SKKN Một số giải pháp giúp học sinh lớp 10-THPT nâng cao hiệu quả tiếp cận các văn bản nghị luận trong chương trình sách giáo khoa ngữ văn lớp 10 (CTC) THPT LÊ VIẾT TẠO - Pdf 27

Một số giải pháp giúp học sinh lớp 10-THPT nâng cao hiệu quả tiếp cận văn bản nghị luận
trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10(CTC)
I- LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
1- Cũng như hầu hết các nước tiên tiến,ở nước ta hiện nay vấn đề chất lượng
giảng dạy khoa học nhân văn( đặc biệt môn Ngữ văn) trở thành mối quan tâm của
các nhà sư phạm, các nhà quản lí giáo dục và của toàn xã hội.
Ở nước ta cùng với những biến đổi và biến động xã hội, tâm lí về nhiều
mặt,kể cả những tác động từ bên ngoài, vấn đề giảng dạy trong nhà trường càng trở
thành mối quan tâm chung. Vì vậy không chỉ là công việc của bản thân nhà trường,
lại càng không phải chuyện văn chương chữ nghĩa đơn thuần mà là vấn đề có ý
nghĩa chính trị xã hội, trước mắt cũng như lâu dài.
Sau nhiều lần cải cách giáo dục, môn Văn trong nhà trường đã có những
bước tiến đáng kể.Chất văn chương, chất nhân văn của chương trình Ngữ văn được
nâng lên. Việc tiếp cận chương trình Ngữ Văn ở các cấp học, lớp học cũng được
mở rộng ở nhiều phương diện khác nhau.
Nếu như trước đây, chương trình sách giáo khoa ít chú ý thể loại văn nghị
luận (giảng văn nghị luận) thì chương trình mới xuất hiện khá nhiều loại này.Bên
cạnh việc lựa chọn các tác phẩm văn học mang tính hình tượng, sử dụng hư cấu với
một số thể loại chính như: thơ, truyện, tiểu thuyết, kịch (gọi chung là văn bản nghệ
thuật) là việc sử dụng tác phẩm văn học không hư cấu được viết bằng nhiều thể loại
khác nhau theo mỗi giai đoạn như: nghị luận, sử kí, văn tế, phú, dân ca lịch sử,
Như vậy, vấn đề thể loại văn học được mở rộng phạm vi, giáo viên và học sinh có
điều kiện bao quát về hệ thống thể loại văn học trong nhà trường. Đáng lưu ý nhất
là thể loại văn nghị luận đã được tuyển chọn giảng dạy chương trình Ngữ văn phổ
thông.
2- Văn nghị luận là một thể loại có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống nhân
loại.Văn nghị luận thường phát ngôn cho một tư tưởng, một quan điểm, một chủ
trương, một lập trường xã hội nhất định. Vì thế, nội dung thường là các vấn đề có
tính chất thời sự, chính trị, văn hoá, quốc gia, dân tộc, lịch sử,….
Bởi tính nhật dụng của thể văn nghị luận nên trong chương trình đã đưa vào
dạy ở nhà trường phổ thông nhiều văn bản đặc sắc ở nhiều thể như: chiếu, hịch,

