Một số giải pháp giúp học sinh tiếp cận thơ mới trong chương trình Ngữ văn
lớp 11 cơ bản
BẢNG TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Họ tên tác giả: Trần Thị Lương
Đơn vị công tác: Trường THPT Lộc Hưng
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
2. Đối tượng nghiên cứu
3. Phạm vi nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
B. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận của đề tài
2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
3. Nội dung kinh nghiệm:
3.1. Khai thác Tiểu dẫn.
3.2. Đọc văn bản
3.3. Sử dụng thao tác so sánh trong bình giảng
3.4. Đổi mới phương pháp tự học và kiểm tra:
4. Kết quả thực hiện.
5. Đề xuất và kiến nghị.
C. KẾT LUẬN
Trần Thị Lương
1
Một số giải pháp giúp học sinh tiếp cận thơ mới trong chương trình Ngữ văn
lớp 11 cơ bản
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài:
lớp 11 cơ bản
Vậy làm sao để học sinh cảm thụ được thơ mới dễ dàng? Làm sao để mỗi giờ dạy
và học thêm sinh động? Với tinh thần tìm tòi đổi mới phương pháp giảng dạy, tôi
mạnh dạn đưa ra một số biện pháp giúp học sinh tiếp cận thơ mới trong chương trình
Ngữ văn 11, qua một số bài thơ: Vội vàng, Tràng giang, Đây thôn Vĩ dạ. Mà bản thân
nhận thấy đem lại hiệu quả.
2. Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh lớp 11B1, 11B3
- Một số giải pháp giúp học sinh tiếp cận thơ mới trong chương trình ngữ văn lớp
11 cơ bản.
3. Phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài được nghiên cứu thử nghiệm ở lớp 11B1 và lớp 11B3.
- Sách giáo khoa chương trình chuẩn lớp 11.
Ở đây người viết chỉ minh họa qua 3 bài thơ: Vội vàng (Xuân Diệu), Tràng
giang(Huy Cận), Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử).
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Đọc, nghiên cứu tài liệu, tổng hợp để hình thành đơn vị kiến thức.
- Phương pháp kiểm tra.
- Phương pháp so sánh đối chiếu kết quả.
B. NỘI DUNG ĐỀ TÀI:
1. Cơ sở lí luận của đề tài:
So sánh là một thao tác của tư duy. Trong quá trình nhận thức thế giới khách
quan, kĩ năng so sánh bao giờ cũng phát hiện cái mới, cái khác biệt. Đối với việc
phân tích văn chương, so sánh thường hướng vào hai mục đích chính:
- Chỉ ra những nét riêng, nét độc đáo, sáng tạọ; phát hiện những vẻ đẹp văn
chương không lặp lại, những đóng góp cụ thể của nhà văn. Có làm được như vậy thì
sự cảm thụ mới đầy đủ và chu đáo.
Trần Thị Lương
rộng kĩ năng so sánh.
Trần Thị Lương
4
Một số giải pháp giúp học sinh tiếp cận thơ mới trong chương trình Ngữ văn
lớp 11 cơ bản
- Bên cạnh vốn kiến thức là nền tảng, cần có tư duy sắc sảo và trường liên
tưởng nhạy bén.
- Trong khi phân tích, bình giá cần luôn luôn có ý thức so sánh, có nghĩa là so
sánh phải trở thành một “phản xạ” thường trực trong tư duy.
