DẠY HỌC VĂN BẢN CHÍNH LUẬN THEO ĐẶC TRƯNG LOẠI HÌNH
(Vận dụng vào dạy học các văn bản chính luận trong chương trình Ngữ văn 12)
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
- Sự đổi mới trong dạy học văn thể hiện trên nhiều phương diện nhưng trước hết và
rõ nhất ở nội ndung chương trình và phương pháp dạy học. Nếu đổi mới phương
pháp dạy học là “khâu đột phá” thì đổi mới nội dung chương trình là tiền đề cơ
bản. Trong đối mới chương trình Ngữ văn được đổi mới từ trong quan niệm và các
sắp xếp chương trình. Nếu trước đây, các văn bản được đưa vào chương trình theo
quan niệm lịch sử phát triển thì chương trình đổi mới hiện nay, từ yêu cầu hội nhập
chương trình được tổ chức theo cấu trúc thể loại. Văn Chính luận cũng được chú
trọng cả về phương diện số lượng văn bản, cả về nội dung chủ đề. Vì thế, việc định
hình một hướng tiếp cận, một phương pháp dạy học văn bản là cần thiết cho cả
người dạy và người học.
- Sự đổi mới nội dung đồng thời cũng yêu cầu đổi mới về phương pháp dạy học.
Văn bản nghị luận là một loại hình có những đặc trưng riêng, vì vậy để là nổi bật
được giá trị đặc sắc của những văn bản mang tính hành chức này thì nhát thiết phải
dạy học theo đặc trưng loại hình.
2. Cơ sở và phương pháp thực hiện:
- Thực hiện đề tài này, tôi dựa trên cơ sở khoa học lý luận (quy luật vận động và
phát triển của thể loại văn học, quy luật tiếp nhận văn bản văn học) và cơ sở thực
tiễn (dạy học phải gắn lý luận với thực tiễn, kết quả dạy học thể nghiệm)
- Phương pháp thực hiện:
Phương pháp phân tích – tổng hợp.
Phương pháp khảo sát thống kê.
Phương pháp so sanh đối chiếu.
3. Giới hạn (phạm vi) đối tượng:
- Giới hạn đối tượng: Trong chương trình Ngữ văn mới nhiều thể loại văn học mới
được bổ sung và tăng cường như ký, kịch, phê bình,… Những trong điều kiện của
đề tài tôi chỉ xem xét, nghiên cứu và đề xuất kinh nghiệm về hướng tiếp cận các
nhiều người quan tâm. Gorrddiep nói: “Chính luận có mục đích tuyên truyền, tổ
chức quần chúng đưa họ tời chiến đấu. Nhiệm vụ nó không phải là bày tỏ và giải
thích những vấn đề chính trị quan trọng, mà còn thuyết phục người nghe, làm cho
họ trở thành những người tham gia tích cực vào việc giải quyết vấn đề xã hội
trước mắt” (sđd). Việc bổ sung lượng văn chính luận trong chương trình Ngữ văn
là xuất phát từ nhu cầu hội nhập mà trước hết là nhu cầu nhật dụng hàng ngày. Đó
là hình thành cho học sinh tư duy logic văn học và làm rõ vai trò của văn học trong
2
DẠY HỌC VĂN BẢN CHÍNH LUẬN THEO ĐẶC TRƯNG LOẠI HÌNH
(Vận dụng vào dạy học các văn bản chính luận trong chương trình Ngữ văn 12)
cuộc sống hiện nay. Học sinh có thể bộc lộ quan điểm, thái độ của mình trước các
hiện tượng, các vấn đề của cuộc sống.
1.2. Đặc trưng cơ bản.
- Tính luận đề là đặc trương nổi bật của văn chính luận. Văn bản chính luận nào
cũng tập trung làm rõ một luận đề. Văn bản tự sự, trữ tình cũng hướng vào một chủ
đề, nhưng chủ đề của văn bản tự sự và trữ tình thường bộc lộ một cách gián tiếp,
không rõ ràng và mang tính hình tượng, ngược lại văn bản chính luận có tính luận
đề rõ ràng. Văn chính luận thường được ra đời từ nhu cầu thực tiễn cuộc sống nên
chủ đề luôn gắn với những vấn đề thiết yếu, quan trong trong cuộc sống. Chủ đề
của văn bản nghị luận được thể hiện đầy đủ ngay từ nhan đề của văn bản. Vì thế,
người đọc dễ dàng nắm bắt và xác định chủ đề của văn bản.
