skkn KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT - Pdf 35

KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT

Sáng kiến kinh nghiệm -------------------------------------------------------------------------- Năm học: 2010 - 2011

MỤC LỤC

Trang
I. Lý do chọn đề tài. ......................................................................................2
II. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu. ...........................................................3
1. Hệ thống văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ văn 10 .....................3
2. Kết quả khảo sát và những nhược điểm còn tồn tại trong dạy và học ........5
III. Nội dung đề tài . ......................................................................................6
1. Cơ sở lý luận . ...........................................................................................6
2. Giải pháp thực hiện . .................................................................................7
2.1. Xuất phát từ đặc trưng phong cách thể loại ............................................7
2.1.1. Khái niệm .........................................................................................7
2.1.2. Chức năng và đặc trưng ....................................................................9
2.1.3. Đặc điểm ........................................................................................13
2.2. Vận dụng lịch sử giai đoạn xuất hiện của tác phẩm để lí giải ...............15
2.3. Bám sát nội dung và hình thức văn bản để triển khai ...........................16
2.4. Gia tăng chất văn học ...........................................................................17
2.5. Sử dụng vai trò tưởng tượng, liên tưởng của học sinh ..........................18
3. Thực hiện: Thiết kế bài học..................................................................... 20
IV. Kết quả ................................................................................................. 33
V. Bài học kinh nghiệm ..............................................................................33
VI. Kết luận ................................................................................................34
VII. Tài liệu tham khảo ...............................................................................36

GV: Nguyễn Quỳnh Anh – THPT Nguyễn Hữu Cảnh ---------------------------------------------------------

-1-


-

Hình thức: thường sử dụng hệ thống lập luận chặt chẽ, nhiều lí lẽ, đa dạng
về phương thức biểu hiện và các phương tiện nghệ thuật.

-

Đặc điểm: khô khan, ít phù hợp với tâm lí và nhận thức của học sinh; ít tính
văn chương, khó đi vào cảm xúc của người đọc; ý tưởng thâm thuý khó nắm
bắt,…

-

Nguồn tư liệu bổ trợ khan hiếm.

GV: Nguyễn Quỳnh Anh – THPT Nguyễn Hữu Cảnh ---------------------------------------------------------

-2-


KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT

Sáng kiến kinh nghiệm -------------------------------------------------------------------------- Năm học: 2010 - 2011

3. Xu thế hội nhập quốc tế hiện nay đang đặt mỗi cá nhân trước nhiều thách thức
mới, nhất là các vấn đề chính trị xã hội. Việc tiếp nhận các văn bản nghị luận
trong nhà trường góp phần không nhỏ trong việc hình thành hệ thống quan
điểm, tư tưởng cho thế hệ trẻ trong việc xử lí các vấn đề đặt ra của cuộc sống
một cách đúng đắn, vừa phù hợp với tinh thần thời đại mới, vừa đảm bảo tinh


bản

Văn

Hiền tài là nguyên khí

hoá

của quốc gia

XH

(Trích Bài kí đề danh tiến sĩ
khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại

Hoàng Đức
Lương

Thân Nhân
Trung

Năm

Trang

Cuối

Tập 2


vật LS

Thái sư Trần Thủ Độ
(Trích Đại Việt sử kí toàn thư)

Ngô Sĩ Liên

Ngô Sĩ Liên

Đọc thêm
Thư dụ Vương Thông lần nữa
Chính

(Trích Quân trung từ mệnh tập)

Tập 2

Trần

tr.41

Nhà Lý

Tập 2

– Trần

tr.46

Tháng


hoá

khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại

XH

Bảo thứ ba) Đọc thêm

Trung

Hoàng Đức

SGK

Tựa “trích diễm thi tập” (trích)

nâng

Lương

1484

1497

Phẩm bình nhân vật lịch sử

cao

(Trích Đại Việt sử kí toàn thư)


Cuối

Tập 2

TK14

tr.53

Nhà Lý

Tập 2

- Trần

tr.62

Nhà

Tập 2

Trần

tr. 65

Hưng Đạo Đại Vương
Trần Quốc Tuấn
(Trích Đại Việt sử kí toàn thư)