Một số đặc điểm chung của Thơ mới:
Để có cơ sở giảng dạy phần thơ mới, giáo viên đưa ra một số đặc điểm cơ bản
của thơ mới:
Thơ mới là một cuộc cách mạng về hình thức nghệ thuật, giải phóng thơ ca
khỏi những ràng buộc nghiêm ngặt đã trở thành lỗi thời của thơ ca trung đại. Cuộc
cách mạng hình thức đó có nguồn gốc từ cuộc cách mạng tư tưởng, gắn liền với quá
trình giải phóng cái tôi cá nhân khỏi những ràng buộc của con người phận vị, “con
người chức năng trong xã hội luân thường” (Trần Đình Hượu). Nói như Hoài Thanh,
Thơ mới là sản phẩm của “khát vọng thành thật”, nó đặt cái tôi cá nhân và tính chủ
quan vào trung tâm của thơ ca, nó cho phép biểu đạt mọi cung bậc của cảm xúc và
suy tư của cá nhân.. Thơ mới là “Một bước tổng hợp những giá trị văn hóa Đông
Tây, truyền thống và hiện đại” (Phan Cự Đệ).
Thơ mới nhìn từ góc độ nghệ thuật: Như đã trình bày ở trên, Thơ
mới là một cuộc tổng hợp những truyền thống thơ ca phương Đông và phương Tây,
truyền thống và hiện đại. Cuộc tổng hợp đó trước hết là ở trên bình diện hình thức
nghệ thuật. Bước tổng hợp đó diễn ra trên tất cả các cấp độ: ngôn ngữ, thi liệu, thể
loại, tư duy sáng tạo…
hồn được cởi bỏ mọi ràng buộc, chính vì vậy từ góc độ loại hình, Thơ mới thuộc loại
thơ trữ tình, thường lấy thiên nhiên và tình yêu làm đề tài phản ánh, nó đối lập với thơ
ca truyền thống cổ động, thơ ca mang mùa sắc chính luận. Chính vì vậy, yếu tố chi
phối sự vận động của một văn bản thơ là mạch cảm xúc, là đời sống nội tâm của chủ
thể trữ tình.
Nỗi buồn, sắc thái thẩm mỹ chủ đạo của thơ mới: Xuất phát từ
những nguyên nhân có tính lịch sử, văn hóa xã hội, một giai đoạn tan vỡ của các giá
trị, một thế hệ thanh niên đang đang kiếm tìm lí tưởng. Nỗi buồn là một tâm trạng
phổ biến trong toàn bộ thơ mới:
Hôm nay trời nhẹ lên cao
Trần Thị Lương
6
Một số giải pháp giúp học sinh tiếp cận thơ mới trong chương trình Ngữ văn
lớp 11 cơ bản
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn
(Xuân Diệu – Chiều)
Ta trút linh hồn giữa lúc đây
Gió sầu vô hạn nuôi trong cây
Còn em sao chẳng hay gì cả?
Xin để tang em đến vạn ngày
(Hàn Mặc Tử - Trút linh hồn)
Tương tư đôi chốn, tình ngàn dặm
Vạn lý tình sầu lên núi tiếp mây.
(Huy Cận – Vạn lý tình)
đánh giá học sinh. Vì vậy, vận dụng thao tác so sánh, đọc văn bản, kiểm tra đánh giá
học sinh ít nhiều cũng khắc phục được những hạn chế nói trên.
Thực tế học văn của học sinh hiện nay học sinh ít tìm tòi và suy nghĩ, ít so
sánh đối chiếu làm cho thao tác tư duy văn học trở nên cằn cỗi, ít sự nhạy bén, đọc văn
bản không đúng với “cái thần” của văn bản, học sinh không còn ham mê học văn học.
Vận dụng và rèn luyện thao tác so sánh, cách đọc văn bản, thay đổi cách đánh giá kiểm
tra trong giờ giảng văn vừa phát triển tư duy cho học sinh, vừa tạo nên niềm say mê học
văn, vừa củng cố kiến thức đã biết và khắc sâu kiến thức mới .
Mặt khác, đổi mới phương pháp dạy và học hiện nay đã đặt ra vấn đề không
chỉ là phương pháp chung chung mà chính là đi vào các thao tác giảng dạy cụ thể để
đem lại hiệu quả thực sự, không phải chạy theo thành tích mà là đào tạo những con
người có tư duy và năng lực nhạy bén, thông minh. Cho nên vận dụng thao tác so sánh,
đọc văn bản đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá học sinh trong giảng dạy văn học là
một việc làm cần thiết.
