KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học: 2010 - 2011
MỤC LỤC
Trang
I. Lý do chọn đề tài 2
II. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu 3
1. Hệ thống văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ văn 10 3
2. Kết quả khảo sát và những nhược điểm còn tồn tại trong dạy và học 5
III. Nội dung đề tài
1. Cơ sở lý luận
2. Giải pháp thực hiện
2.1. Xuất phát từ đặc trưng phong cách thể loại 7
2.1.1. Khái niệm 7
2.1.2. Chức năng và đặc trưng 9
2.1.3. Đặc điểm 13
2.2. Vận dụng lịch sử giai đoạn xuất hiện của tác phẩm để lí giải 15
2.3. Bám sát nội dung và hình thức văn bản để triển khai 16
2.4. Gia tăng chất văn học 17
2.5. Sử dụng vai trò tưởng tượng, liên tưởng của học sinh
3. Thực hiện: Thiết kế bài học 20
IV. Kết quả 33
V. Bài học kinh nghiệm 33
VI. Kết luận 34
VII. Tài liệu tham khảo 36
GV: Nguyễn Quỳnh Anh – THPT Nguyễn Hữu Cảnh - 1 -
KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học: 2010 - 2011
ĐỀ TÀI
KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT
I. Lý do chọn đề tài:
một cách đúng đắn, vừa phù hợp với tinh thần thời đại mới, vừa đảm bảo tinh
thần quốc gia, dân tộc.
Trong khi đó, những văn bản nghị luận lại được giảng dạy và tiếp nhận với
tư cách là tác phẩm văn học, vì thế, cái khó của người dạy là vừa đảm bảo tính
khách quan của tác phẩm, vừa truyền lại những rung cảm của văn bản với tư cách
là một sáng tạo nghệ thuật thật sự. Chính vì tầm quan trọng của thể loại, sự khó
khăn của giáo viên khi giảng dạy, tôi xin được đề xuất một vài kinh nghiệm có
tính chất cá nhân góp phần đổi mới hướng nghiên cứu và giảng dạy môn Văn
trong nhà trường qua đề tài: “Kinh nghiệm giảng dạy những văn bản nghị luận
trong chương trình Ngữ Văn lớp10”.
II. Thực trạng
1. Hệ thống văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ Văn 10: chiếm khối
lượng khá nhiều.
Bộ
Thể
Loại
Tên văn bản Tác giả Năm Trang
SGK
cơ
bản
Chính
trị
Đại cáo bình Ngô Nguyễn Trãi
Cuối
1427
Tập 2
tr.16
Văn
hoá
XH
– Trần
Tập 2
tr.46
SGK
nâng
cao
Chính
trị
Thư dụ Vương Thông lần nữa
(Trích Quân trung từ mệnh tập)
Nguyễn Trãi
Tháng
2 –
1427
Tập 2
tr.16
Đại cáo bình Ngô Nguyễn Trãi
Cuối
1427
Tập 2
tr.24
Văn
hoá
XH
Hiền tài là nguyên khí
của quốc gia
(Trích Bài kí đề danh tiến sĩ
khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại
Bảo thứ ba) Đọc thêm
Thân Nhân
- Trần
Tập 2
tr.62
Hưng Đạo Đại Vương
Trần Quốc Tuấn
(Trích Đại Việt sử kí toàn thư)
Đọc thêm
Ngô Sĩ Liên
Nhà
Trần
Tập 2
tr. 65
2. Kết quả khảo sát và những nhược điểm còn tồn tại trong dạy và học:
Đối với việc dạy học Văn ở các cấp học nói chung và ở trường học phổ
thông nói riêng, việc làm sao để đảm bảo được nội dung kiến thức bài học mà
đồng thời học sinh lại phải chủ động chiếm lĩnh kiến thức bài học theo yêu cầu
GV: Nguyễn Quỳnh Anh – THPT Nguyễn Hữu Cảnh - 4 -
KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học: 2010 - 2011
đổi mới về phương pháp hiện nay quả thật là điều không dễ thực hiện. Văn học là
khoa học nhưng cũng là nghệ thuật, vì vậy việc dạy văn đòi hỏi người giáo viên
phải vận dụng nhiều kĩ năng, trong đó không chỉ là kiến thức mà đòi hỏi cả sự
sáng tạo, linh hoạt của người giáo viên ở mỗi bài dạy cụ thể. Sự chuẩn bị kĩ càng
cho việc lên lớp của người giáo viên từ khâu chuẩn bị - tức là phần thiết kế bài
dạy - là một trong những yếu tố góp phần không nhỏ vào hiệu quả của tiết học,
đặc biệt là với những tiết học đọc văn, trong đó có những văn bản nghị luận.