- Lập luận và tính logic: Vẻ đẹp độc đáo của văn chính luận không phải từ hình
tượng nghệ thuật mà chủ yếu ở vẻ đẹp trí tuệ. Đó là tính logic. Văn chính luận
không triển khai theo mạch cảm xúc của loại hình trữ tình, không theo cốt truyện
như loại hình tự sự mà được triển khai qua hệ thống lập luận có tính logic cao. Lập
luận trong văn chính luận để thể hiện qua hệ thống luận điểm, luận cứ và luận
chứng. Trong lập luận của văn chính luận thường được triển khai theo 4 dạng thức
+ Nghị luận về văn hóa: Nhìn về vốn văn hóa của dân tộc – Trần Đình Hượu
+ Nghị luận về xã hội: Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS –
Côphianan,
+ Nghị luận về văn hóa, đạo đức, tôn giáo: Hiền tài là nguyên khí quốc gia – Thân
Nhân Trung, Xin lập khoa luật – Nguyễn Trường Tộ, Tựa Trích diễm thi tập –
Hoàng Đức Lương…
2. Dạy học văn bản chính luận trong chương trình THPT.
2.1. Thực trạng dạy học các văn bản chính luận.
- Dù không phải là những kiểu bài mới những dạy học các văn bản chính luận theo
cách giảng văn trước đây hay đọc hiểu bây giờ cũng đang là vấn đề mới mẻ và gây
nhiều khó khăn, bỡ ngỡ cho giáo viên và học sinh.
- Phần lớn giáo viên đang tìm tòi, thể nghiệm một hướng tiếp cận và dạy học mới
đối với văn bản chính luận những hiệu quả chưa cao. Vì thế cả người dạy và người
học luôn có một cảm giác là văn bản chính luận thiếu chất văn nên khô khăn, nặng
nề.
Một hệ quả tất yếu là học sinh không lĩnh hộc được văn bản chính luận.
Trong quá trình dạy học, giáo viên không phát hiện và đinh hướng cho học sinh
tiếp cận những giá trị độc đáo của văn chính luận.
2.2. Dạy học văn bản chính luận theo đặc trưng loại hình.
4
DẠY HỌC VĂN BẢN CHÍNH LUẬN THEO ĐẶC TRƯNG LOẠI HÌNH
(Vận dụng vào dạy học các văn bản chính luận trong chương trình Ngữ văn 12)
Đậy là những thể nghiệm bước đầu nên chúng tôi đề xuất hướng tiếp cận và dạy
học văn bản chính luận thông qua các bước tiếp cận và khai thác văn bản.
- Trước hết là yêu cầu học sinh đọc và xác định luận đề của văn bản. Luận đề nghĩa
là vấn đề mà người viết đề cập đến là quyền độc lập dân tộc, là phòng chống đại
dịch AIDS, là vốn văn hóa dân tộc… Khác với văn bản tự sự hay văn bản trữ tình,
gợi ý để học sinh mở rộng để học sinh có thể thấy những nét độc đáo riêng của
mỗi nhà văn và mỗi đề tài. Từ đó học sinh có thể liên hệ trong thực tiễn cuộc sống.
2.3. Vận dụng vào dạy học văn bản chính luận trong chương trình Ngữ văn 12.
- Tuyên ngôn độc lập (Hồ CHí Minh):
Tuyên ngôn độc lập được đánh giá là áng thiên cổ hung văn, một áng văn
chính luận kiệt xuất mẫu mực. Trước đay khi dạy văn bản tuyên ngôn đọc lập, giáo
viên thương tập trung học sinh vào khai thác văn bản theo hai cách:
Cách thứ nhất: khai thác văn bản theo cách phân chia bố cục: đoạn mở đầu,
đoạn nội dung và đoạn kết.
Cách thứ hai: khai thức trên cơ sở hình thành các ý (các luận điểm): Cơ sở lí
luận, cơ sở thực tiễn và phần tuyên ngôn.