từ thời Khổng Tử (551- 479
TCN
). Ở Việt Nam, văn nghị luận cũng là một thể loại có
truyền thống lâu đời, có giá trị và tác dụng hết sức to lớn trong trường kì lịch sử,
trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Có thể kể từ Chiếu dời đô(1010) của Lí
Công Uẩn (Lí Thái Tổ), Hịch tướng sĩ (1285) của Trần Quốc Tuấn cho đến Bình
Ngô đại cáo (1428) của Nguyễn Trãi; từ bài Tựa Trích diễm thi tập (1497) của
Hoàng Đức Lương, Chiếu cầu hiền (1788) của Ngô Thì Nhậm đến bản điều trần
Xin lập khoa luật (1867) của Nguyễn Trường Tộ; Chiếu Cần Vương (1885) đến
Hịch đánh Pháp sau này…
Giáo viên: Trương Thị Hồng - Trường THPT Lê Viết Tạo
2
Một số giải pháp giúp học sinh lớp 10-THPT nâng cao hiệu quả tiếp cận văn bản nghị luận
trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10(CTC)
Có thể nói trong suốt trường kì lịch sử dân tộc, văn nghị luận là một thể văn
phản ánh rõ nhất đời sống tinh thần, tư tưởng, ý chí và khát vọng của cả một dân
tộc.Nó không chỉ có ý nghĩa đối với những vấn đề lớn lao của đất nước, thời đại mà
còn rất gần gũi và có ý nghĩa trong đời sống công dân hiện nay. Do đó, văn nghị
luận ngày càng phát triển mạnh mẽ, càng trở nên đa dạng và phong phú hơn.
* Văn nghị luận thường được phân loại theo nhiều cách:
- Xét theo tiêu chí nội dung luận bàn, người ta phân văn nghị luận thành hai thể:
+ Văn chính luận (luận bàn về các vấn đề chính trị, xã hội, đạo đức ) như Bình
Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi, Tuyên ngôn Độc lập – Hồ Chí Minh, Về luân lý xã hội
ở nước ta (trích “Đạo đức và luân lí Đông Tây”) – Phan Châu Trinh, Tiếng mẹ đẻ,
nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức – Nguyễn An Ninh…
+ Văn phê bình văn học (luận bàn các vấn đề văn học nghệ thuật) như Một thời đại
trong thi ca – Hoài Thanh, Mấy ý nghĩ về thơ – Nguyễn Đình Thi.
- Xét theo tiêu chí hình thức thể loại, người ta chia ra: văn nghị luận thời trung đại
(chiếu, cáo, hịch, bình sử, điều trần, ) và văn nghị luận hiện đại (tuyên ngôn, lời
kêu gọi, phê bình, xã luận )

Thân Nhân Trung Bia 10
04 Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc
Tuấn (trích “Đại Việt sử kí toàn
thư”)
Ngô Sĩ Liên Sử kí
trung đại
10
05 Thái sư Trần Thủ Độ (trích “Đại
Việt sử kí toàn thư”)
Ngô Sĩ liên Sử kí
trung đại
10
06 Chiếu cầu hiền Ngô Thì Nhậm Chiếu 11
07 Xin lập khoa luật (trích “Tế cấp
bát điều”)
Nguyễn Trường
Tộ
Điều trần 11
08 Về luân lý xã hội ở nước ta (trích
“Đạo đức và luân lí Đông Tây”)
Phan Châu Trinh Văn nghị
luận hiện
đại
11
09 Tiếng mẹ đẻ, nguồn giải phóng
các dân tộc bị áp bức
Nguyễn An Ninh Văn nghị
luận hiện
đại
11