Trước thực tế đó, tôi đã tiến hành khảo sát tìm hiểu về phía học sinh. Cụ thể,
tôi đã phát câu hỏi cho 407 học sinh lớp 10 của trường để các em phát biểu
những cảm nhận và nêu ý kiến, nguyện vọng của mình khi tiếp cận các văn bản
nghị luận. Nội dung câu hỏi là: Em có cảm nhận như thế nào khi học những
một số giải pháp bước đầu mà bản thân thấy có hiệu quả trong quá trình giảng
dạy.
II. Nội dung đề tài:
1. Cơ sở lý luận:
Văn nghị luận là một thể văn ra đời từ rất lâu. Ở Trung Hoa, văn nghị luận
có từ thời Khổng Tử (551- 479
TCN
). Ở Việt Nam, văn nghị luận cũng là một thể
loại có truyền thống lâu đời, có giá trị và tác dụng hết sức to lớn trong trường kì
lịch sử, trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Có thể kể từ Chiếu dời đô(1010)
của Lí Công Uẩn (Lí Thái Tổ), Hịch tướng sĩ (1285) của Trần Quốc Tuấn cho
đến Bình Ngô đại cáo (1428) của Nguyễn Trãi; từ bài Tựa Trích diễm thi tập
(1497) của Hoàng Đức Lương, Chiếu cầu hiền (1788) của Ngô Thì Nhậm đến
bản điều trần Xin lập khoa luật (1867) của Nguyễn Trường Tộ; Chiếu Cần
Vương (1885) đến Hịch đánh Pháp sau này…
Có thể nói trong suốt trường kì lịch sử dân tộc, văn nghị luận là một thể
văn phản ánh rõ nhất đời sống tinh thần, tư tưởng, ý chí và khát vọng của cả một
dân tộc. Do đó, văn nghị luận ngày càng phát triển mạnh mẽ, càng trở nên đa
dạng và phong phú hơn.
Nội dung và cấu trúc của một văn bản nghị luận được hình thành từ các
yếu tố cơ bản là: Vấn đề cần nghị luận (còn gọi là luận đề), luận điểm, luận cứ và
GV: Nguyễn Quỳnh Anh – THPT Nguyễn Hữu Cảnh - 6 -
KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học: 2010 - 2011
lập luận (còn gọi là luận chứng). Như vậy, do văn nghị luận trình bày tư tưởng và
thuyết phục người đọc chủ yếu bằng lí lẽ và lập luận nên hệ thống các luận điểm
hết sức chặt chẽ và luận cứ cũng phải xác đáng. Cho nên khi dạy loại văn bản
này, người dạy nhất thiết bao giờ cũng phải khai thác hệ thống luận điểm, luận cứ
và cách lập luận của văn bản. Tuy nhiên nếu chỉ đơn thuần khai thác các hệ thống
luận điểm như lâu nay chúng ta vẫn làm thì bài học trở nên khô khan, khó gợi
tập”
(Hoàng Đức Lương)
Văn hoá
xã hội
- Đau xót trước thực trạng bảo tồn
sách vở và thơ ca Việt Nam đương
thời. Từ đó nhận thấy nhu cầu bức
thiết phải biên soạn sách.
- Đứng trên quan điểm của cái đẹp.
Hiền tài là nguyên
khí của quốc gia
(Thân Nhân Trung)
Văn hoá
Xã hội
- Phải biết quý trọng hiền tài bởi nó
có mối quan hệ sống còn đối với
việc thịnh suy của đất nước.
- Coi giáo dục là quốc sách hàng
đầu bởi “một dân tộc dốt là một dân
tộc yếu”.
Hưng Đạo Đại
Vương Trần Quốc
Tuấn
(Ngô Sĩ Liên)
Nhân vật
lịch sử
- Ca ngợi người anh hùng tài năng,
trung quân, trọng dân, chính trực,
chân thành, thẳng thắn.
