skkn kinh nghiệm giảng dạy những văn bản nghị luận trong chương trình ngữ văn lớp10 - Pdf 18

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY VĂN BẢN
NGHỊ LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH
NGỮ VĂN LỚP 10 THPT MỤC LỤC

Trang
I. Lý do chọn đề tài. 2
II. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu. 3
1. Hệ thống văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ văn 10 3
2. Kết quả khảo sát và những nhược điểm còn tồn tại trong dạy và học 5
III. Nội dung đề tài . 6
1. Cơ sở lý luận . 6
2. Giải pháp thực hiện . 7
2.1. Xuất phát từ đặc trưng phong cách thể loại 7
2.1.1. Khái niệm 7
2.1.2. Chức năng và đặc trưng 9
2.1.3. Đặc điểm 13
2.2. Vận dụng lịch sử giai đoạn xuất hiện của tác phẩm để lí giải 15
2.3. Bám sát nội dung và hình thức văn bản để triển khai 16
2.4. Gia tăng chất văn học 17

- Hình thức: thường sử dụng hệ thống lập luận chặt chẽ, nhiều lí lẽ, đa
dạng về phương thức biểu hiện và các phương tiện nghệ thuật.
- Đặc điểm: khô khan, ít phù hợp với tâm lí và nhận thức của học sinh; ít
tính văn chương, khó đi vào cảm xúc của người đọc; ý tưởng thâm thuý
khó nắm bắt,…
- Nguồn tư liệu bổ trợ khan hiếm.
3. Xu thế hội nhập quốc tế hiện nay đang đặt mỗi cá nhân trước nhiều thách
thức mới, nhất là các vấn đề chính trị xã hội. Việc tiếp nhận các văn bản
nghị luận trong nhà trường góp phần không nhỏ trong việc hình thành hệ thống quan điểm, tư tưởng cho thế hệ trẻ trong việc xử lí các vấn đề đặt
ra của cuộc sống một cách đúng đắn, vừa phù hợp với tinh thần thời đại
mới, vừa đảm bảo tinh thần quốc gia, dân tộc.
Trong khi đó, những văn bản nghị luận lại được giảng dạy và tiếp
nhận với tư cách là tác phẩm văn học, vì thế, cái khó của người dạy là vừa
đảm bảo tính khách quan của tác phẩm, vừa truyền lại những rung cảm của
văn bản với tư cách là một sáng tạo nghệ thuật thật sự. Chính vì tầm quan
trọng của thể loại, sự khó khăn của giáo viên khi giảng dạy, tôi xin được đề
xuất một vài kinh nghiệm có tính chất cá nhân góp phần đổi mới hướng
nghiên cứu và giảng dạy môn Văn trong nhà trường qua đề tài: “Kinh
nghiệm giảng dạy những văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ Văn
lớp10”.
II. Thực trạng
1. Hệ thống văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ Văn 10: chiếm
khối lượng khá nhiều.
Bộ
Thể
Loại
Tên văn bản Tác giả Năm Trang

Tập 2
tr.31
Nhân
vật LS

Hưng Đạo đại vương
Trần Quốc Tuấn
Ngô Sĩ Liên
Nhà
Trần
Tập 2
tr.41 (Trích Đại Việt sử kí toàn thư)
Thái sư Trần Thủ Độ
(Trích Đại Việt sử kí toàn thư)
Đọc thêm
Ngô Sĩ Liên
Nhà Lý
– Trần
Tập 2
tr.46

SGK
nâng
cao
Chính
trị
Thư dụ Vương Thông lần nữa

tr.50
Nhân
vật
lịch sử

Phẩm bình nhân vật lịch sử
(Trích Đại Việt sử kí toàn thư)
Đọc thêm
Lê Văn Hưu 1272
Tập 2
tr.43
Thái phó Tô Hiến Thành
(Trích Đại Việt sử lược)
Một số sử gia
Cuối
TK14
Tập 2
tr.53
Thái sư Trần Thủ Độ
(Trích Đại Việt sử kí toàn thư)
Ngô Sĩ Liên
Nhà Lý
- Trần
Tập 2
tr.62
Hưng Đạo Đại Vương
Trần Quốc Tuấn
(Trích Đại Việt sử kí toàn thư)