Ngô Sĩ Liên

thuộc thể loại khác.
+ 14,99% học sinh trả lời: có thích học nhưng chưa thật sự hiểu.
+ 6,39% học sinh trả lời: không hiểu gì, không thích học.
Kết quả trên cho thấy, phần đa học sinh không thích học văn bản thuộc thể
loại nghị luận. Tuy nhiên, có đến 78,62% học sinh nhận ra ý nghĩa của văn bản
nghị luận, nghĩa là nguyên nhân các em không thích học các văn bản này là do
chưa thực sự hứng thú với giờ học mà thôi.
Từ thực trạng trên, cộng với kinh nghiệm giảng dạy cá nhân, tôi nhận thấy
trong dạy và học văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ Văn lớp 10 còn tồn
tại những nhược điểm sau:
GV: Nguyễn Quỳnh Anh – THPT Nguyễn Hữu Cảnh ---------------------------------------------------------

-5-


KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT

Sáng kiến kinh nghiệm -------------------------------------------------------------------------- Năm học: 2010 - 2011

-

Phía người dạy:
+

Tâm lí: ít hứng thú, chưa coi trọng, giờ dạy ít hào hứng.

+

Cách truyền đạt: chú ý tính nội dung văn bản nhiều hơn tính nghệ thuật, vì
thế, giờ dạy thiên về lí trí hơn việc biểu đạt những xúc cảm thẩm mĩ.

lịch sử, trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Có thể kể từ Chiếu dời đô(1010)
của Lí Công Uẩn (Lí Thái Tổ), Hịch tướng sĩ (1285) của Trần Quốc Tuấn cho
đến Bình Ngô đại cáo (1428) của Nguyễn Trãi; từ bài Tựa Trích diễm thi tập
(1497) của Hoàng Đức Lương, Chiếu cầu hiền (1788) của Ngô Thì Nhậm đến
bản điều trần Xin lập khoa luật (1867) của Nguyễn Trường Tộ; Chiếu Cần
Vương (1885) đến Hịch đánh Pháp sau này…
Có thể nói trong suốt trường kì lịch sử dân tộc, văn nghị luận là một thể
văn phản ánh rõ nhất đời sống tinh thần, tư tưởng, ý chí và khát vọng của cả một

GV: Nguyễn Quỳnh Anh – THPT Nguyễn Hữu Cảnh ---------------------------------------------------------

-6-


KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT

Sáng kiến kinh nghiệm -------------------------------------------------------------------------- Năm học: 2010 - 2011

dân tộc. Do đó, văn nghị luận ngày càng phát triển mạnh mẽ, càng trở nên đa
dạng và phong phú hơn.
Nội dung và cấu trúc của một văn bản nghị luận được hình thành từ các
yếu tố cơ bản là: Vấn đề cần nghị luận (còn gọi là luận đề), luận điểm, luận cứ và
lập luận (còn gọi là luận chứng). Như vậy, do văn nghị luận trình bày tư tưởng và
thuyết phục người đọc chủ yếu bằng lí lẽ và lập luận nên hệ thống các luận điểm
hết sức chặt chẽ và luận cứ cũng phải xác đáng. Cho nên khi dạy loại văn bản
này, người dạy nhất thiết bao giờ cũng phải khai thác hệ thống luận điểm, luận cứ
và cách lập luận của văn bản. Tuy nhiên nếu chỉ đơn thuần khai thác các hệ thống
luận điểm như lâu nay chúng ta vẫn làm thì bài học trở nên khô khan, khó gợi
được hứng thú tích cực cho học sinh. Vì vậy trong khuôn khổ của một sáng kiến
kinh nghiệm nhỏ, tôi xin được đề xuất một số giải pháp mang tính bổ trợ để


- Vạch trần âm mưu xâm lược, lên
án chủ trương cai trị thâm độc, tố
cáo mạnh mẽ những hành động độc
Đại cáo bình Ngô
(Nguyễn Trãi)