Với cách khai thác văn bản theo hướng thứ nhất không làm rõ đặc trưng văn
bản chính luận. Các kết luận rút ra thường mang tính suy diễn.
Cách khai thác văn bản theo hướng thứ hai đã tiếp cận hướng khai thác văn
bản chính luận. Tuy nhiên, phần lớn giáo viên không làm rõ tính luận đề của văn
bản, cách tổ chức luận điểm theo logic của ang tuyên ngôn mà học sinh đã được
học ở chương trình Ngữ văn 10 (Đại cáo bình Ngô).
Vì vậy, từ thực tiễn dạy học và kết quả dạy học thể nghiệm, chúng tôi đề
xuất trước hết cần giúp học sinh xác định luận đề:
Luận đề của văn bản Tuyên ngôn độc lập là: Tuyên bố về quyền độc lập của
dân tộc. Từ việc xác định luận đề, phải gợi mở cho học sinh suy nghĩ, vì sao lại
phải tuyên bố về quyền độc lập (Học sinh liên hệ đến hoàn cảnh ra đời của văn
bản). Tiếp đó gợi mở cho học sinh thông thương để tuyên bố về một điều gì chúng
ta thường triển khai trên các phương diện nào để thuyết phục người nghe (cơ sở
của bản tuyên ngôn). Sau khi xác định cơ sở của bản tuyên ngôn cần gợi cho học
sinh thấy được nét độc đáo trong tuyên ngôn của Hồ Chí Minh từ các sử dụng lí lẽ,
dẫn chứng, cách sử dụng ngôn từ, giọng điệu…. Từ việc tiếp cận văn bản Tuyên
ngôn độc lập, học sinh có thể thấy được cái tôi trữ tình của tác giả Hồ Chí Minh:
Một con người có tầm tư tưởng, vốn văn hóa phong phú, một con người có lòng
thế giới phòng chống AIDS học sinh sẽ làm quen và hình thành các kĩ năng khi
viết các bài văn nghị luận về một hiện tượng xã hội.
- Nhìn về vốn văn hóa dân tộc (Trần Đình Hượu):
Đây cũng là một văn bản mới trong chương trình Ngữ văn. Nhìn về vốn văn
hóa dân tộc vừa đề cập đến một vấn đề ngàn đời mang tính tuyền thống của dân tộc
vừa là một vấn đề xã hội mang tính nhật dụng cao.
7
DY HC VN BN CHNH LUN THEO C TRNG LOI HèNH
(Vn dng vo dy hc cỏc vn bn chớnh lun trong chng trỡnh Ng vn 12)
Nhỡn v vn vn húa ca dõn tc l mt vn bn khú tip cn trờn nhiu gc
. Trc ht ú l vn vn húa ca dõn tc. T xa dn ny, chỳng ta vn luụn
nhỡn nhn v ỏnh giỏ v nhng gỡ tt p nht cho truyn thng vn húa dõn tc.
Ngi vit cng nhỡn v vn vn húa di con mt ca mt nh khoa hc. Vỡ
th khụng nhng giỏo viờn khú tip cn m hc sinh cng khụng d nm bt c
ni dung ca vn bn.
Khi dy hc theo dc trng loi hỡnh, giỏo viờn s nh hng cho hc sinh
xỏc nh lun . Nhỡn v vn vn húa dõn tc thc cht l ỏnh giỏ li vn vn
húa dõn tc. Rừ rng khi xỏc nh lun , hc sinh s liờn tng n cỏc lun
im m ngi vit s trin khai: ú l c im ca nn vn húa, th mnh v hn
ch, nhng nh hng v con ng hỡnh thnh bn sc vn húa dõn tc.
Trong cỏch trin khai cỏc lun im, sc thuyt phc ca bi vit khụng phi
gc m chng c m lớ l, cỏi nhỡn khoa hc. Vỡ th giỏo viờn cn gi m
hc sinh thy c nột c sc trong bi vit ca Trn ỡnh Hu.
Qua bi vit ta cng d dng thy thỏi ca tỏc gi i vi bn sc vn húa
dõn tc. ú l nim t ho pha ln ni nim trc nhng hn ch ca nờn vn húa.