Đọc thêm

Kết quả trên cho thấy, phần đa học sinh không thích học văn bản
thuộc thể loại nghị luận. Tuy nhiên, có đến 78,62% học sinh nhận ra ý nghĩa
của văn bản nghị luận, nghĩa là nguyên nhân các em không thích học các
văn bản này là do chưa thực sự hứng thú với giờ học mà thôi.
Từ thực trạng trên, cộng với kinh nghiệm giảng dạy cá nhân, tôi nhận
thấy trong dạy và học văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ Văn lớp 10
còn tồn tại những nhược điểm sau: - Phía người dạy:
+ Tâm lí: ít hứng thú, chưa coi trọng, giờ dạy ít hào hứng.
+ Cách truyền đạt: chú ý tính nội dung văn bản nhiều hơn tính nghệ
thuật, vì thế, giờ dạy thiên về lí trí hơn việc biểu đạt những xúc cảm
thẩm mĩ.
+ Kết quả: nghiêng về những thông tin, dư âm của những rung cảm
thẩm mĩ hạn chế.
- Phía người học:
+ Tâm lí tiếp nhận: nghiêng về tìm hiểu những thông tin hơn là việc
biểu lộ cảm xúc.
+ Cách tiếp nhận: nghiêng về mặt xã hội, chính trị.
+ Kết quả: giờ học tác phẩm thành giờ tìm hiểu lịch sử.
Với khối lượng văn bảnkhá nhiều và thực tế dạy - học nêu trên, tôi đề
xuất một số giải pháp bước đầu mà bản thân thấy có hiệu quả trong quá
trình giảng dạy.
II. Nội dung đề tài:
1. Cơ sở lý luận:
Văn nghị luận là một thể văn ra đời từ rất lâu. Ở Trung Hoa, văn nghị
luận có từ thời Khổng Tử (551- 479
TCN
). Ở Việt Nam, văn nghị luận cũng là

sau đây:
2.1.1. Khái niệm:
Phong cách (PC) ngôn ngữ chính luận là PC được dùng trong lĩnh vực
chính trị xã hội. Người giao tiếp ở PC này thường bày tỏ chính kiến, bộc lộ
công khai quan điểm chính trị, tư tưởng của mình đối với những vấn đề thời
sự nóng bỏng của xã hội. Ðây là khái niệm ít nhiều mang tính truyền thống
và việc phân giới giữa phong cách này với PC ngôn ngữ khoa học, PC ngôn
ngữ báo chí vẫn còn một số quan niệm chưa thống nhất.

Ví dụ:
Tác phẩm Lĩnh vực Quan điểm, tư tưởng Ghi chú
Đại cáo bình Ngô
(Nguyễn Trãi)
Chính trị
- Vạch trần âm mưu xâm lược, lên
án chủ trương cai trị thâm độc, tố
cáo mạnh mẽ những hành động độc
ác của giặc Minh.
- Đứng trên quan điểm nhân nghĩa
của nhân dân: lấy dân làm gốc, coi
trọng tư tưởng nhân đạo, nhân bản
cao cả làm nền tảng cho hành động.

Tựa “Trích diễm thi
tập”
(Hoàng Đức Lương)
Văn hoá


Thái sư Trần Thủ Độ

(Ngô Sĩ Liên)
Nhân vật
Lịch sử
- Ca ngợi người anh hùng trung
thực, thẳng thắn, độ lượng, nghiêm
minh, chí công vô tư.

2.1.2. Chức năng và đặc trưng:
- Chức năng:
PC chính luận có ba chức năng: thông báo, tác động và chứng minh.
Chính vì thực hiện các chức năng này mà ta thấy PC ngôn ngữ chính luận
có sự thể hiện đặc trưng và đặc điểm ngôn ngữ có nét giống với các loại
phong cách ngôn ngữ khác.
Ví dụ : Chức năng một số văn bản nghị luận.
Tác phẩm
Chức năng
Thông báo Tác động Chứng minh
Đại cáo bình Ngô

(Nguyễn Trãi)
- Chiến thắng
giặc Minh và nền
dân chủ thái
bình. Kết thúc
chiến tranh.
- Sức mạnh của
tư tưởng nhân

- Quá trình hoàn
thành, nội dung
và kết cấu.