thể hiện trên văn bản.
- Cả người dạy và người học rất “ngại” khi đụng chạm đến phần này.Nhất là
với học sinh khi chưa có thói quen chủ động tìm hiểu khám phá tác phẩm bởi việc
đọc hiểu văn bản nghị luận luôn là vấn đề khó khăn đối với học sinh.Trong văn bản
nghị luận( văn học Việt Nam trung đại) tư tưởng tác giả khó nắm bắt bởi cách viết
hàn lâm, với hệ thống điển tích, điển cố dày đặc…Điều đó khiến HS càng đọc càng
không hiểu bởi vốn kiến thức hạn chế, từ ngữ “xa lạ” khiến các em chán nản.
Mặt khác, thời lượng dành cho việc tìm hiểu các văn bản này là quá ít (Chỉ
1- 2 tiết/ một bài). Giáo viên lẫn học sinh phải “chạy đua” với thời gian. Giáo viên
không thể cắt nghĩa tỉ mỉ hay diễn giải một cánh thấu đáo cho học sinh hiểu.Sách
giáo khoa có chú thích nhưng không phải em nào cũng đọc và hiểu được. Do đó
các đơn vị bài học không được khám phá một cách đầy đủ và có chiều sâu.
Đối chiếu với vai trò, chức năng của các văn bản nghị luận mà sách giáo
khoa lựa chọn, tôi cho rằng không còn cách nào là giáo viên phải trăn trở, tìm cách
tiếp cận với loại bài này một cách tốt nhất.Với một số giải pháp đề xuất này, tôi
mong rằng sẽ giúp giáo viên- học sinh có hướng tiếp cận bài học một cách chủ
động, hiệu quả hơn.
3- Giải pháp thực hiện.
Giáo viên: Trương Thị Hồng - Trường THPT Lê Viết Tạo
5
Một số giải pháp giúp học sinh lớp 10-THPT nâng cao hiệu quả tiếp cận văn bản nghị luận
trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10(CTC)
Về cơ bản văn nghị luận là sản phẩm của tư duy lô gíc. Nhưng vẻ đẹp của
một áng văn nghị luận không chỉ thể hiện ở những tư tưởng đúng đắn, sâu sắc, nó
còn thể hiện ở hình thức lập luận phong phú, lý lẽ đanh thép, giọng điệu thuyết
phục cùng sự cuốn hút bởi nhiệt tình và thái độ của mỗi tác giả trước vấn đề nghị
luận.
Vì thế việc tiếp cận các văn bản nghị luận thật không đơn giản.Vấn đề đó đặt
ra thách thức cho cả thầy và trò: thầy phải làm sao tổ chức hướng dẫn giúp trò nắm
được tinh thần chung văn bản; trò tiếp nhận, lĩnh hội văn bản để từ đó trang bị hệ

Văn NL không chỉ có tư tưởng đúng đắn mà còn có những tình cảm lớn làm thành
mạch nguồn của nó. Vì thế văn NL bồi dưỡng cho con người những tình cảm sâu
sắc đúng đắn về thời đại, dân tộc, nhân loại.
- Về kết cấu: Do có nhiều thể loại khác nhau nên kết cấu của chúng cũng rất
đa dạng. Song, trên bình diện chung có thể thấy, bài văn nghị luận thường gồm ba
phần chính dưới dạng tổng – phân – hợp: Vấn đề nghị luận/ nội dung nghị luận/
Khái quát, bày tỏ quan điểm tư tưởng. Các thao tác phân tích, so sánh, giải thích,
bác bỏ, chứng minh, … thường xuất hiện trong văn NL.
- Về tổ chức lời văn: Văn NL đòi hỏi sự chặt chẽ của lập luận, sự xác đáng
của các luận cứ, sự thuyết phục của luận chứng, … Văn NL thời trung đại có thể là
văn vần, văn xuôi, nhưng phổ biến nhất là văn biền ngẫu. Văn NL hiện đại phổ
biến nhất là câu văn xuôi có cấu trúc ngữ pháp rõ ràng, chính xác đúng quy chuẩn.
Tuỳ theo sở thích của tác giả, văn NL cũng thường xuất hiện các hình ảnh ẩn dụ, so
sánh, liên tưởng làm cho các tư tưởng mềm mại, gợi cảm hoặc hóm hỉnh. Lời văn
NL có khi được tác giả trực tiếp bộc bạch tư tưởng, tình cảm, nỗi lòng của mình,
3.1.3. Đặc điểm của văn NL thời trung đại
Ngoài những đặc điểm chung vừa nêu, văn NL trung đại còn mang những
đặc điểm cơ bản của thi pháp văn học trung đại. Từ những dữ liệu trong SGK Ngữ
Văn 10 có tham chiếu đối sánh với công trình Mấy vấn đề về thi pháp văn học
trung đại Việt Nam, chúng tôi tạm xác định hệ thống thi pháp văn học Việt Nam
trung đại gồm các biểu hiện:
- Một là, cộng đồng văn học (gồm người viết văn và người đọc văn) quan
niệm văn học phản ánh hiện thực và đời sống tâm hồn của con người thông qua hệ
thống ước lệ dày đặc, phức tạp và nghiêm ngặt.
- Hai là, các thể loại văn học chưa được phân biệt tách bạch, văn sử triết bất
phân.
- Ba là, cộng đồng văn học xem những cái thuộc về quá khứ là chuẩn mực.
Tâm lí sùng cổ ấy dẫn đến hệ thống điển tích, thi liệu, … dày đặc trong các tác
phẩm văn học trung đại Việt Nam. Nó cũng khiến cho các văn gia thi sĩ không chú
trọng phát huy cái riêng và cá tính cá nhân.