3. Nội dung kinh nghiệm:
Một số giải pháp giúp học sinh tiếp cận thơ mới trong chương trình Ngữ văn
lớp 11 cơ bản.
3.1. Khai thác tiểu dẫn:
Phần tiểu dẫn của mỗi văn bản đều góp phần quan trọng để tiếp cận văn bản. Nắm rõ
phần tiểu dẫn như là chiếc chìa khóa mở ra để hiểu được văn bản. Tác phẩm ra đời chịu
sự ảnh hưởng của nhà văn, hoàn cảnh, lịch sử xã hội…những vấn đề đó nó theo suốt quá
trình tìm hiểu văn bản.
Trần Thị Lương
8
Một số giải pháp giúp học sinh tiếp cận thơ mới trong chương trình Ngữ văn
lớp 11 cơ bản
Một số giải pháp giúp học sinh tiếp cận thơ mới trong chương trình Ngữ văn
lớp 11 cơ bản
Dạy học phần tiểu dẫn cần đảm bảo các yêu cầu: đúng kiến thức,
ngắn gọn, trọng tâm, ấn tượng. Một tiết giảng văn trên lớp tương đối ngắn, vậy ở phần
Tiểu dẫn này giáo viên không nhất thiết phải nói lại tất cả những thông tin mà sách giáo
khoa đã cung cấp như: năm sinh năm mất, các hoạt động của tác giả…mà giáo viên nên
đề nghị học sinh xem sách giáo khoa. Giáo viên đi xoáy sâu vào những vấn đề cần thiết
có liên quan đến văn bản. Nên đi sâu vào sự đóng góp, phong cách sáng tác để giúp học
sinh phân biệt với các tác giả khác, đồng thời thấy vị trí của tác giả đó trên thi đàn văn
học. Theo tôi, dạy học phần Tiểu dẫn cần đảm bảo các yêu cầu: đúng kiến thức, ngắn
gọn, trọng tâm, ấn tượng. Căn cứ vào diễn biến của giờ học, giáo viên hướng dẫn học
sinh chiếm lĩnh kiến thức. Hơn thế nữa, giáo viên cùng học trò khơi những rung cảm
đầu tiên. Có như thế các em mới có hứng thú chuyển tiếp vào đọc hiểu văn bản.
Ví dụ: Để khai thác phần Tiểu dẫn trong bài “Vội vàng”, giáo viên tập trung một số nét
cơ bản:
Nét thứ nhất: Xuân Diệu là trí thức Tây học, ảnh hưởng tư tưởng và văn hóa Pháp một
cách có hệ thống trên ghế nhà trường. Mặt khác, do xuất thân từ một gia đình nhà nho
(con ông tú kép) nên ở Xuân Diệu có tiếp thu nền văn hóa truyền thống. Vì thế, ở nhà
thơ có sự kết hợp hai yếu tố cổ điển và hiện đại trong tư tưởng và thẩm mỹ. Tuy nhiên,
ảnh hưởng của tư tưởng phương Tây mạnh hơn.
Nét thứ hai về phong cách sáng tác của Xuân Diệu: Xuân Diệu “nhà thơ mới nhất trong
các nhà thơ mới”(Hoài Thanh); ông đã đem đến cho thơ ca đương thời một sức sống
mới, một nguồn cảm xúc mới, thể hiện quan niệm sống mới mẻ, cùng với những cách
tân nghệ thuật sáng tạo…Để minh chứng cho điều đó, GV không chỉ nhắc lại kiến thức
trong SGK mà cần làm rõ cho HS thấy được qua một số sáng tác của Xuân Diệu, điều
đó không chỉ thể hiện trong bài “Vội vàng”(Giục giã, Xa cách, Đây mùa thu tới…). Như
vậy, HS sẽ dễ dàng thấy được cái mới, tư tưởng của Xuân Diệu. Đồng thời sẽ tạo cảm
tinh tế. Thâm nhập bài thơ là phải qua ngôn ngữ, hình ảnh, nhạc điệu của bài thơ để cảm
thông với tình cảm nhà thơ. Và nói đến thơ trước hết là nói đến cảm xúc hồn nhiên,
trong sáng, dạt dào của nhà thơ. Thơ như cách nói của Lưu Trọng Lư đi vào lòng người
bằng bánh xe của tình cảm.