Thái sư Trần Thủ
nước.
- Niềm tự hào dân
tộc và ý thức bảo
vệ nền dân chủ
thái bình.
- Tư tưởng nhân
nghĩa trong mỗi
người.
- Nêu tư tưởng
nhân nghĩa và
chân lí độc lập của
dân tộc.
- Kể tội ác của
giặc (kẻ thù phi
nghĩa).
- Kể lại diễn biến
cuộc kháng chiến
khó khăn (Đại
Việt chính nghĩa).
Tựa “Trích diễm
thi tập”
(Hoàng Đức
Lương)
- Lí do vì sao làm
“Trích diễm thi
tập”.
- Quá trình hoàn
thành, nội dung và
kết cấu.
- Thời gian viết,
KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học: 2010 - 2011
Tuấn
(Ngô Sĩ Liên)
dân tộc.
- Lịch sử người
anh hùng dân tộc
qua các thời kì.
của mỗi người.
- Tấm lòng với
non sông, tổ quốc,
khí phách anh
hùng trong mỗi
người.
phẩm chất, đức độ.
- Dùng các quan
hệ làm sáng tỏ
chân dung, những
tình huống làm
sáng tỏ nhân cách.
- Ðặc trưng: PC chính luận có ba đặc trưng.
+ Tính bình giá công khai: Người nói, người viết bao giờ cũng
bộc lộ công khai, rõ ràng trực tiếp quan điểm, thái độ của mình đối với sự
kiện. Ðây là đặc trưng khu biệt PC ngôn ngữ chính luận với PC ngôn ngữ
khoa học và PC ngôn ngữ nghệ thuật. Nếu văn chương là bình giá gián tiếp,
khoa học là tránh sự thể hiện những yếu tố cảm tính chủ quan thì ngôn ngữ
của PC chính luận bao giờ cũng bộc lộ trực tiếp quan điểm, thái độ của mình
về một vấn đề thời sự của xã hội. Sự bình giá này có thể là của cá nhân hoặc
nhân danh một tổ chức, đoàn thể chính trị nào đó.
+ Tính lập luận chặt chẽ: Ðể bày tỏ chính kiến, giải thích,
- Xót xa trước nỗi
khổ của dân, tự
hào vui sướng
trước chiến thắng
của ta.
- Nêu tiền đề:
chân lí độc lập dân
tộc và tư tưởng
nhân nghĩa.
- CM qua thực
tiễn: kẻ thù phi
nghĩa (tố cáo tội
ác của giặc), Đại
Việt chính nghĩa
(khởi nghĩa Lam
Sơn).
- Rút ra kết luận:
Sức mạnh của
nhân nghĩa, độc
lập dân tộc đã
chiến thắng kẻ thù
xâm lược, tương
lai đất nước huy
hoàng.
- Các thủ pháp
nghệ thuật.
- Hình tượng kì vĩ
mang tầm vóc vũ
trụ, đa dạng.
- Ngôn ngữ: sử
soạn để bảo tồn.
Hưng Đạo Đại
Vương Trần Quốc
Tuấn
(Ngô Sĩ Liên)
- Cảm phục và
ngưỡng mộ sâu
sắc đến mức thần
thánh hoá.
- Tự hào sâu sắc.
- Giới thiệu lai
lịch.
- Trình bày các
mối quan hệ làm
sáng tỏ chân dung
nhân cách, tài
năng.
- Sự hiển linh khi
mất.
- Lời kể hoà quyện
hai yếu tố tự sự và
nghị luận.
2.1.3. Ðặc điểm:
- Ngữ âm: Có ý thức hướng tới chuẩn mực ngữ âm. Khi phát biểu
trong hội nghị hoặc diễn thuyết trong mit tinh, ngữ điệu được xem là phương
tiện bổ sung để tăng thêm sức hấp dẫn, lôi cuốn người nghe.
- Từ ngữ:
+ Ðặc điểm nổi bật nhất là sự có mặt của lớp từ chính trị, thuật
ngữ khoa học. Đây chính là công cụ riêng của PC chính luận. PC chính luận
đòi hỏi khi dùng từ phải luôn luôn tỏ rõ lập trường, quan điểm, chỗ đứng và
đọc, PC ngôn ngữ chính luận sử dụng nhiều lối nói trùng điệp, phép điệp từ,
điệp ngữ, các cách so sánh giàu tính liên tưởng và tương phản để tăng cường
độ tập trung thông tin và hiệu quả bình giá, phán xét.