văn học trung đại Việt Nam.
Vị trí của thể loại trong văn học Trung đại quan trọng tới mức nhiều khi tên
tác phẩm gắn liền với tên thể loại: Thiên đô chiếu, Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại
cáo,…Việc xác định thể loại là định hướng tốt cho tiếp cận các tác phẩm trong
chương trình nói chung, và các tác phẩm nghị luận trung đại lớp 10 nói riêng.Vì thế
trước khi tiếp cận bên trong tác phẩm, giáo viên cần cho học sinh nắm được những
kiến thức khái lược nhất về thể loại sáng tác.
Giáo viên: Trương Thị Hồng - Trường THPT Lê Viết Tạo
8
Một số giải pháp giúp học sinh lớp 10-THPT nâng cao hiệu quả tiếp cận văn bản nghị luận
trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10(CTC)
- Với vấn đề này,giáo viên có thể dành một khoảng thời gian nhất định trong phần
tiểu dẫn để giới thiệu khái quát đại cương cho học sinh hiểu.Đặc biệt là với các thể
nghị luận trung đại- tính trừu tượng, khái quát cao- giáo viên phải cung cấp thêm
những kiến thức xoay quanh thể loại như: khái niệm, mục đích chức năng, kết cấu,
cách thức lập luận…thậm chí có dẫn chứng minh hoạ.Để từ đó, Học sinh có định
hướng rõ ràng khi tiếp cận văn bản.
* Ví dụ: Khi dạy văn bản “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi, trong phần tiểu
dẫn, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu về thể cáo: mục đích chức năng, kết
cấu, cách thức lập luận…Từ đó có thể đạt các chuẩn kiến thức như gợi ý sau:
- Cáo là thể văn nghị luận có từ thời cổ ở Trung Quốc, thường được vua chúa hoặc
thủ lĩnh dùng để trình bày một chủ trương hay công bố kết quả một sự nghiệp để
mọi người cùng biết.
Trong thể cáo, có loại văn cáo thường ngày như chiếu, sách của vua truyền
xuống về một vấn đề nào đó, có loại văn đại cáo mang ý nghĩa một sự kiện trọng
đại, có tính chất quốc gia.
Nếu mục đích chức năng của hịch là cổ động, thuyết phục, kêu gọi đấu tranh
hoặc hiểu dụ, răn dạy thì mục đích của cáo là tuyên ngôn hoăc tổng kết một vấn đề,
một sự kiện. Cáo được viết sau khi sự kiện xảy ra.
- Cũng như hịch, cáo là thề văn nghị luận mang tính hùng biện, do đó kết cấu

