. Qua so sánh có thể rút ra được những nét tương đồng và dị biệt trên
bình diện văn hóa phương Đông. Từ đó xác định đặc trưng mỗi thể loại, hiểu được tư
duy thẩm mĩ và bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc.
Thơ hai cư Thơ tứ tuyệt Thơ lục bát
Con đường
định hình
Thể thơ 3 dòng 5-7-5
đạt đến đỉnh cao ở thế
kỷ XVII với Ba-sô
nhưng mãi đến cuối thế
kỷ XIX mới được nhà
thơ Shiki định danh
là Hai-cư.
Cái tên "tuyệt cú" đã
được xuất hiện từ đời
Lương (502 - 557)
cách đây 1500 năm.
Ở Việt Nam thể thơ lục bát
có được từ kết quả giao lưu
văn hóa với dân tộc Chăm.
Tên gọi của các thể thơ này
Thể thơ Lục bát được định
danh muộn hơn, khoảng đời
Hậu Lê
Tầm ảnh
hưởng
Thơ Hai-cư lan tỏa xa
rộng đến nhiều nước
trên thế giới
Thơ Tuyệt cú chỉ lan
tỏa đến những nước
đã có thời dùng chữ
Hán và ngôn ngữ đơn
2.3.2. Thơ Ba-sô với thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du:
* Ba-sô và Nguyễn Trãi
- Ba-sô và Nguyễn Trãi đều là những nhà thơ của thiên nhiên. Thơ của hai ông
thể hiện một tình yêu thiên nhiên và một triết lí về thiên nhiên vô cùng sâu sắc.
- Thiên nhiên trong thơ Ba-sô và Nguyễn Trãi vừa có vũ trụ lớn lao: trăng sao,
núi sông, hồ biển vừa có những vật nhỏ bé bình thường: con quạ, con ếch, con cá,
con mực, chấy rận, hoa dã quì và con cò, con vện, rau muống, rau mùng tơi, hoa đào,
hoa xoan Trong mỗi một sinh vật nhỏ bé như vậy, hai thi sĩ đều thấy nó như có linh
hồn, sống bình đẳng và cảm thông được với con người.
* Ba-sô và Nguyễn Du: Ba-sô và Nguyễn Du đều là những thi sĩ của tình yêu thương.
2.4. Thiết kế thể nghiệm:
Việc làm 1 : Giới thiệu bài học: Nhắc đến văn học Nhật bản ta không thể không đề cập
thơ hai-cư, một thể thơ dung dị, nhỏ xinh, gần gũi nhưng có khả năng khơi gợi những
rung cảm sâu xa trong lòng mỗi bạn đọc. Điều càng được thể hiện sâu sắc trong 8 bài
thơ của Ba-sô mà chúng ta sẽ học hôm nay.
Việc làm 2: Tìm hiểu chung về tác giả và tác phẩm:
Câu hỏi 1: Em hãy tóm tắt những nét khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Ba-sô?
(Sau khi học sinh đã trả lời giáo viên trình chiếu những nội dung cơ bản có kết hợp
với hình ảnh Ba-sô kết hợp với những nét đặc trưng của văn hóa Nhật.)
Trả lời:
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ Văn năm học 2011 – 2012 Trang 22
- Mat-su-ô Ba-sô (1644-1694).
- Quê hương: U-ê-nô, xứ I-ga (nay là tỉnh Mi-ê)
- Gia đình: võ sĩ cấp thấp.
- 28 tuổi, ông chuyển đến kinh đô Êđô sinh sống và làm thơ Hai-cư, bút hiệu là Ba-sô
(Ba Tiêu).
- 10 năm cuối đời, ông du hành hầu khắp đất nước.
- Con người: tài hoa, ưa lãng du.
- Ông được đánh giá là bậc thầy về thơ Hai-cư.
• Dòng thứ ba kết lại tứ thơ, mở ra những suy tư cảm xúc cho người đọc
Việc làm 6: Tìm hiểu các bài thơ tiêu biểu nhất theo hướng dẫn giảm tải ( các bài
1,2,3,6)
* Bài 1 và 2:
- Bài 1:
Câu hỏi 1: Ba-sô ghi lại sự thật gì trong cuộc đời của ông?
Trả lời: - Ghi lại sự thực về cuộc đời nhiều biến đổi, lãng du của Ba-sô: quê ở Mi-ê,
lên Ê-đô (Tô-ki-ô) ở được 10 năm rồi trở về thăm quê.
Câu hỏi 2: 10 năm sống ở Ê đô tình cảm của tác giả với miền đất này như thế
nào?
Trả lời: Ông xem Ê đô là “ đất khách” xa lạ, lạc lõng. “Mười mùa sương” qua đi là 10
mùa lạnh lẽo, gợi bao nỗi buồn cho kẻ li hương.
Câu hỏi 3: Sau khi trở về nơi “chôn nhau cắt rốn” của mình, tình cảm của tác giả
với Ê đô như thế nào?
Trả lời: Ê đô trở thành “Cố hương” - quê cũ nơi gắn bó máu thịt.
Bình: Bài thơ ngắn gọn còn là một triết lí sâu sắc trong quy luật tình cảm của con
người. Với bất cứ nơi đâu khi bước chân mình đã qua, dù ngắn hay dài thì chuỗi thời
gian ấy khó vơi trong mỗi chúng ta, một lúc nào đó chợt nhớ mình lại cảm thấy day
dứt xót xa như còn mang một món nợ lớn trong đời.
- Bài 2:
Câu 1: Ba- sô đã ghi lại sự kiện gì trong cuộc đời của mình?
Trả lời: Tô ki ô là nơi nhà thơ gắn bó thời trẻ 10 năm về quê (20 năm) trở lại
kinh đô nghe tiếng chim đỗ quyên hót ông nhớ những kí ức xa xưa.
Câu 2: Quý ngữ của bài thơ thể hiện trong từ nào?
Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ Văn năm học 2011 – 2012 Trang 24
Trả lời: Quý ngữ: chim đỗ quyên mùa hè. Tiếng chim quyên thường cất tiếng kêu
vào đầu mùa hè. Nó thường bắt đầu hót vào lúc chập tối, trong đêm mưa với tiếng kêu
khắc khoải, buồn thê thiết.
Bình:Tứ thơ chất chứa nỗi niềm hoài cổ, ở kinh đô nay mà hồn người chất chứa nỗi