Chính trị

ác của giặc Minh.
- Đứng trên quan điểm nhân nghĩa
của nhân dân: lấy dân làm gốc, coi
trọng tư tưởng nhân đạo, nhân bản
cao cả làm nền tảng cho hành động.
- Đau xót trước thực trạng bảo tồn

Tựa “Trích diễm thi
tập”
(Hoàng Đức Lương)

Văn hoá
xã hội

sách vở và thơ ca Việt Nam đương
thời. Từ đó nhận thấy nhu cầu bức
thiết phải biên soạn sách.
- Đứng trên quan điểm của cái đẹp.
- Phải biết quý trọng hiền tài bởi nó

Hiền tài là nguyên

- Ca ngợi người anh hùng tài năng,
trung quân, trọng dân, chính trực,
chân thành, thẳng thắn.
- Ca ngợi người anh hùng trung
thực, thẳng thắn, độ lượng, nghiêm
minh, chí công vô tư.

GV: Nguyễn Quỳnh Anh – THPT Nguyễn Hữu Cảnh ---------------------------------------------------------

-8-


KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT

Sáng kiến kinh nghiệm -------------------------------------------------------------------------- Năm học: 2010 - 2011

2.1.2. Chức năng và đặc trưng:
-

Chức năng:
PC chính luận có ba chức năng: thông báo, tác động và chứng minh. Chính

vì thực hiện các chức năng này mà ta thấy PC ngôn ngữ chính luận có sự thể
hiện đặc trưng và đặc điểm ngôn ngữ có nét giống với các loại phong cách ngôn
ngữ khác.
Ví dụ : Chức năng một số văn bản nghị luận.
Chức năng
Tác phẩm
Thông báo


nước.

cuộc kháng chiến
khó

khăn

(Đại

Việt chính nghĩa).
- Lí do vì sao làm - Thái độ trân - Thu thập sưu
Tựa “Trích diễm
thi tập”

“Trích diễm thi trọng và bảo lưu tầm, thu lượm tác
tập”.

(Hoàng Đức
Lương)

cái đẹp của mỗi phẩm qua các thời
người.

kì lịch sử.

- Quá trình hoàn
thành, nội dung và - Niềm tự hào dân - Tuyển chọn, sắp

GV: Nguyễn Quỳnh Anh – THPT Nguyễn Hữu Cảnh ---------------------------------------------------------


phẩm.

quê quán, tên hiệu
người viết.
- Tên tuổi, địa vị - Lòng cảm phục -

Đưa

người anh hùng và sự ngưỡng mộ chứng cứ về tài
Hưng Đạo Đại

dân tộc.

của mỗi người.

năng

Vương Trần Quốc - Lịch sử người - Tấm lòng với
Tuấn
(Ngô Sĩ Liên)



phẩm

chất, đức độ.

anh hùng dân tộc non sông, tổ quốc, - Dùng các quan
qua các thời kì.



Tính lập luận chặt chẽ: Ðể bày tỏ chính kiến, giải thích, thuyết phục và
động viên mọi người tham gia vào việc giải quyết những vấn đề thời sự
nóng hổi của đất nước, sự diễn đạt ở PC này đòi hỏi có tính chất lập thuyết.

GV: Nguyễn Quỳnh Anh – THPT Nguyễn Hữu Cảnh ---------------------------------------------------------

- 10 -


KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT

Sáng kiến kinh nghiệm -------------------------------------------------------------------------- Năm học: 2010 - 2011

Nghĩa là phải bằng những lí lẽ đúng đắn, có căn cứ vững chắc, dựa trên cơ
sở những luận điểm, luận cứ khoa học mà đấu tranh, thuyết phục, động viên.
Tính lập luận chặt chẽ thể hiện ở việc khai thác những quan hệ chiều sâu
giữa hình thức ngôn ngữ và mục đích biểu đạt. Một văn bản chính luận hay
thường là những văn bản chứa đựng nhiều hàm ý sâu sắc, có sức chinh phục
lòng người, có sức cuốn hút mãnh liệt.
+