Bất kì một phát ngôn, một văn bản nào cũng đều được sản sinh ra trong một
bối cảnh nhất định và chỉ được lĩnh hội đầy đủ, chính xác trong bối cảnh của nó.Đó
có thể là bối cảnh giao tiếp rộng ( là toàn bộ những nhân tố xã hội, địa lí, chính trị,
kinh tế,văn hoá, phong tục, tập quán… của cộng đồng ngôn ngữ); đó có thể là bối
cảnh giao tiếp hẹp ( là nơi chốn, thời gian phát sinh câu nói, văn bản…).
Với tư cách là một tác phẩm văn học, văn bản nghị luận cũng chịu sự chi
phối của điều kiện lịch sử xã hội. Những vấn đề phức tạp của lịch sử xuất hiện
thường tác động lớn đến đời sống, số phận con người. Tất cả đều trở thành nguồn
cảm hứng để người nghệ sĩ phản ánh, một mặt ghi lại những biến đổi của thời cuộc,
mặt khác, bày tỏ chính kiến, quan niệm và cách nhìn nhận, đánh giá của mình. Vì
vậy, tác phẩm bao giờ cũng truyền đến người đọc một tư tưởng, một thái độ, thậm
chí có tác dụng liên kết xã hội bằng những hành động cụ thể. Phân tích các văn bản
nghị luận nhất thiết phải tìm hiểu lịch sử xuất hiện của chúng mới hiểu rõ và lí giải
chính xác: Tác phẩm phản ánh vấn đề gì? Phản ánh để làm gì? Phản ánh như thế
nào? Tác phẩm có ý nghĩa ra sao với đương thời và hiện nay? Bài học rút ra từ sự
phản ánh đó?.v.v…
Như vậy việc xem xét hoàn cảnh sáng tác là việc làm cần thiết để hiểu tư
tưởng, nội dung văn bản, thông điệp mà người sáng tác muốn gửi gắm vào tác
Giáo viên: Trương Thị Hồng - Trường THPT Lê Viết Tạo
10
Một số giải pháp giúp học sinh lớp 10-THPT nâng cao hiệu quả tiếp cận văn bản nghị luận
trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10(CTC)
phẩm. Hoàn cảnh sáng tác có thể được xem xét từ hai góc độ:
+ Hoàn cảnh rộng: Bối cảnh lịch sử, thời đại mà tác giả sáng tác.
+ Hoàn cảnh hẹp: hoàn cảnh cụ thể ra đời tác phẩm ( thời gian, địa điểm, tâm thế
sáng tác…).
* Ví dụ: Khái quát sơ bộ về hoàn cảnh sáng tác một số văn bản nghị luận
chương trình lớp 10 như sau:
Tác phẩm Hoàn cảnh rộng (Thời đại- lịch sử- xã
hội…)

Tựa “Trích
diễm thi
tập”
(Hoàng
Đức
Lương)
- Triều đại Lê Thánh Tông (1460-1497) có
nhiều đóng góp vào đời sống mọi mặt của
quốc gia Đại Việt, hoạt động sôi nổi trên
nhiều lĩnh vực bởi nhiều tài năng: tư tưởng
cao siêu, anh minh quyết đoán, hùng tài đại
lược, võ giỏi văn hay, tay không rời sách,
từng sáng lập “Hội Tao đàn” gồm 28 tiến sĩ
giỏi thơ văn nhất nước thời đó. Lê Thánh
Tông là một nhà văn hoá lớn.
- Việc thi cử, giáo dục thời này thịnh đạt nhất
trong lịch sử giáo dục và khoa cử thời phong
kiến Việt Nam, nhiều công trình biên soạn
tầm cỡ xuất hiện: Đại Việt sử kí toàn thư
(1479), Thiên Nam dư hạ tập…
- Sáng tác năm
1497.
Hiền tài là
nguyên khí
của quốc
gia
(Thân
NhânTrung)
- Triều đại Lê Thánh Tông (1460-1497) có
nhiều đóng góp vào đời sống mọi mặt của

