SKKN Một số giải pháp giúp học sinh lớp 4 học loại văn miêu tả đạt hiệu quả cao - Pdf 14

LỜI NÓI ĐẦU
Như chúng ta đã biết, Tiếng việt có vai trò cực kỳ quan trọng trong đời sống
cộng đồng và đời sống mỗi con người Việt Nam. Đặc biệt đối với trẻ em, Tiếng việt có vai
trò càng quan trọng. Ngay từ lúc mới lọt lòng, trẻ được giao tiếp hằng ngày, hằng giờ với
Tiếng việt và khi cất tiếng nói đầu tiên, trẻ cũng nói lên tiếng nói của người Việt. Do đó,
trẻ em cần học Tiếng việt một cách khoa học và cẩn thận để có thể sử dụng suốt năm tháng
học tập ở nhà trường cũng như trong suốt cuộc đời.
Tiếng Việt là một môn học quan trọng cũa trường tiểu học. Trong đó phân môn
tập làm văn chiếm vò trí quan trọng không nhỏ. Bởi vì dạy tập làm văn là dạy cho các em
hình thành kỷ năng nói, viết, được xây dựng trên những thành tựu của nhiều môn học khác
như tập đọc, từ ngữ, ngữ pháp, kể chuyện … tập làm văn còn góp phần bổ sung kiến thức đòi
hỏi huy động kiến thức nhiều mặt từ hiểu biết cuộc sống, rèn luyện tư duy và hình thành
nhân cách học sinh.
Chương trình tập làm văn tiểu học bao gồm các thể loại như miêu tả, tường
thuật, kể chuyện, viết thư, đơn… trong đó kiểu bài miêu tả được học và chiếm thời gian
nhiều nhất.
Tuy nhiên để giúp học sinh học tốt văn miêu tả điều quan trọng là làm thế nào
giúp cho học sinh quan sát để tìm ý cho bài văn, biết lựa chọn các từ ngữ miêu tả cho sinh
động, hấp dẫn. Không phải đưa ra các lời nhận xét chung mà phải tả các sự vật, hiện
tượng bằng từ ngữ sinh động, gợi cảm.
Qua thực tế giảng dạy, tôi thấy phần đông học sinh lớp tôi làm văn
miêu tả gặp những khó khăn về tri thức, hiểu biết, về đối tượng miêu tả, các
em sẽ không biết miêu tả nếu như chưa được quan sát; vốn hiểu biết từ ngữ
chưa sâu, thấy đâu tả đó, chưa biết bôïc lộ cảm xúc trong bài văn miêu tả của
mình. Chưa
1
biết cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong văn miêu tả để bài
văn thêm phần hấp dẫn.
Chính vì những lẽ đó, trong năm học 2008 – 2009, 2009 - 2010 tôi đã
nghiên cứu và thực hiện “Một số biện pháp nhằm giúp học sinh lớp 4 học thể
loại văn miêu tả đạt hiệu quả cao”. Năm học 2010 – 2011 này, tôi tiếp tục áp

- Phương pháp dạy của giáo viên còn rập khuôn thiếu sự dẫn dắt
gợi mở cho học sinh tìm ra những từ, ý hay khi miêu tả.
- Giáo viên ít quan tâm đến việc hướng dẫn các em phải tả như thế
nào để bôïc lộ được nét riêng biệt của đối tượng mình đang tả để thoát khỏi
việc tả một cách khuôn sáo.
- Giáo viên thường hay thiếu tranh ảnh, vật thật để hổ trợ cho các
em miêu tả.
- Việc chấm và sửa bài còn chung chung, chưa sửa ý hay nhằm phát
huy cho học sinh khi học tập làm văn.
- Thiếu sự kết hợp, liên hệ giữa tiết dạy phân môn tập làm văn với
các môn học khác.
* Nguyên nhân khách quan:
- Khả năng quan sát miêu tả còn sơ sài, học sinh chưa biết sử dụng
các giác quan để quan sát, quan sát chưa theo một trình tự, thấy đâu tả đó.
- Học sinh dùng từ đặt câu chưa hay, chưa biết lựa chọn từ ngữ thích
hợp.