Ví dụ 1:
GV: Nguyễn Quỳnh Anh – THPT Nguyễn Hữu Cảnh - 13 -
KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học: 2010 - 2011
“Gươm mài đá, đá núi cũng mòn,
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận sạch không kình ngạc,
Đánh hai trận tan tác chim muông…”
(Đại cáo bình Ngô - Nguyễn Trãi)
Ví dụ 2:
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước
mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp…”
(Hiền tài là nguyên khí của quốc gia – Thân Nhân Trung)
Tóm lại: việc vận dụng đặc điểm thể loại trong việc tiếp cận và giảng dạy
các văn bản nghị luận là phù hợp nhưng đòi hỏi sự linh hoạt và sáng tạo mới tiến
hành thiết kế giáo án hiệu quả, phải linh động trong việc kết hợp với các phương
pháp khác mới thực sự để lại dấu ấn cho học sinh qua mỗi bài học.
2.2. Vận dụng lịch sử giai đoạn xuất hiện tác phẩm để lí giải.
Với tư cách là một tác phẩm văn học, văn bản nghị luận cũng chịu sự chi
phối của điều kiện lịch sử xã hội. Những vấn đề phức tạp của lịch sử xuất hiện
thường tác động lớn đến đời sống, số phận con người. Tất cả đều trở thành nguồn
cảm hứng để người nghệ sĩ phản ánh, một mặt ghi lại những biến đổi của thời
cuộc, mặt khác, bày tỏ chính kiến, quan niệm và cách nhìn nhận, đánh giá của
mình. Vì vậy, tác phẩm bao giờ cũng truyền đến người đọc một tư tưởng, một
thái độ, thậm chí có tác dụng liên kết xã hội bằng những hành động cụ thể. Phân
tích các văn bản nghị luận nhất thiết phải tìm hiểu lịch sử xuất hiện của chúng
mới hiểu rõ và lí giải chính xác: Tác phẩm phản ánh vấn đề gì? Phản ánh để làm
là một nhà văn hoá lớn.
- Việc thi cử, giáo dục thời này thịnh đạt nhất
trong lịch sử giáo dục và khoa cử thời phong kiến
Việt Nam, nhiều công trình biên soạn tầm cỡ xuất
hiện: Đại Việt sử kí toàn thư (1479), Thiên Nam
dư hạ tập (hơn trăm bài thơ của Nguyễn Trãi cũng
được sưu tầm thời này).
Hiền tài là nguyên
khí của quốc gia
(Thân Nhân Trung)
1484
Hưng Đạo đại
vương Trần Quốc
Tuấn
(Ngô Sĩ Liên)
Nhà Trần
- Các đời vua: Trần Thái Tông (1225-1258), Trần
Thánh Tông (1258-1278), Trần Nhân Tông (1279-
1293), Trần Anh Tông (1293-1314), Minh Tông,
Hiến Tông, Dụ Tông, Nghệ Tông, Duệ Tông, Phế
GV: Nguyễn Quỳnh Anh – THPT Nguyễn Hữu Cảnh - 15 -
KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học: 2010 - 2011
Đế, Thuận Tông, Hiếu Đế (1314-1400).
- Ba lần chống quân Mông Nguyên, xuất hiện các
nhân tài: Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn, Trần
Quang Khải, Trần Nhật Duật…
Tóm lại: Hiện tượng văn sử bất phân trong văn học trung đại Việt Nam là
cảm quan trong sáng tác nghệ thuật. Vì vậy, việc hiểu tường tận lịch sử là điều
kiện rất cần thiết để triển khai văn bản.
nghệ thuật,… mới giải mã được các lớp ý nghĩa một cách toàn diện, thấu đáo.
Bất cứ một vấn đề nào, nếu được lí giải một cách sâu sắc, thấu tình đạt lí sẽ
thuyết phục được người đọc, từ đó mới xuất hiện những rung cảm thật sự để mà
yêu mến, quý trọng. Tất nhiên, vấn đề sẽ có sức sống dài lâu trong tâm trí người
tiếp nhận, thậm chí có thể hoá thân trong cách ứng xử, cảm quan người tiếp nhận.