góc độ lí luận văn học, nội dung và hình thức là hai phạm trù có mối quan hệ chặt
chẽ, thống nhất không thể tách rời, tác động qua lại, quy định tính chất tồn tại của
nhau: nội dung chỉ có thể thể hiện trong hình thức, hình thức phải là hình thức của
một nội dung. Nếu nội dung tác phẩm cho phép người đọc lí giải câu hỏi: tác phẩm
viết về vấn đề gì, mục đích, ý nghĩa, giá trị,… thì hình thức giúp người đọc lí giải
tác phẩm viết như thế nào, hiệu quả ra sao, tính thẩm mĩ, khả năng rung cảm và
thuyết phục người đọc thế nào,…
- Khi bám sát văn bản trên hai phương diện này, cần chỉ ra:
+ Về mặt nội dung: cần tìm hiểu và nắm đề tài, chủ đề, cảm hứng nghệ thuật, hình
tượng của tác phẩm, các sự kiện, các chi tiết, tình tiết, biến cố… Xâu chuỗi chúng
lại theo những lôgic nhất định giúp người tiếp nhận lĩnh hội được tư tưởng, tình
cảm, thái độ, quan điểm, lập trường và giá trị của tác phẩm trên nhiều bình diện.
+ Về mặt hình thức: cần tìm hiểu các hình thức diễn đạt và các phương tiện diễn
đạt như hệ thống ngôn từ (với các đặc tính: chính xác, biểu cảm, hàm súc, hình
tượng; các lớp từ, các loại từ…), hệ thống biện pháp nghệ thuật, cách thức lập luận,
nhịp điệu, giọng điệu, kết cấu…Mục đích cuối cùng là chỉ ra tác dụng của chúng
trong việc biểu hiện tư tưởng, tình cảm, thái độ…của người tạo lập, sức thuyết
phục của tác phẩm, qua đó mà đánh giá được tài năng và tấm lòng của người tạo
lập.
Giáo viên: Trương Thị Hồng - Trường THPT Lê Viết Tạo
13
Một số giải pháp giúp học sinh lớp 10-THPT nâng cao hiệu quả tiếp cận văn bản nghị luận
trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10(CTC)
Hơn bất cứ hoạt động nào, việc phân tích trực tiếp văn bản đòi hòi người
giáo viên phải có năng lực thực sự, trình độ kiến thức nhiều mặt, phân tích có nghệ
thuật,… mới giải mã được các lớp ý nghĩa một cách toàn diện, thấu đáo. Bất cứ
một vấn đề nào, nếu được lí giải một cách sâu sắc, thấu tình đạt lí sẽ thuyết phục
được người đọc, từ đó mới xuất hiện những rung cảm thật sự để mà yêu mến, quý
trọng.
3.4- Tăng cường kĩ năng đọc – hiểu, khả năng tư duy, trí tưởng tượng,

- Cùng với quá trình nhận thức, giáo viên còn phát huy vai trò tưởng tượng,
liên tưởng của học sinh để hình tượng có sức bay bổng và cảm hoá.Việc tạo ra
được hoàn cảnh “có vấn đề” sẽ làm nảy sinh cảm xúc, sự kích thích của cảm xúc
trong quá trình tri giác sẽ là điều kiện hoạt động của trí nhớ và hình thành biểu
tượng. Theo đó, hình dung, liên tưởng và tưởng tượng càng được mở rộng. Nếu
được đẩy mạnh, sự hút dẫn đối tượng vào bài học càng lớn.
Liên tưởng, tưởng tượng của học sinh có các loại sau đây: tưởng tượng tái
hiện, sáng tạo, có phê phán, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát. Tuỳ thuộc vào
sự dẫn dắt, định hướng của giáo viên, sự liên tưởng và tưởng tượng của học sinh có
những biểu hiện cụ thể khiến bài học sinh động, hấp dẫn hơn. Vì thế, vai trò của
giáo viên là xây dựng câu hỏi (nghĩa là làm thay đổi tình thái của giờ học, hay nói
cách khác là mở ra tình huống “có vấn đề”, xác định tâm thế thực tại và đặt học
sinh vào các yêu cầu của việc nhận thức) để khai thác hết khả năng này của học
sinh. Vận dụng linh hoạt các dạng câu hỏi sau đây: phát hiện, tái hiện, phân tích, so
sánh, tranh luận, vận dụng kiến thức thông qua các hình thức:
+ Liên tưởng hiện thực xác định tác phẩm trong quan hệ với hiện thực của đời
sống xã hội.
+ Liên tưởng mối quan hệ giữa nhân vật và hoàn cảnh, không gian và thời gian
nghệ thuật, các nhân vật với nhau và với hoàn cảnh điển hình.
+ Liên tưởng mối quan hệ giữa các chi tiết, tình huống nghệ thuật, các điểm sáng
thẩm mĩ cùng hoặc ngược chiều,…
+ Tưởng tượng về khả năng phát triển của các hình tượng nghệ thuật trung tâm.
+ Liên tưởng với các hình ảnh, hình tượng, biểu tượng của tác phẩm khác.
- Văn học là một bộ giàu tính nghệ thuật. Một tác phẩm văn học giàu tính nghệ
thuật không chỉ ở chỗ nó đem lại cho người đọc sự thích thú, hấp dẫn nhờ nghệ
thuật diễn đạt mà ở chỗ cái đẹp ấy đến lượt mình lại tạo ra trong lòng người đọc
những rung động thẩm mĩ, tình yêu đối với cái đẹp, làm cảm nhận thẩm mĩ của con
người ngày một phong phú hơn.Muốn có được điều này, đòi hỏi người giáo viên
Ngữ văn phải có những phẩm chất, tư chất nghệ thuật, để từ đó giúp học sinh tiếp
nhận lĩnh hội văn bản một cách tự nguyện như một nhu cầu tinh thần thực sự.