Tính truyền cảm: PC ngôn ngữ chính luận có tính truyền cảm mạnh mẽ,
thông qua sự diễn đạt hùng hồn, sinh động, có sức hấp dẫn và đạt hiệu quả
cao, thuyết phục cả bằng lí trí và tình cảm, đạo đức. Ðặc trưng này tạo nên
sự khu biệt giữa PC ngôn ngữ chính luận với PC ngôn ngữ khoa học và
khiến PC này gần với PC ngôn ngữ nghệ thuật. Trong văn bản chính luận,
chúng ta thường bắt gặp các biện pháp tu từ, những từ ngữ có đặc điểm tu từ
cao nhằm gây ấn tượng mạnh mẽ về mặt âm thanh và ý nghĩa.


vui

- Hình tượng kì vĩ
mang tầm vóc vũ

sướng - CM qua thực trụ, đa dạng.

trước chiến thắng tiễn: kẻ thù phi
của ta.

nghĩa (tố cáo tội
ác của giặc), Đại
Việt chính nghĩa
(khởi nghĩa Lam

- Ngôn ngữ: sử
dụng các động từ
mạnh, các tính từ
chỉ mức độ tối đa.

GV: Nguyễn Quỳnh Anh – THPT Nguyễn Hữu Cảnh ---------------------------------------------------------

- 11 -


KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT

Sáng kiến kinh nghiệm -------------------------------------------------------------------------- Năm học: 2010 - 2011

Sơn).

- Khiêm tốn, nhún - Kết quả: đau xót,

(Hoàng Đức

nhường khi nói về tổn thương lòng tự

Lương)

mình.

hào dân tộc dẫn
đến việc sưu tầm,
tuyển chọn, biên
soạn để bảo tồn.

- Cảm phục và - Giới thiệu lai -

Hưng Đạo Đại

hoà

quyện hai yếu tố

sắc đến mức thần

tự sự và nghị luận.

thánh hoá.

- Trình bày các


KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT

Sáng kiến kinh nghiệm -------------------------------------------------------------------------- Năm học: 2010 - 2011

2.1.3. Ðặc điểm:
Ngữ âm: Có ý thức hướng tới chuẩn mực ngữ âm. Khi phát biểu trong hội

-

nghị hoặc diễn thuyết trong mit tinh, ngữ điệu được xem là phương tiện bổ
sung để tăng thêm sức hấp dẫn, lôi cuốn người nghe.
Từ ngữ:

-

+

Ðặc điểm nổi bật nhất là sự có mặt của lớp từ chính trị, thuật ngữ khoa học.
Đây chính là công cụ riêng của PC chính luận. PC chính luận đòi hỏi khi
dùng từ phải luôn luôn tỏ rõ lập trường, quan điểm, chỗ đứng và tình cảm,
thái độ của mình.
Ví dụ:
“Xã tắc từ đây vững bền,
Giang sơn từ đây đổi mới.
Kiền khôn bĩ rồi lại thái,
Nhật nguyệt hối rồi lại minh.
Muôn thuở nền thái bình vững chắc,…”
(Đại cáo bình Ngô - Nguyễn Trãi)


+

Do phải thực hiện chức năng thông báo, chứng minh và tác động nên phong
cách chính luận dùng nhiều kiểu câu khác nhau: câu đơn, câu ghép, câu
tường thuật, câu nghi vấn, câu cảm thán.

+

Câu văn chính luận thường dài, có kết cấu tầng bậc làm cho tư tưởng nêu ra
được xác định chặt chẽ.

+

Ðể nhấn mạnh ý tưởng, gây sự chú ý ở người đọc, PC ngôn ngữ chính luận
sử dụng nhiều lối nói trùng điệp, phép điệp từ, điệp ngữ, các cách so sánh
giàu tính liên tưởng và tương phản để tăng cường độ tập trung thông tin và
hiệu quả bình giá, phán xét.