- Vốn từ ngữ còn quá nghèo nàn, dùng từ đòa phương, diễn đạt chưa
hay như nói chuyện bình thường.
4
- Dùng văn mẫu một cách chưa sáng tạo (do sách tham khảo bán
tràn lan trên thò trường) các em rập khuôn theo mà chưa biết sáng tạo chọn lọc
thành cái riêng của mình.
- Một số học sinh trung bình, yếu viết câu chưa thành thạo nên diễn
đạt chưa mạch lạc các ý trong bài văn còn nhiều hạn chế.
Từ thực tế nêu trên, để giúp học sinh học thể loại văn miêu tả đạt
hiệu quả cao. Tôi đã tiến hành thực hiện các biện pháp sau:
1/ Hướng dẫn học sinh quan sát tìm ý.
2/ Tạo điều kiện cho sinh tích luỹ vốn từ ngữ và lựa chọn vốn từ ngữ
miêu tả qua các bài tập đọc, từ ngữ …
3/ Sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong miêu tả.

Nhìn bà nội – Em Thiên Trúc (Bình Chánh – TP Hồ Chí Minh) nhận
ra “Năm qua đi, tháng qua đi, tôi càng cao thẳng, bà tôi càng thấp lại”. Còn
em Phương Anh (Hà Nội) thì nhận xét: “Hai má bà lại hóp, thái dương hơi
nhô, tay chân có chổ bắt đầu xương xẩu, nổi gân xanh…”
(trính “những bài văn chọn lọc”)
c/ Quan sát trong văn miêu tả tôi luôn hướng cho học sinh tìm ra
những đặc điểm riêng biệt của đồ vật, cây cối, loài vật … và bỏ qua đặc điểm
chung:
Ví dụ như nhận xét con gà trống ở nhà em phải cố tìm ra mào của nó,
lông của nó, thân hình nó … có gì khác với con gà ở hàng xóm?
Dạy “Quan sát cây bút chì” không phải cho các em thấy được màu
sắc, hình dáng của nó mà còn nhận ra những dòng chữ in trên vỏ và các đặc
điểm khác như có bò dính mực không? Có bò trầy không? Bò sứt không? …
những đặc điểm ấy chỉ ruêng cây bút chì của em mới có.
Quan sát trong văn miêu tả là làm cho học sinh cần phải nhận ra đặc
điểm riêng biệt. Và đây là một điều hết sức quan trọng và tôi luôn luôn rèn
luyện cho học sinh và giáo dục cho học sinh. Bởi đây là một điều bức xúc, học
7
sinh có thói quen làm văn rập khuôn theo mẫu. Nếu như “tả con gà, tả cái
cặp” … thì tất cả mười chín học sinh lớp tôi đều có bài làm gần giống nhau.
Vì thế, khi dạy văn miêu tả, tôi luôn nhắc nhở gợi ý học sinh tìm ra
những nét riêng biệt, những tình cảm riêng biệt đối với đối tượng được tả. Có
thể những đặc điểm riêng đó đối với người khác là bình thường nhưng đối với
riêng em là đặc biệt vì nó gắn bó với em bằng một kỹ niệm, một sự kiện hoặt
một niềm vui, nổi buồn… nào đó.
d/ Phân chia đối tượng để quan sát:
Để quan sát một cây bàng, một cây đang ra hoa hay một con gà, một
bức tranh … thì tôi hướng dẫn cho học sinh cần phải phân chia các đối tượng đó
thành từng bộ phận rồi lần lượt quan sát các đối tượng đó. Thông thường, có
các sự phân chia đối với tả cảnh như phía trên, phía dưới,nửa phải nửa trái,

có cây bàng, cây bàng cao, ngọn chấm mái nhà, táng xoà như chiếc ô. Mùa
hè, Long thích ngồi học dưới bóng rợp của chiếc ô xanh ấy. Mùa thu, thỉnh
thoảng một cơn gió lướt qua làm vài chiếc lá bàng rụng xuống. Long thường
nhặt những chiếc lá vàng xuộm làm quạt phe phẩy hay kết thành chiếc mũ đội
9
đầu. Sang mùa đông, trời càng lạnh, lá bàng càng rụng nhiều cho người đem
về đốt sưởi…”.