Để làm được điều đó, đòi hỏi mỗi giáo viên phải thâm nhập tác phẩm nhiều lần. Đối
với học sinh phải đọc trước nhiều lần ở nhà. Phải làm sao khi học sinh tiếp xúc với văn
Trần Thị Lương
11
Một số giải pháp giúp học sinh tiếp cận thơ mới trong chương trình Ngữ văn
lớp 11 cơ bản
bản thơ trữ tình, thì điều đầu tiên là phải đọc đúng tinh thần của nó: thể hiện được tình
cảm của thi nhân. Thủ tướng Phạm Văn Đống đã nói: “Phải làm cho học sinh thấy được
trong bài văn này người ta nói như vậy, nội dung là như vậy nên có cách diễn tả như
vậy, và đó là cái hay phải thấy”. Như vậy, đòi hỏi học sinh phải đọc kĩ ở nhà trước khi
tới lớp. Để tránh trường hợp học sinh không đọc bài ở nhà, khi kiểm tra bài cũ tôi yêu
cầu học sinh trả lời một số câu hỏi liên quan đến bài mới. Ví dụ: Em thấy bài thơ có gì
hay? Nội dung của bài thơ? …Sau đó, tôi sẽ cho điểm các em (7điểm bài cũ, 3 điểm bài
mới). Như vậy đòi hỏi học sinh phải đọc trước ở nhà mới trả lời được câu hỏi và chính
điều đó rèn luyện cho học sinh cách cảm thụ ban đầu khi chuẩn bị bài ở nhà. Tránh
trường hợp, tới giờ giảng mới đọc thì mức cảm thụ của học sinh không cao.
Trước khi giảng bài, tôi yêu cầu một học sinh nhận xét giọng điệu bài thơ, sau đó yêu
cầu học sinh thể hiện qua văn bản. Sau khi học sinh đọc xong, tôi nhận xét cách đọc của
học sinh, sau đó giáo viên đọc lại. Đọc thơ thể hiện được tâm trạng của nhân vật trữ tình
xem như thành công một nữa. Việc đọc truyền cảm ở mức ban đầu giúp cho việc truyền
đạt về nội dung và nghệ thuật bài thơ, nhất là khi bắt gặp những từ ngữ, những câu hay,
những đoạn thơ giàu nhạc điệu, những hình ảnh sâu sắc. Chẳng hạn trong bài “Vội
vàng” (Xuân Diệu), ở 4 câu thơ đầu nhịp thơ gấp, mạnh nhằm thể hiện một ước muốn
nhiệt tình, rộng mở trước cuộc đời. Hiện tượng nhân hóa, nội cảm hóa ngoại cảnh, làm
cho ngoại cảnh nhuốm cảm xúc con người. Điều này khá tiêu biểu trong “Vội vàng” của
Xuân Diệu.
* Điểm thứ nhất có sử dụng thao thác lập luận so sánh khi phân tích câu thơ:
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần
Vẻ đẹp của của tháng giêng mơn mởn, non tơ vừa có màu sắc, có hương vị, có sức
hấp dẫn không thể cưỡng lại được như bờ môi của người thiếu nữ.