2.4. Gia tăng chất “văn học” để giảm bớt tinh chất “lí luận khô khan, giáo
huấn” của các văn bản nghị luận.
“Chất văn học” ở đây nên hiểu là chất nghệ thuật. Mà thực chất của nghệ
thuật là tính trữ tình. Nghệ thuật thường được tạo lập và tác động đến người tiếp
nhận thông qua con đường tình cảm. Tình cảm có thể “chuyển hoá”, “mềm hoá”
mọi vấn đề để người tiếp nhận lĩnh hội một cách tự nguyện như một nhu cầu tinh
thần thực sự. Đây là yêu cầu thiết yếu của giáo viên ngay cả khi dạy những văn
bản nghệ thuật. Vì thế, đòi hỏi người giáo viên Ngữ văn phải có những phẩm
chất, tư chất nghệ thuật thật sự từ sự học tập, rèn luyện thường xuyên mới có
được.
Để “gia tăng chất văn học” cho bài dạy các văn bản nghệ thuật, người dạy
có thể sử dụng nhiều cách: kể chuyện giai thoại, kể chuyện danh nhân, kể chuyện
lịch sử,… một cách lôi cuốn, hấp dẫn, đúng lúc, đúng chỗ, vừa kể vừa kèm theo
những lời bình luận sâu sắc, thấm thía ứng với một khía cạnh nào đó của bài học;
vận dụng những hiểu biết về văn hoá, nghệ thuật mỗi giai đoạn cũng là cách phụ
hoạ cho bài giảng thêm phong phú, sinh động; dùng những bài thơ, câu chuyện
GV: Nguyễn Quỳnh Anh – THPT Nguyễn Hữu Cảnh - 17 -
KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học: 2010 - 2011
có tính chất triết lí phù hợp với từng chi tiết của văn bản; cùng với giọng văn,
khẩu khí, động tác, cử chỉ, điệu bộ là cách diễn đạt lôi cuốn…luôn luôn khiến bài
giảng trở nên nhẹ nhàng, lan toả mà thấm sâu. (Tất nhiên, cần chú ý tính cân đối
về thời gian quy định cho mỗi bài).
2.5. Sử dụng vai trò tưởng tượng, liên tưởng của học sinh để hình tượng có
sức bay bổng và cảm hoá.
biểu của tác phẩm.
+ Liên tưởng và tưởng tượng về điểm nhìn nghệ thuật của tác giả với hiệu quả
nghệ thuật của tác phẩm…
Ví dụ:
• Giả sử em là nhà thơ Nguyễn Trãi khi viết bài “Đại cáo bình Ngô”, lúc viết,
tâm trạng của em sẽ như thế nào? Em định biểu hiện ý tưởng gì?
• Theo em, nếu không có thực tế chiến thắng giặc Minh, Nguyễn Trãi sẽ viết
bài cáo như thế nào? Nội dung có sự khác biệt ra sao?
• Thử tưởng tượng em là Trần Quốc Tuấn, em sẽ nói thế nào khi Thánh Tông
hỏi về thế giặc? Đoạn hiển linh sẽ nói thế nào?
3. Thực hiện: thiết kế bài học.
TỰA “TRÍCH DIỄM THI TẬP” – Hoàng Đức Lương
Tiết 63 (Ban cơ bản)
A. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT:
- Hiểu được niềm tự hào sâu sắc và ý thức trách nhiệm của tác giả
trong việc bảo tồn di sản văn học của dân tộc.
- Nắm được nghệ thuật lập luận của tác giả.
GV: Nguyễn Quỳnh Anh – THPT Nguyễn Hữu Cảnh - 19 -
KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học: 2010 - 2011
B. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG:
1. Kiến thức:
- Ý thức trách nhiệm trong việc bảo tồn di sản văn học của tiền nhân và lời
nhắc nhở các thế hệ sau hãy biết trân trọng và yêu quý di sản văn học của
dân tộc mình.
- Cách lập luận chặt chẽ kết hợp với tính biểu cảm.
2. Kĩ năng:
- Rèn kĩ năng lập luận chặt chẽ để thể hiện quan điểm của người viết một
cách thuyết phục.