Ví dụ 1:
“Gươm mài đá, đá núi cũng mòn,
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận sạch không kình ngạc,
Đánh hai trận tan tác chim muông…”
(Đại cáo bình Ngô - Nguyễn Trãi)
Ví dụ 2:
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước
mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp…”
(Hiền tài là nguyên khí của quốc gia – Thân Nhân Trung)
Tóm lại: việc vận dụng đặc điểm thể loại trong việc tiếp cận và giảng dạy
các văn bản nghị luận là phù hợp nhưng đòi hỏi sự linh hoạt và sáng tạo mới tiến

Xã hội
- Triều đại Hồ Quý Ly (1400-1407), Triều đại Hậu
Trần (1407-1413) với các phong trào khởi nghĩa
“Binh áo đỏ” (1410), Lam Sơn (1418).

Đại cáo bình Ngô
(Nguyễn Trãi)

Cuối 1427 - Triều đại Lê Sơ (1428-1527).
- Các nhân vật hào kiệt: Lê Lợi (Lê Thái Tổ), Lê
Lai, Nguyễn Trãi, Lê Văn An, Lê Văn Linh, Lưu
Nhân Chú, Lê Liễu…

Tựa “Trích diễm
thi tập”
(Hoàng Đức

- Triều đại Lê Thánh Tông (1460-1497) có nhiều
1497

Việt, hoạt động sôi nổi trên nhiều lĩnh vực bởi

Lương)
Hiền tài là nguyên

đóng góp vào đời sống mọi mặt của quốc gia Đại

nhiều tài năng: tư tưởng cao siêu, anh minh quyết
1484


(Ngô Sĩ Liên)

Hiến Tông, Dụ Tông, Nghệ Tông, Duệ Tông, Phế
Nhà Trần

Đế, Thuận Tông, Hiếu Đế (1314-1400).
- Ba lần chống quân Mông Nguyên, xuất hiện các
nhân tài: Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn, Trần
Quang Khải, Trần Nhật Duật…

Tóm lại: Hiện tượng văn sử bất phân trong văn học trung đại Việt Nam là
cảm quan trong sáng tác nghệ thuật. Vì vậy, việc hiểu tường tận lịch sử là điều
kiện rất cần thiết để triển khai văn bản.
2.3. Bám sát nội dung và hình thức văn bản để triển khai.
-

Tìm hiểu, nghiên cứu bất cứ tác phẩm văn học nào người giảng dạy cũng
phải tiến hành trực tiếp trên hai phương diện nội dung và hình thức. Đây là
những căn cứ cụ thể và khoa học nhất để người tiếp nhận lĩnh hội tác phẩm.
Dưới góc độ lí luận văn học, nội dung và hình thức là hai phạm trù có mối
quan hệ chặt chẽ, thống nhất không thể tách rời, tác động qua lại, quy định

GV: Nguyễn Quỳnh Anh – THPT Nguyễn Hữu Cảnh ---------------------------------------------------------

- 16 -


KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT

Sáng kiến kinh nghiệm -------------------------------------------------------------------------- Năm học: 2010 - 2011

tiếp nhận, thậm chí có thể hoá thân trong cách ứng xử, cảm quan người tiếp nhận.
2.4. Gia tăng chất “văn học” để giảm bớt tinh chất “lí luận khô khan, giáo
huấn” của các văn bản nghị luận.
“Chất văn học” ở đây nên hiểu là chất nghệ thuật. Mà thực chất của nghệ
thuật là tính trữ tình. Nghệ thuật thường được tạo lập và tác động đến người tiếp
GV: Nguyễn Quỳnh Anh – THPT Nguyễn Hữu Cảnh ---------------------------------------------------------

- 17 -


KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT

Sáng kiến kinh nghiệm -------------------------------------------------------------------------- Năm học: 2010 - 2011