- Thời gian viết,
họ tên, chức
danh, quê quán,
tên hiệu người
viết.
trọng và bảo lưu
cái đẹp của mỗi
người.
- Niềm tự hào
dân tộc, tình cảm
xót xa trước sự
tàn lụi của cái
đẹp.
tầm, thu lượm tác
phẩm qua các
thời kì lịch sử.
- Tuyển chọn,
sắp xếp, đặt tên
sách.
- Đưa thêm các
bài thơ của mình
vào phần cuối tác
phẩm.
Hưng Đạo Đại
Vương Trần
Quốc Tuấn

gián tiếp, khoa học là tránh sự thể hiện những yếu tố cảm tính chủ quan thì ngôn ngữ của PC chính luận bao giờ cũng bộc lộ trực tiếp quan
điểm, thái độ của mình về một vấn đề thời sự của xã hội. Sự bình giá
này có thể là của cá nhân hoặc nhân danh một tổ chức, đoàn thể chính
trị nào đó.
+ Tính lập luận chặt chẽ: Ðể bày tỏ chính kiến, giải thích, thuyết phục
và động viên mọi người tham gia vào việc giải quyết những vấn đề thời
sự nóng hổi của đất nước, sự diễn đạt ở PC này đòi hỏi có tính chất lập
thuyết. Nghĩa là phải bằng những lí lẽ đúng đắn, có căn cứ vững chắc,
dựa trên cơ sở những luận điểm, luận cứ khoa học mà đấu tranh, thuyết
phục, động viên. Tính lập luận chặt chẽ thể hiện ở việc khai thác những
quan hệ chiều sâu giữa hình thức ngôn ngữ và mục đích biểu đạt. Một
văn bản chính luận hay thường là những văn bản chứa đựng nhiều hàm
ý sâu sắc, có sức chinh phục lòng người, có sức cuốn hút mãnh liệt.
+ Tính truyền cảm: PC ngôn ngữ chính luận có tính truyền cảm mạnh
mẽ, thông qua sự diễn đạt hùng hồn, sinh động, có sức hấp dẫn và đạt
hiệu quả cao, thuyết phục cả bằng lí trí và tình cảm, đạo đức. Ðặc trưng
này tạo nên sự khu biệt giữa PC ngôn ngữ chính luận với PC ngôn ngữ
khoa học và khiến PC này gần với PC ngôn ngữ nghệ thuật. Trong văn
bản chính luận, chúng ta thường bắt gặp các biện pháp tu từ, những từ
ngữ có đặc điểm tu từ cao nhằm gây ấn tượng mạnh mẽ về mặt âm
thanh và ý nghĩa.
Ví dụ : Đặc trưng một số văn bản nghị luận.
Tác phẩm
Đặc trưng
Tính bình giá
công khai
Tính lập luận

Sức mạnh của
nhân nghĩa, độc
lập dân tộc đã
chiến thắng kẻ
thù xâm lược,
tương lai đất
nước huy hoàng.
- Hình tượng kì
vĩ mang tầm vóc
vũ trụ, đa dạng.
- Ngôn ngữ: sử
dụng các động từ
mạnh, các tính từ
chỉ mức độ tối
đa.
- Giọng điệu đa
dạng, nhịp điệu
linh hoạt
Tựa“Trích diễm
thi tập”
(Hoàng Đức
Lương)
- Xót xa trước
lòng tự hào dân
tộc bị tổn
thương.
- Khiêm tốn,
nhún nhường khi
nói về mình.
- Các lí do khiến