- So sánh với văn học trung đại: Trong thơ cũ, nguyên tắc ứng xử của con người với vũ
trụ là “thiên nhân nhất thể” con người an nhiên trong đại ngã mênh mông. Nguyên tắc
ứng xử giữa con người và con người là “quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” con người
an lòng trong khuôn phép muôn đời không đổi khác. Và như một tất yếu, con người
không được phép nhìn nhận thế giới với con mắt riêng tư. Với nhà thơ xưa thiên nhiên
là trung tâm, là ngọn nguồn ban phát các phẩm chất của nó cho con người. Thiên nhiên
Trần Thị Lương
13
Một số giải pháp giúp học sinh tiếp cận thơ mới trong chương trình Ngữ văn
lớp 11 cơ bản
là mẫu mực để hình dung ngoại hình con người. Ví dụ, khi tả chân dung Thúy Vân,
Nguyễn Du viết:
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
- So sánh trong cùng sáng tác của Xuân Diệu:
Xuân Diệu so sánh ngược lại:
…Lá liễu dài như một nét mi…
…Trăng vú mộng của muôn đời thi sĩ…
Gương sáng lầu cao buồn tóc bạc
Sáng như tơ xanh, chiều thành tuyết.
Thời gian chảy trôi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du:
Lần lần ngày gió đêm trăng
Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua
Nhưng những “nước chảy” , “hoa trôi”, “bóng câu qua cửa sổ”…đó là sự cảm thụ mang
tính gián tiếp nặng về cách cảm nhận thế giới mang tính chất kinh nghiệm, nhẹ về cảm
giác. Nó dừng lại ở triết lí nhiều hơn, họ chỉ mới băn khoăn, chưa cảm nhận bằng cảm
giác cá nhân. Từ sự ý thức được giới hạn của tuổi trẻ, Xuân Diệu sống vội vàng, muốn
ngấu nghiến tất cả, nên thi nhân chạy đua từng giây từng phút với thời gian hiện tại:
muốn ôm, muốn riết, muốn thâu, muốn say. Tất cả những trạng thái trên đều diễn tả
trạng thái yêu đương được Xuân Diệu cực tả: “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”.
Rõ ràng, quan niệm sống hiện đại này không chỉ xa lạ với xã hội nông nghiệp cổ truyền
mà còn xa lạ với cả đời sống khắc kỉ phục lễ của Nho gia.
*Điểm thứ ba có thể sử dụng thao tác lập luận so sánh trong bút pháp nghệ thuật của
bài thơ:
So với thơ ca truyền thống, số câu trong bài thơ không hạn định, chịu ảnh hưởng
của thơ phương Tây. Giữa các dòng thơ không còn bị ràng buộc về quan hệ đối, vần,
niêm, luật. Bài thơ đã phá vỡ những niêm luật chặt chẽ của thơ Đường luật: ví dụ lặp lại
từ “và” hoặc “này đây”, “ta muốn”:
Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Trần Thị Lương
15
Một số giải pháp giúp học sinh tiếp cận thơ mới trong chương trình Ngữ văn
lớp 11 cơ bản
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Một số giải pháp giúp học sinh tiếp cận thơ mới trong chương trình Ngữ văn
lớp 11 cơ bản
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
- So sánh với bài “Thu hứng” của Đỗ Phủ:
Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng
Tái thượng phong vân tiếp địa âm
(Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm
Mặt đất mây đùn cửa ải xa)
Hồn đường thi và ý vị cổ điển vang hưởng từ từng câu chữ của bài thơ cổ phong biến
thể và nhất là hiện rõ trong hai câu kết:
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
Như vậy, ý thơ đã gợi rõ nhất sâu nhất nỗi buồn của Huy Cận. Câu thơ gợi tới câu thơ
của Thôi Hiệu thuở xưa nhìn khói sóng mà nhớ quê hương:
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
(Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?)