* Nhưng dù quan sát ở trình tự nào đi nữa tôi luôn nhắc cho học sinh
tập trung vào từng bộ phận chủ yếu và trọng tâm.
f/ Sử dụng tranh, ảnh trong văn miêu tả:
(Biện pháp này năm học 2008 – 2009 tôi bắt đầu thực hiện)
Đối với thể loại văn miêu tả, đồ dùng dạy học chủ yếu cho học sinh
quan sát, nghiên cứu trong giờ học là mẫu vật thật như cái cặp, quyển sách,
cây hoa, con lợn…. Tuy nhiên, nhiều đối tượng cần miêu tả không thể cho học
sinh quan sát trực tiếp tại lớp, mà cho học sinh phải tự quan sát tại gia đình,
ngoài xã hội (con lợn, cây chuối đang có buồng, con đường làng, vườn rau…).
Song, đối tượng qua sát ngoài xã hội không có hình ảnh cho học sinh quan sát
tại lớp thì giáo viên cũng gặp phải những khó khăn nhất đònh.
Vì vậy, khi hướng dẫn tại lớp, tôi thường căn cứ vào những đặc điểm
chung của đối tượng mà gợi mở, dẫn dắt học sinh. Nhưng để gợi mở dẫn dắt có
hiệu quả thì phải sử dụng tranh, ảnh giúp học sinh nhớ lại những điều quan sát
từ trướng (gia đình, xã hội). Đó chính là cơ sở để cho các em suy nghó, phân
tích, tổng hợp lại… các đặc điểm của sự vật và rèn luyện làm bài tập làm văn.
Việc sử dụng tranh, ảnh cho giờ tập làm văn cũng hết sức công phu.
Tranh, ảnh phải đảm bảo các vật thể mà học sinh đã quan sát tại gia đình,
ngoài xã hội. Có như vậy, việc sử dụng tranh, ảnh mới đem lại hiệu quả.
Ví dụ 1: Để minh hoạ cho bài văn “tả con mèo” tôi cần phải sưu tầm
được hình ảnh nhiều loại mèo khác nhau để giới thiệu cho học sinh: mèo
10
mướp, mèo tam thể, mèo đen, mèo vàng… và những hình ảnh hoạt động khác

Cũng còn có rất nhiều bài tập đọc cho ta thấy cách dùng từ ngữ miêu
tả rất hay và thật đa dạng. Tôi luôn tận dụng vốn quý này để nhân vốn từ ngữ
của từng học sinh bằng cách cho học sinh ghi vào sổ tay những từ ngữ hoặc
những câu văn hay. Đồng thời tôi thường xuyên theo dõi và xem quyển sổ tay
của học sinh trước mỗi giờ tập làm văn. Có như vậy mới giúp học sinh tích dần
vốn từ ngữ của mình.
- Dạy phân môn từ ngữ cũng là một dòp để các em không chỉ hiểu
rõ từ mà còn mở rộng chúng khi dùng những từ gần nghóa hoặc trái nghóa.
Ví dụ: Khi miêu tả người tôi thường nêu lên cho học sinh thấy bên
cạnh từ “đẹp” còn có hàng lọat từ ngữ khác: xinh xắn, dễ coi, dễ nhìn…. Bên
cạnh từ “ẳm” còn có nhiều từ: bế, bồng, ôm, nâng, đòu, cõng…
Việc học và mở rộng vốn từ láy, từ tượng thanh, từ tượng hình cũng
có ý nghóa tích cực đối với việc tích luỹ vốn từ ngữ miêu tả của học sinh (róc
rách, rì rầm, thánh thót, ngân nga…; ngoằn ngoèo, chót vót, thăm thẳm, mênh
mông, ngọt ngào…). Những từ ngữ này giúp rất nhiều cho học sinh khi tả các
con vật, cây cối, tả người, tả cảnh……
12
- Đọc tác phẩm văn học truyện ngắn, thơ… cũng là dòp để học sinh
tích luỹ vốn từ ngữ miêu tả. Với biện pháp này, tôi thường xuyên nhắc nhở
học sinh đọc ở nhà, xem các bài đọc thêm, tham khảo những bài văn hay.
b/ Hướng dẫn học sinh lựa chọn vốn từ ngữ khi miêu tả :
Có vốn từ ngữ phải biết dùng đúng chỗ, đúng lúc. Muốn vậy, phải
coi trong việc lựa chọn từ ngữ khi diễn đạt cũng như khi lam bài văn mòêu tả.