C. CHUẨN BỊ CỦA THẦY VÀ TRÒ:
hoàn thành, năm 1497, ông đã tự viết một bài tựa ở đầu sách nói rõ quan điểm
và tâm sự của mình khi giới thiệu sách với bạn đọc.
Tìm hiểu bài học:
Hoạt động của GV & HS Nội dung cần đạt
HĐ1: Hướng dẫn tìm hiểu
tiểu dẫn.
- GV: gọi một HS đọc phần tiểu dẫn sgk/tr.28
và đánh dấu những điểm chính về tác giả, tác
phẩm.
+ GV: Tác phẩm ra đời
trong thời gian nào? Nêu những nét chính về
bối cảnh xã hội thời đại sản sinh ra tác
phẩm?
→ GV dựa vào sự hiểu biết của HS,
bổ sung những chi tiết về lịch sử thời Lê
Thánh Tông để HS có cái nhìn biện chứng
về MQH giữa tác phẩm và thời đại, bước
đầu suy luận được nội dung và ý nghĩa của
I. Giới thiệu khái quát:
1. Tác giả: Hoàng Đức Lương
(?-?)
Sgk/ tr.28.
2. Tác phẩm: Sgk/ tr.28.
a. Hoàn cảnh ra đời và lời tựa
của “Trích diễm thi tập”.
GV: Nguyễn Quỳnh Anh – THPT Nguyễn Hữu Cảnh - 21 -
KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học: 2010 - 2011
tác phẩm. Giới thiệu một vài bài thơ của
Lê Thánh Tông và hội Tao đàn.
KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học: 2010 - 2011
phẩm vào thời điểm ngày ấy?
→ Do câu hỏi này HS đã chuẩn bị ở nhà
nên GV gọi 1 HS đại diện một nhóm trình
bày , các nhóm khác theo dõi và bổ sung.
Nhan đề:
• Trích: tiếng Hán là chọn,
tuyển.
• Diễm: sự kiều diễm, diễm
lệ, cái đẹp, cái hay ở mức độ cao.
• Thi: thơ, diễm thi là những
bài thơ hay.
“Trích diễm thi tập”
là tập thơ tuyển chọn những bài thơ hay
Nội dung: Là tập thơ gồm 6
quyển do Hoàng Đức Lương sưu tầm,
tuyển chọn tác phẩm từ thời Trần đến
đời Lê thế kỉ XV, cuối tập là thơ của
Trần Đức Lương. Bài tựa do ông viết
vào 1497.
Nhận xét:
• Tuyển chọn này thể hiện
tấm lòng trân trọng đối với quá khứ,
là việc làm cụ thể rất có ý nghĩa
nhằm bổ cứu cho tình trạng mất mát
đáng tiếc trong lịch sử VHVN trước
thế kỉ XV.
• Tuyển chọn này phản ánh
quan điểm tiến bộ và đúng đắn trong
→ Đặc điểm:
• Do chính tác giả hoặc người
c. Thể loại “Tựa”
GV: Nguyễn Quỳnh Anh – THPT Nguyễn Hữu Cảnh - 24 -
KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 10 THPT
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học: 2010 - 2011
khác viết nhằm mục đích giới thiệu rõ
thêm với độc giả về cuốn sách: động
cơ, mục đích sáng tác, kết cấu, bố cục,
nội dung hoặc tâm tư, tâm sự của người
viết hoặc là những nhận xét, đánh giá,
phê bình hay cảm nhận của người đọc
(nếu là người khác viết).
• Luôn được đặt ở đầu sách, viết
sau khi đã hoàn thành. Cuối bài thường
ghi rõ họ tên, chức tước của người viết
và ngày tháng, địa điểm viết (gọi là
phần Lạc khoản).
• Thường được viết bằng thể văn
nghị luận, thuyết minh, biểu cảm hoặc
tổng hợp cả 3 loại văn bản này. Đôi khi
chất nghị luận được kết hợp với tự sự,
và thường mang sắc thái trữ tình.
- GV: Căn cứ vào những hiểu biết trên, xác
định các phần và giá trị chung của “trích
diễm thi tập”?
→ Là văn bản mang đầy đủ đặc điểm của
thể loại “tựa”. Đây là văn bản có giá trị lí
luận, phê bình văn học.
HĐ2: Hướng dẫn HS đọc –