tài năng.
- Sự hiển linh khi
mất.
- Lời kể hoà
quyện hai yếu tố
tự sự và nghị
luận.
2.1.3. Ðặc điểm:
- Ngữ âm: Có ý thức hướng tới chuẩn mực ngữ âm. Khi phát biểu trong
hội nghị hoặc diễn thuyết trong mit tinh, ngữ điệu được xem là phương
tiện bổ sung để tăng thêm sức hấp dẫn, lôi cuốn người nghe.
- Từ ngữ:
+ Ðặc điểm nổi bật nhất là sự có mặt của lớp từ chính trị, thuật ngữ khoa
học. Đây chính là công cụ riêng của PC chính luận. PC chính luận đòi
hỏi khi dùng từ phải luôn luôn tỏ rõ lập trường, quan điểm, chỗ đứng và
tình cảm, thái độ của mình.
Ví dụ:
“Xã tắc từ đây vững bền,
Giang sơn từ đây đổi mới.
Kiền khôn bĩ rồi lại thái,
Nhật nguyệt hối rồi lại minh.
Muôn thuở nền thái bình vững chắc,…” (Đại cáo bình Ngô - Nguyễn Trãi)
+ Từ ngữ đòi hỏi sự minh xác cao. Ðề tài được đưa ra bàn luận ở PC
ngôn ngữ chính luận là những vấn đề thời sự nóng hổi của xã hội cho
nên khi cần thiết người viết phải dùng tất cả các lớp từ ngữ có quan hệ
đến đề tài này.
+ Khi cần bày tỏ sự đánh giá tình cảm của mình một cách mạnh mẽ đối

Tóm lại: việc vận dụng đặc điểm thể loại trong việc tiếp cận và giảng
dạy các văn bản nghị luận là phù hợp nhưng đòi hỏi sự linh hoạt và sáng tạo
mới tiến hành thiết kế giáo án hiệu quả, phải linh động trong việc kết hợp
với các phương pháp khác mới thực sự để lại dấu ấn cho học sinh qua mỗi
bài học.

2.2. Vận dụng lịch sử giai đoạn xuất hiện tác phẩm để lí giải.
Với tư cách là một tác phẩm văn học, văn bản nghị luận cũng chịu sự
chi phối của điều kiện lịch sử xã hội. Những vấn đề phức tạp của lịch sử
xuất hiện thường tác động lớn đến đời sống, số phận con người. Tất cả đều
trở thành nguồn cảm hứng để người nghệ sĩ phản ánh, một mặt ghi lại những
biến đổi của thời cuộc, mặt khác, bày tỏ chính kiến, quan niệm và cách nhìn
nhận, đánh giá của mình. Vì vậy, tác phẩm bao giờ cũng truyền đến người
đọc một tư tưởng, một thái độ, thậm chí có tác dụng liên kết xã hội bằng
những hành động cụ thể. Phân tích các văn bản nghị luận nhất thiết phải tìm
hiểu lịch sử xuất hiện của chúng mới hiểu rõ và lí giải chính xác: Tác phẩm
phản ánh vấn đề gì? Phản ánh để làm gì? Phản ánh như thế nào? Tác phẩm
có ý nghĩa ra sao với đương thời và hiện nay? Bài học rút ra từ sự phản ánh
đó?.v.v… Ví dụ: Khái quát sơ bộ về lịch sử xuất hiện một số văn bản nghị luận trên
như sau:
Tác phẩm Thời điểm

Xã hội
Đại cáo bình Ngô
(Nguyễn Trãi)
Cuối 1427
- Triều đại Hồ Quý Ly (1400-1407), Triều đại Hậu