Việc xác đònh một từ ngữ hay hình ảnh phải trải qua thời gian tìm tòi,chọn lọc
thì hình ảnh, từ ngữ đó mớùi thích hợp,mới gợi hình gợi cảm.
Như ví dụ nêu trên,để tả một người “đẹp” nên dùng từ ngữ nào
trong hàng loạt các từ: dễ mến, dễ nhìn, xinh xắn, dễ coi,…?Sau mỗi tiết tập
làm văn tôi tranh thủ lấy ví dụ những đoạn văn hay phân tích cho học sinh
thấy cái hay khi biết lựa chọn từ.
Ví dụ : Tả hình dáng cụ già.Bạn Phương Anh (Hà Nội) biết lựa

3/ Sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong miêu tả:
Để viết một đoạn văn hay, một bài văn hấp dẫn đòi hỏi trong từng
đoạn văn phải có sử dụng một số hình thức nghệ thuật như so sánh, nhân hoá,…
thì bài văn mới sinh động. Nếu như một bài văn tả loài vật chỉ dừng lại ở việc
14
miêu tả đầu, mình, đuôi, chân… thì giống như liệt kê các bộ phận của một con
vật thường gặp ở môn khoa học, không giống như một bài văn miêu tả. Vì thế,
hướng dẫn các em biết sử dụng các hình thức nghệ thuật trong văn miêu tả là
hết sức cần thiết.
a/ Sử dụng biện pháp so sánh trong văn miêu tả:
Dạy tả “Quang cảnh trường em trước buổi học”, có em nêu: “Vài vệt
nắng sớm chiếu xuống cành lá”, “Gió thổi nhẹ”. Nội dung như thế đã đạt, câu
văn gọn gợi ý. Nhưng để sinh động hơn, tôi gợi ý – học sinh có thể sửa lại:
“Vài vệt nắng sớm như ve vuốt những lá cành xanh tươi còn lấm tấm những
giọt sương đêm”. “Gió thổi nhẹ như lay động lá cành” .
Bên cạnh đó, tôi thường lấy những đoạn văn miêu tả hay trong các
bài tập đọc để học sinh tham khảo:
Ví dụ 1: Tả hình dáng người bà, tác giả viết: “giọng nói bà tôi đặc
biệt trầm bỗng nghe như tiếng chuông đồng. Nó khắc sâu vào trí nhớ tôi dể
dàng như những đoá hoa và cũng rực rỡ đầy nhựa sống” (Bà tôi – Tiếng Việt
– lớp 5 tập 1).
Ví dụ 2: Tô Hoài miêu tả chim chích bông như sau: “Hai chân xinh
xinh bằng hai chiếc tăm. Cặp mỏ chích bông tí tẹo bằng hai mảnh vỏ trấu chắp
lại” [Chim chích bông – Tập đọc lớp 3, tập 2 (cũ)].
b/ Sử dụng biện pháp nhân hoá trong văn miêu tả:
* Dùng biện pháp nhân hoá để tả hình dáng bên ngoài:
Ví dụ: “Cộng cộc đứng trong tổ vươn cánh như tượng những người vũ
nữ bằng đồng đang vươn tay múa. Chim gà đảy, đầu hói như những ông thầy
15
tu mặc áo xám, trầm tư, rụt cổ nhìn xuống chân”. (Sân chim – Tiếng việt lớp 5

Ví dụ 3: “Lần nào trở về với bà, Thanh cũng thấy thanh thản và bình
yêu như thế. Căn nhà, thửa vườn này như một nơi mát mẻ và hiền lành. đấy,
bà lúc nào cũng sẵn sàng chờ đợi để mến yêu Thanh.” (Về thăm bà–Tập đọc
lớp 4 tập 1).