Câu thơ mang âm hưởng đường thi song ý thơ hiện đại. Chính cảm giác “dợn dợn”
này của chủ thể lãng mạn, chứ không phải nguyên nhân nào khác, đã làm nảy sinh tâm lí
“nhớ nhà”. Xưa Thôi Hiệu buồn vì cõi tiên mờ mịt, quê nhà cách xa. Khói sóng trên
sông gợi lên cảnh mờ mịt và sầu. Nay Huy Cận buồn trước không gian hoang vắng,
sóng gợn tràng giang, không một chút ấm áp của sự sống. Ông nhớ tới nhà, tới quê
hương một nguồn ấm áp của cuộc đời. Xưa Thôi Hiệu tìm viếng giấc mơ tiên, chỉ thấy
hư vô, lòng khát khao tìm về quê nhà thực tại. Nay Huy Cận một mình đối diện với
không gian hoang vắng vô tình, dợn lên nỗi khát khao quê nhà ấm áp. Một đàng nhấn
mạnh ý thức về đời thực, một đàng nhấn mạnh ý thức về tình người.
Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ,
Bất tận trường giang cổn cổn lai.
(Ngàn cây bát ngát, lá rụng xào xạc,
Dòng sông dằng dặc, nước cuồn cuộn trôi)
Trần Thị Lương
18
Một số giải pháp giúp học sinh tiếp cận thơ mới trong chương trình Ngữ văn
lớp 11 cơ bản
Cũng là đối xứng, nhưng Đỗ Phủ viết theo lối đối chọi, còn Huy Cận đã cải biên, chỉ
dùng tương xứng. Cũng dùng những từ láy nguyên để gợi tả, trong khi tác giả “Đăng
cao” đặt giữa câu, thì tác giả “Tràng giang” lại đẩy xuống cuối câu. Nhờ thế hai từ láy
nguyên “điệp điệp”, “song song” tạo ra dư ba. Nghĩa là lời thơ đã ngừng mà ý hướng và
âm hưởng vẫn còn vang vọng như dội mãi vào vô biên. Dòng sông lớn mang trong lòng
một nỗi buồn lớn.
Đây thôn Vĩ Dạ(Hàn Mặc Tử):
* Điểm thứ nhất có thể sử dụng thao tác lập luận so sánh trong khổ thơ đầu:
Bức tranh xứ Huế với vẻ đẹp trinh nguyên vào buổi sáng mai, tràn đầy nhựa sống:
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
- So sánh: Nhà thơ Bích Khê từng ca ngợi không ngớt cảnh thôn Vĩ:
Vĩ Dạ thôn! Vĩ Dạ thôn
Biếc xanh cành trúc không buồn mà say.
Còn với Hàn Mặc Tử, nơi thôn Vĩ Dạ đã từng in dấu của người thương, người để lại
trong lòng thi nhân nhiều đau buồn khắc khoải:
Ngày mai tôi bỏ làm thi sĩ
Em lấy chồng rồi hết ước mơ.
thiên nhiên bao quanh “cái tôi” nhà thơ đang suy nghĩ về đời, về thời thế, về cách ứng
xử với đời sao cho phù hợp để giữ mình:
“Cây lộng gió tây vẳng tiếng đàn
Dạt dào tình khách tiếng bi than
Sân đầy lá úa thu già nửa,
Mưa hắt đèn xanh khắc sắp tàn..”
(Nguyễn Trãi)
Thiên nhiên trong thơ Hàn Mặc Tử không phải là thứ thiên nhiên vay mượn
theo bút pháp ước lệ, tập cổ. Các nhà thơ lãng mạn đã xóa bỏ những thứ thiên nhiên
giả tạo, công thức của thơ trung đại.