Hưng Đạo đại
vương Trần Quốc
Tuấn
Nhà Trần
- Các đời vua: Trần Thái Tông (1225-1258), Trần
Thánh Tông (1258-1278), Trần Nhân Tông (1279-
1293), Trần Anh Tông (1293-1314), Minh Tông, (Ngô Sĩ Liên) Hiến Tông, Dụ Tông, Nghệ Tông, Duệ Tông, Phế
Đế, Thuận Tông, Hiếu Đế (1314-1400).
- Ba lần chống quân Mông Nguyên, xuất hiện các
nhân tài: Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn, Trần
Quang Khải, Trần Nhật Duật…
Tóm lại: Hiện tượng văn sử bất phân trong văn học trung đại Việt
Nam là cảm quan trong sáng tác nghệ thuật. Vì vậy, việc hiểu tường tận lịch
sử là điều kiện rất cần thiết để triển khai văn bản.
2.3. Bám sát nội dung và hình thức văn bản để triển khai.
- Tìm hiểu, nghiên cứu bất cứ tác phẩm văn học nào người giảng dạy
cũng phải tiến hành trực tiếp trên hai phương diện nội dung và hình
thức. Đây là những căn cứ cụ thể và khoa học nhất để người tiếp nhận
lĩnh hội tác phẩm. Dưới góc độ lí luận văn học, nội dung và hình thức
là hai phạm trù có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất không thể tách rời,
tác động qua lại, quy định tính chất tồn tại của nhau. Nếu nội dung tác
phẩm cho phép người đọc lí giải câu hỏi: tác phẩm viết về vấn đề gì,
mục đích, ý nghĩa, giá trị,… thì hình thức giúp người đọc lí giải tác
phẩm viết như thế nào, hiệu quả ra sao, tính thẩm mĩ, khả năng rung
cảm và thuyết phục người đọc thế nào,…
- Khi bám sát văn bản trên hai phương diện này, cần chỉ ra:
+ Về mặt nội dung: cần tìm hiểu và nắm đề tài, chủ đề, cảm hứng, hình

tập, rèn luyện thường xuyên mới có được.
Để “gia tăng chất văn học” cho bài dạy các văn bản nghệ thuật, người
dạy có thể sử dụng nhiều cách: kể chuyện giai thoại, kể chuyện danh nhân,
kể chuyện lịch sử,… một cách lôi cuốn, hấp dẫn, đúng lúc, đúng chỗ, vừa kể
vừa kèm theo những lời bình luận sâu sắc, thấm thía ứng với một khía cạnh
nào đó của bài học; vận dụng những hiểu biết về văn hoá, nghệ thuật mỗi giai đoạn cũng là cách phụ hoạ cho bài giảng thêm phong phú, sinh động;
dùng những bài thơ, câu chuyện có tính chất triết lí phù hợp với từng chi tiết
của văn bản; cùng với giọng văn, khẩu khí, động tác, cử chỉ, điệu bộ là cách
diễn đạt lôi cuốn…luôn luôn khiến bài giảng trở nên nhẹ nhàng, lan toả mà
thấm sâu. (Tất nhiên, cần chú ý tính cân đối về thời gian quy định cho mỗi
bài).
2.5. Sử dụng vai trò tưởng tượng, liên tưởng của học sinh để hình tượng
có sức bay bổng và cảm hoá.
Theo tâm lí học, mỗi biểu hiện của tình cảm đều gắn với động cơ hoạt
động của con người. Tình cảm không tự nhiên bột phát mà thường do một
điều kiện cụ thể có tính xác định. Nếu tạo ra được hoàn cảnh “có vấn đề” sẽ
làm nảy sinh cảm xúc, sự kích thích của cảm xúc trong quá trình tri giác sẽ
là điều kiện hoạt động của trí nhớ và hình thành biểu tượng. Theo đó, hình
dung, liên tưởng và tưởng tượng càng được mở rộng. Nếu được đẩy mạnh,
sự hút dẫn đối tượng vào bài học càng lớn.
Liên tưởng, tưởng tượng của học sinh có các loại sau đây: tưởng
tượng tái hiện, sáng tạo, có phê phán, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái
quát. Tuỳ thuộc vào sự dẫn dắt, định hướng của giáo viên, sự liên tưởng và
tưởng tượng của học sinh có những biểu hiện cụ thể khiến bài học sinh
động, hấp dẫn hơn. Vì thế, vai trò của giáo viên là xây dựng câu hỏi (nghĩa
là làm thay đổi tình thái của giờ học, hay nói cách khác là mở ra tình huống
“có vấn đề”, xác định tâm thế thực tại và đặt học sinh vào các yêu cầu của