Tương tự như vậy, khi dạy tập làm văn, tôi thường gợi ý, dẫn dắt học
sinh để giúp học sinh tìm ra những suy nghó, cảm xúc của mình trước một sự
việc, một đối tượng được tả để bài văn không còn khô khan mà tràn đầy cảm
xúc để hấp dẫn người đọc, người nghe.
• Như vậy, với những biện pháp vừa nêu trên, tôi tin rằng học sinh
có thêm điều kiện để làm một bài văn miêu tả hay và phong phú.
Đồng thời, đây cũng là nền móng cho những mầm non văn học
trỗi dậy và vươn lên xanh tốt.
17
PHẦN III: KẾT QUẢ.
Qua ba năm liền thực hiện đề tài này, tôi thấy học sinh có chuyển rất
rõ về cách làm văn miêu tả. Thống kê kết quả ba năm như sau:
Năm 2008 – 2009:
Sỉ số Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL TL% SL TL% SL TL% SL TL%
Đầu năm 25 2 8 4 16 14 56 5 20
Cuối năm 25 4 16 9 36 10 40 2 8
Năm 2009 – 2010:
Sỉ số Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL TL% SL TL% SL TL% SL TL%
Đầu năm 26 3 11.5 8 30.8 11 42.3 4 15.4
Cuối năm 26 4 15.4 12 46.2 9 34.6 1 3.8
Năm 2010 – 2011:
Sỉ số Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL TL% SL TL% SL TL% SL TL%
Đầu năm 19 3 15.8 6 31.6 7 36.8 3 15.8

tượng và năng lực sáng tạo của học sinh (sáng tạo trong cách nhìn, cách nghó,
cách diễn đạt nội dung…).
- Đặc biệt, giáo viên phải sử dụng tranh, ảnh trong văn miêu tả cụ
thể, từng vùng, từng miền khác nhau mà giáo viên lựa chọn tranh ảnh cho phù
hợp để cho các em quan sát tốt hơn.
- Tích luỹ và lựa chọn vốn từ ngữ khi miêu tả cũng là biện pháp
không kém phần quan trọng giúp cho học sinh nhớ lại một từ ngữ, một hình
ảnh, biết lựa chọn từ ngữ hay, thích hợp, phong phú vào bài văn để thêm phần
hấp dẫn.
- Bài văn miêu tả hay thì không thể thiếu cảm xúc của người viết,
có thể hiện được cảm xúc trong bài văn thì mới thu hút người đọc, người nghe.
Song, để quá trình đó diễn ra tốt, đòi hỏi người giáo viên phải nắm
vững yêu cầu cơ bản và biết vận dụng linh hoạt sáng tạo trong từng tiết học
với từng đối tượng được tả. Bởi vậy, dạy tập làm văn giáo viên không chỉ dựa
vào sách giáo khoa mà còn cần đến những tư liệu tham khảo để mở rộng hiểu
20
biết về nội dung phương pháp và vốn từ ngữ trong từng văn cảnh để cung cấp
gợi ý cho học sinh. Có như vậy thì chất lượng giáo dục mới từng bước nâng
lên.
Đề tài trên nhằm giúp học sinh lớp 4 làm một bài văn miêu tả đạt
hiệu quả cao. Qua đó, các em còn có thể cảm thụ chất “văn” ở từng ý, từng
câu, từng đoạn trong bài văn thực tế của mình. Nó được áp dụng cho tất cá các
trường trong tỉnh Long An.
21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đặng Văn Khương – Trần Văn Sáu: Những bài văn mẫu lớp 5 – NXB TP Hồ
Chí Minh.
2. Tiến só Bùi Văn Sơm – Hướng dẫn cán bộ quản lý trường học và giáo viên
viết sáng kiến kinh nghiệm.
3. Vũ Khắc Tuân: Bài tập luyện viết văn miêu tả ở tiểu học – tập 2.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status