nhận thông qua con đường tình cảm. Tình cảm có thể “chuyển hoá”, “mềm hoá”
mọi vấn đề để người tiếp nhận lĩnh hội một cách tự nguyện như một nhu cầu tinh
thần thực sự. Đây là yêu cầu thiết yếu của giáo viên ngay cả khi dạy những văn
bản nghệ thuật. Vì thế, đòi hỏi người giáo viên Ngữ văn phải có những phẩm
chất, tư chất nghệ thuật thật sự từ sự học tập, rèn luyện thường xuyên mới có
được.
Để “gia tăng chất văn học” cho bài dạy các văn bản nghệ thuật, người dạy
có thể sử dụng nhiều cách: kể chuyện giai thoại, kể chuyện danh nhân, kể chuyện
lịch sử,… một cách lôi cuốn, hấp dẫn, đúng lúc, đúng chỗ, vừa kể vừa kèm theo
những lời bình luận sâu sắc, thấm thía ứng với một khía cạnh nào đó của bài học;
vận dụng những hiểu biết về văn hoá, nghệ thuật mỗi giai đoạn cũng là cách phụ
hoạ cho bài giảng thêm phong phú, sinh động; dùng những bài thơ, câu chuyện
có tính chất triết lí phù hợp với từng chi tiết của văn bản; cùng với giọng văn,
khẩu khí, động tác, cử chỉ, điệu bộ là cách diễn đạt lôi cuốn…luôn luôn khiến bài
giảng trở nên nhẹ nhàng, lan toả mà thấm sâu. (Tất nhiên, cần chú ý tính cân đối
về thời gian quy định cho mỗi bài).

sống xã hội.

+

Liên tưởng mối quan hệ giữa nhân vật và hoàn cảnh, không gian và thời gian
nghệ thuật, các nhân vật với nhau và với hoàn cảnh điển hình.

+

Liên tưởng mối quan hệ giữa các chi tiết, tình huống nghệ thuật, các điểm
sáng thẩm mĩ cùng hoặc ngược chiều,…

+

Tưởng tượng về khả năng phát triển của các hình tượng nghệ thuật trung
tâm.

+

Liên tưởng với các hình ảnh, hình tượng, biểu tượng của tác phẩm khác.

+

Liên tưởng giọng điệu tác giả với thái độ tư tưởng, quan điểm nghệ thuật.

+

Liên tưởng tâm trạng của tác giả khi lựa chọn một chi tiết hay hình ảnh tiêu
biểu của tác phẩm.


3. Thực hiện: thiết kế bài học.
TỰA “TRÍCH DIỄM THI TẬP” – Hoàng Đức Lương
Tiết 63 (Ban cơ bản)
A. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT:
- Hiểu được niềm tự hào sâu sắc và ý thức trách nhiệm của tác giả trong việc
bảo tồn di sản văn học của dân tộc.
- Nắm được nghệ thuật lập luận của tác giả.
B. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG:
1. Kiến thức:
- Ý thức trách nhiệm trong việc bảo tồn di sản văn học của tiền nhân và lời
nhắc nhở các thế hệ sau hãy biết trân trọng và yêu quý di sản văn học của
dân tộc mình.
- Cách lập luận chặt chẽ kết hợp với tính biểu cảm.
2. Kĩ năng:
- Rèn kĩ năng lập luận chặt chẽ để thể hiện quan điểm của người viết một
cách thuyết phục.
C. CHUẨN BỊ CỦA THẦY VÀ TRÒ:
1. Máy chiếu (nếu có).
2. Sưu tầm và ghi lại lời nhận xét về:
-

Tập thơ “Sóng Hồng” với lời nói đầu do chính tác giả viết.

-

Tập thơ “Từ ấy” của Tố Hữu với lời nói đầu “Mấy ý nghĩ” do GS Đặng
Thai Mai viết.

-


-

Giải thích vì sao bài cáo được xem là bản tuyên ngôn độc lập lần thứ
hai trong ls VN?

-

Phân tích cơ sở và nguyên nhân chiến thắng của quân ta được nêu
trong bài cáo?

-

Em hiểu thế nào là “bài tựa”? Kể tên một số bài tựa mà em biết?

3.Bài mới :
 Dẫn nhập bài mới:

Sưu tầm và bảo tồn di sản văn hoá dân tộc là công việc rất quan trọng và
cần thiết nhưng cũng hết sức khó khăn, nhất là thời kì xa xưa và sau chiến tranh.
Là một trí thức đời Lê thế kỉ 15, Hoàng Đức Lương (quê Văn Giang – Hưng Yên,
đỗ tiến sĩ 1478) đã không tiếc công sức, thời gian để làm công việc đó. Sau khi
hoàn thành, năm 1497, ông đã tự viết một bài tựa ở đầu sách nói rõ quan điểm
và tâm sự của mình khi giới thiệu sách với bạn đọc.
 Tìm hiểu bài học:

Hoạt động của GV & HS
 HĐ1: Hướng dẫn tìm hiểu tiểu dẫn.