Trần Thị Lương
20
Một số giải pháp giúp học sinh tiếp cận thơ mới trong chương trình Ngữ văn
lớp 11 cơ bản
3.4. Đổi mới phương pháp tự học và kiểm tra:
Đổi mới phương pháp tự học và đánh giá: Giáo viên không thể
dạy tốt, nếu học trò lười học và coi thường môn văn. Môn ngữ văn nó dạy cho con
người ta trở thành con người, có văn hóa đích thực và có nhân cách. Thực trạng học
sinh hiện nay, nhìn chung lỗi diến đạt còn kém, viết sai lỗi chính tả, câu viết lủng
củng, kiến thức không nắm vững dẫn tới khi viết bài các em thường “lấy râu ông này
chắp cằm bà kia”.
Trước những vấn đề đó, tôi mạnh dạn đổi mới phương pháp tự học của các em, sau
một thời gian thực hiện, tôi thấy các em có sự tiến bộ rất là rõ.
trong mỗi tiết dạy học sinh rất thoải mái và có hứng thú học bài.
Đổi mới việc kiểm tra đánh giá học sinh:
Bài viết về nhà: phát huy năng lực sáng tạo của học sinh, hạn chế tối đa việc sao
chép các tài liệu tham khảo có sẵn. Một trong những biện pháp hạn chế việc sao chép
mẫu của học sinh là yêu cầu các em lập dàn ý trước khi viết bài, khi nộp bài đồng
thời với nộp dàn ý sẽ tập cho học sinh có thói quen tìm tòi, xây dựng hệ thống lập
luận của riêng mình và hạn chế sự trùng lặp ý tưởng, lời văn rập khuôn theo tài liệu
có sẵn.
Ví dụ: Có hai ý kiến khác nhau đưa ra để tranh luận về bài “Vội vàng” của Xuân
Diệu:
- Bài thơ thể hiện một quan niệm sống tích cực, khẳng định cái tôi khát khao dâng
hiến.
- Bài thơ chỉ là sự cổ động cho lối sống gấp tiêu cực, vị kỉ và hưởng lạc. Anh/ chị tán
thành với quan điểm nào?
Ra đề kiểu như vậy đòi hỏi học sinh phải tư duy, lập luận, tránh trường hợp chép tài liệu
có sẵn.
4. Kết quả thực hiện
Trong quá trình giảng dạy chương trình lớp 11, năm 2010 -2011, tôi đã thực
hiện vận dụng các giải pháp trên nhằm giúp các em học tốt môn Ngữ văn nói chung
và tiếp nhận thơ mới dễ dàng hơn.
Sau khi học xong chương trình thơ mới, giáo viên tổ chức kiểm tra đánh giá
chất lượng qua 1 bài kiểm tra 30 phút ở lớp 11B1 và 11B3, năm học 2010 – 2011.
Trần Thị Lương
22
%
Lớp 11B1
45 40
2
4
20
26
65
14
0
14
35
Lớp 11B3
45 37
2
một kết quả tốt nhất trong bài làm văn của mình.
Trần Thị Lương
23
Mt s gii phỏp giỳp hc sinh tip cn th mi trong chng trỡnh Ng vn
lp 11 c bn
Hỡnh tng vn hc mang hi th ca cuc sng ngi dy vn hc phi cú
hi th y, v bng hi th y m nuụi dng cho tõm hn lp tr ngy thờm kho
khon, cng cỏp. Lm c iu ny, nhng ngi dy vn chỳng ta ó gúp phn
úng gúp xng ỏng l nhng k s tõm hn.
õy l nhng vic lm v nhng kinh nghim bc u. Trong quỏ trỡnh
thc hin, tụi c gng tỡm tũi i mi th nghim trong th tr tỡnh. Tuy nhiờn vi
bn thõn cha tht cú kinh nghim ging dy, chc chn cũn cú nhiu thiu sút. Rt
mong cú s gúp ý b sung rng rói ca ng nghip.
Ngửụứi thửùc hieọn:
Trn Th Lng
Trn Th Lng
24
Một số giải pháp giúp học sinh tiếp cận thơ mới trong chương trình Ngữ văn
lớp 11 cơ bản
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo viên Ngữ văn 11/2, Nxb Giáo dục, 1997.