TỰA “TRÍCH DIỄM THI TẬP” – Hoàng Đức Lương
Tiết 63 (Ban cơ bản)
A. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT: - Hiểu được niềm tự hào sâu sắc và ý thức trách nhiệm của tác giả trong
việc bảo tồn di sản văn học của dân tộc.
- Nắm được nghệ thuật lập luận của tác giả.
B. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG:
1. Kiến thức:
- Ý thức trách nhiệm trong việc bảo tồn di sản văn học của tiền nhân và
lời nhắc nhở các thế hệ sau hãy biết trân trọng và yêu quý di sản văn
học của dân tộc mình.
- Cách lập luận chặt chẽ kết hợp với tính biểu cảm.
2. Kĩ năng:
- Rèn kĩ năng lập luận chặt chẽ để thể hiện quan điểm của người viết
một cách thuyết phục.
C. CHUẨN BỊ CỦA THẦY VÀ TRÒ:
1. Máy chiếu (nếu có).
2. Sưu tầm và ghi lại lời nhận xét về:
- Tập thơ “Sóng Hồng” với lời nói đầu do chính tác giả viết.
- Tập thơ “Từ ấy” của Tố Hữu với lời nói đầu “Mấy ý nghĩ” do GS
Đặng Thai Mai viết.
- Tiểu thuyết “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố với lời tựa của Nguyên
Hồng hoặc Nguyễn Tuân.
- Lời bạt hoặc lời nói đầu của một tác phẩm văn học nước ngoài
(Tam quốc – La Quán Trung, Thuỷ Hử - Thi Nại Am, Chiến tranh
và hoà bình – L.Tônxtoi…)
D. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1.Ổn định :

thời đại sản sinh ra tác phẩm?
I. Giới thiệu khái quát:
1. Tác giả: Hoàng Đức Lương
(?-?)
Sgk/ tr.28.
2. Tác phẩm: Sgk/ tr.28.
a. Hoàn cảnh ra đời và lời ® GV dựa vào sự hiểu biết của HS, bổ
sung những chi tiết về lịch sử thời Lê
Thánh Tông để HS có cái nhìn biện
chứng về MQH giữa tác phẩm và thời
đại, bước đầu suy luận được nội dung và
ý nghĩa của tác phẩm. Giới thiệu một vài
bài thơ của Lê Thánh Tông và hội Tao
đàn.
Giai đoạn nửa sau thế kỉ XV, thời Lê
Thánh Tông: triều đại thịnh trị nhất
của nhà Lê và chế độ PKViệt Nam
về nhiều mặt: kinh tế phát triển, XH
ổn định, bờ cõi mở mang, nhiều hiền
tài (Lương Thế Vinh, Thân Nhân
Trung, Đỗ Nhuận…), văn chương
được trọng dụng (hội Tao Đàn do Lê
Thánh Tông lập gồm “Nhị thập bát
tú” – 28 ngôi sao về thơ ca. Đây
cũng là TK mà tinh thần và ý chí độc
lập dân tộc lên cao. Sau chiến thắng
quân Minh, ngoài việc ổn định và

“Trích diễm thi tập”? Em hiểu như thế nào
về nhan đề tác phẩm? Hãy giới thiệu ngắn
gọn về tác phẩm? Có thể nhận xét như thế
nào về việc làm này của tác giả, đặc biệt là
đặt tác phẩm vào thời điểm ngày ấy?
® Do câu hỏi này HS đã chuẩn bị ở nhà
nên GV gọi 1 HS đại diện một nhóm
trình bày , các nhóm khác theo dõi và bổ
sung.
Nhan đề:
· Trích: tiếng Hán là chọn, tuyển.
· Diễm: sự kiều diễm, diễm lệ, cái
đẹp, cái hay ở mức độ cao.
· Thi: thơ, diễm thi là những bài
thơ hay.
Ø “Trích diễm thi tập” là tập thơ tuyển
chọn những bài thơ hay
Nội dung: Là tập thơ gồm 6 quyển
do Hoàng Đức Lương sưu tầm, tuyển
chọn tác phẩm từ thời Trần đến đời
Lê thế kỉ XV, cuối tập là thơ của
Trần Đức Lương. Bài tựa do ông viết
vào 1497.
Nhận xét:
· Tuyển chọn này thể hiện tấm lòng
trân trọng đối với quá khứ, là việc

b. Nhan đề: Tuyển tập những
bài thơ hay.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status