Nội dung cần đạt
I. Giới thiệu khái quát:

Thánh Tông và hội Tao đàn.
Giai đoạn nửa sau thế kỉ XV, thời Lê
Thánh Tông: triều đại thịnh trị nhất của
nhà Lê và chế độ PKViệt Nam về nhiều
mặt: kinh tế phát triển, XH ổn định, bờ
cõi mở mang, nhiều hiền tài (Lương
Thế Vinh, Thân Nhân Trung, Đỗ
Nhuận…), văn chương được trọng
dụng (hội Tao Đàn do Lê Thánh Tông
lập gồm “Nhị thập bát tú” – 28 ngôi sao
về thơ ca. Đây cũng là TK mà tinh thần
và ý chí độc lập dân tộc lên cao. Sau
chiến thắng quân Minh, ngoài việc ổn
định và phát triển kinh tế đất nước, vua
còn phục hồi danh dự và cho sưu tầm
các tác phẩm của Nguyễn Trãi, trong đó
tập hợp được hàng trăm bài thơ Nôm
của Nguyễn Trãi thành “Quốc Âm thi
tập” (cùng với “Hồng Đức quốc âm thi
tập”)…Chính không khí ấy thôi thúc
Hoàng Đức Lương làm tuyển chọn và

GV: Nguyễn Quỳnh Anh – THPT Nguyễn Hữu Cảnh ---------------------------------------------------------

- 22 -


KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT

Sáng kiến kinh nghiệm -------------------------------------------------------------------------- Năm học: 2010 - 2011

GV: Nguyễn Quỳnh Anh – THPT Nguyễn Hữu Cảnh ---------------------------------------------------------

- 23 -


KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT

Sáng kiến kinh nghiệm -------------------------------------------------------------------------- Năm học: 2010 - 2011

trong lịch sử VHVN trước thế kỉ
XV.
 Tuyển chọn này phản ánh quan điểm
tiến bộ và đúng đắn trong cách lựa
chọn của tác giả bởi nó bộc lộ một
bước tiến về lí luận thơ ca mà sau
tác giả không có được (do quan
điểm “văn dĩ tải đạo”)
c. Thể loại “Tựa”
- GV kiểm tra việc chuẩn bị lời giới thiệu về
tập thơ “Từ ấy” của Tố Hữu do GS Đặng Thai
Mai viết, so sánh với lời giới thiệu của Hoàng
Đức Lương về tác phẩm, từ đó rút ra nhận xét
về đặc điểm của “Tựa” - một thể loại văn học.
+

Trong lời giới thiệu của GS Đặng Thai
Mai về tập thơ có những luận điểm nào?
Từ đó, nêu đặc điểm của thể loại “Tựa”?

+



Do chính tác giả hoặc người khác viết
nhằm mục đích giới thiệu rõ thêm với
độc giả về cuốn sách: động cơ, mục
đích sáng tác, kết cấu, bố cục, nội dung
hoặc tâm tư, tâm sự của người viết hoặc
là những nhận xét, đánh giá, phê bình
hay cảm nhận của người đọc (nếu là
người khác viết).



Luôn được đặt ở đầu sách, viết sau khi
đã hoàn thành. Cuối bài thường ghi rõ
họ tên, chức tước của người viết và
ngày tháng, địa điểm viết (gọi là phần
Lạc khoản).

 Thường được viết bằng thể văn nghị
luận, thuyết minh, biểu cảm hoặc tổng
hợp cả 3 loại văn bản này. Đôi khi chất
nghị luận được kết hợp với tự sự, và
thường mang sắc thái trữ tình.
- GV: Căn cứ vào những hiểu biết trên, xác
định các phần và giá trị chung của “trích d. Tựa “trích diễm thi tập”
diễm thi tập”?

- Kết cấu. Gồm 3 phần:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status