bình, ngôn ngữ và cách diễn đạt được nâng lên rõ rệt.
Giáo viên: Trương Thị Hồng - Trường THPT Lê Viết Tạo
16
Một số giải pháp giúp học sinh lớp 10-THPT nâng cao hiệu quả tiếp cận văn bản nghị luận
trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10(CTC)
Kết quả cụ thể:
HỌC KỲ I ( khi chưa áp dụng giải pháp)
Lớp

số
Điểm kiểm tra
0 - 2 3 - 4 5 - 6 7 - 8 9 – 10
SL % SL % SL % SL % SL %
10D8 42 2 4,8 10 23,8 25 60,5 5 11,9 0 0
10E8 44 4 9,0 13 29,5 25 57,0 2 4,5 0 0
HỌC KỲ II ( sau khi đã áp dụng giải pháp)
Lớp

số
Điểm kiểm tra
0 - 2 3 - 4 5 - 6 7 - 8 9 – 10
SL % SL % SL % SL % SL %
10D8 42 0 0 4 9,5 21 60,0 16 38,1 1 2,4
10E8 44 1 0 6 13,6 26 61,4 10 22,7 1 2,3
VI. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT.
1. Việc giảng dạy các văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ Văn nói
chung và trong chương trình lớp 10 nói riêng có một ý nghĩa quan trọng: không chỉ
mở rộng phạm vi hiểu biết về các thể loại văn học, hiểu biết về các vấn đề chính trị
xã hội, văn hoá (trong nhiều không gian, thời gian khác nhau)…mà còn xây dựng
cho học sinh thái độ đúng, quan điểm tiến bộ về các vấn đề chính trị xã hội, văn

Trương Thị Hồng
Giáo viên: Trương Thị Hồng - Trường THPT Lê Viết Tạo
18
Một số giải pháp giúp học sinh lớp 10-THPT nâng cao hiệu quả tiếp cận văn bản nghị luận
trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10(CTC)
Tài liệu tham khảo:
1- Từ điển thuật ngữ văn học- Lê Bá Hán,Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi( chủ
biên)- NXB Đại Học Quốc gia Hà Nội, 1997.
2- Phân tích tác phẩm văn học Trung đại Việt Nam từ góc nhìn thể loại- Lã
Nhâm Thìn- NXB Giáo dục Việt Nam, 2009.
3- Mấy vấn đề thi pháp Trung đại Việt Nam- Trần Đình Sử- Nxb Giáo dục Hà
Nội, 1999.
4- Bồi dưỡng nâng cao văn học lớp 10- Nguyễn Hữu Quang, Phan Thị Huỳnh
Yến- NXB TP. Hồ Chí Minh, 2002.
5- Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông- Tập 1- Phan
Trọng Luận- NXB Giáo dục, 1998.
6- Sách giáo khoa Ngữ văn10- Tập I - Nhiều tác giả- NXB Giáo dục, 2006
7- Sách giáo khoa Ngữ văn 10 Nâng cao- Tập I - Nhiều tác giả- NXB Giáo dục,
2006
8- Sách giáo khoa Ngữ văn10- Tập II- NXB Giáo dục, 2006
9- Sách giáo khoa Ngữ văn 10 Nâng cao- Tập II - Nhiều tác giả- NXB Giáo
dục, 2006

Giáo viên: Trương Thị Hồng - Trường THPT Lê Viết Tạo
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status