3. Giỏo ỏn v kt qu dy hc th nghim.
Học sinh: sgk, vở soạn, tìm kiếm tư liệu về đại dịch HIV/AIDS.
* Cách thức: Nêu vấn đề, gợi mở, thảo luận.....
C. Tiến trình tổ chức dạy - học.
1. Ổn định lớp.
2. Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra phần soạn bài, chuẩn bị tư liệu cho bài học mới.
3. Bài mới.
HOẠT ĐỘNG CỦA GV & HS
HĐ1: HD HS tìm hiểu phần Tiểu dẫn.
NỘI DUNG CƠ BẢN
I.Tiểu dẫn.
TT1:Gv cho hs về nhà tìm hiểu.
1. Tác giả: sgk.
TT2: Gv giói thiệu cho hs đây là một
văn bản nhật dụng, không phải là một
thể loại văn học.Tiêu chí nội dung đề
tài là những vấn đề lớn lao, có ý nghĩa
thời sự, liên quan đến cả cộng đồng để
hướng hs vào phần đọc-hiểu văn bản.
2. Tác phẩm: sgk.
TT3: Hs đọc văn bản và tìm bố cục.
- Theo em văn bản này được chia thành
mấy phần? Nội dung?
3. Bố cục:3 phần.
Phần 1: Từ đầu -> năm 2005: Thực trạng
quốc gia.
Nhóm 2: Tác giả đã làm thế nào để cho - Quỹ toàn cầu về phòng chống AIDS,
việc tổng kết tình hình thực tế của mình lao và sốt rét đã được thông qua.
không chỉ trung thực, đáng tin cậy mà - Các quốc gia đã xây dựng chiến lược
còn là cơ sở để dẫn tới những kiến nghị phòng chông HIV/AIDS.
mà ông nêu ra sau đó.
- Các tổ chức, công ty, nhiều nhóm từ
thiện đã chung tay vào ứng phó với đại
dịch này
b.AIDS đại dịch.
- Dịch HIV/AIDS vẫn đang hoành hành,
gây tỉ lệ tử vong cao và không có dấu
hiệu suy giảm.
-Mỗi phút đồng hồ có 10 người bị nhiễm
HIV.
- Tuổi thọ người dân bị giảm sút,tốc độ
lây lan đáng báo động ở phụ nữ.
-Bệnh dịch đang lan rộng nhanh đặc biệt
là khu vực Đông Âu, Châu Á, từ dãy núi
Nhóm 3:Vì sao tác giả khẳng định U- ran đến Thái Bình Dương.
Không nên phân biệt kì thị, không ảo => AIDS là đại dịch là hiểm hoạ cho đời
10
DẠY HỌC VĂN BẢN CHÍNH LUẬN THEO ĐẶC TRƯNG LOẠI HÌNH
(Vận dụng vào dạy học các văn bản chính luận trong chương trình Ngữ văn 12)
Hoạt động 3: Luyện tập, củng cố.
ngôn từ, sao cho có thể nói được nhiêiù ý
TT1: Ấn tượng của em sau khi học nghĩ, tình cảm lớn lao bằng một số lời tối
xong văn bản?
giản. Tác giả tạo ra những câu văn cô
đọng , hình ảnh dễ hình dung và gợi cảm.
III. Tổng kết.
TT2: HS đọc Ghi nhớ
- Không ai có thể cố thủ trong thành luỹ
Hết tiết 1.
của sự im lặng, để lãng tránh trách nhiệm
Tiết 2
tham gia vào cuộc chiến đấu chống lại
Hoạt động 1: Gv cho hs nhắc lại nội đại dịch HIV/AIDS.
dung bài học.
- Không nên giữ thái độ phân biệt đối xử
Hoạt động 2: Hướng dẫn hs viết bài thu với những người nhiễm HIV/AIDS.
10/50
40/50
đề liên quan
6/50
35/50
điểm triển khai
20/50
45/50
3.3. Kiến nghị đề xuất từ kết quả dạy học thể nghiệm.
C. KẾT LUẬN
Văn bản chính luận là loại hình văn bản không những có giá trị văn học mà còn có
giá trị nhật dụng, thực tiễn cho học sinh. Hình thành kĩ năng đọc hiểu văn bản
chính luận cũng chính là hình thành kĩ năng viết văn nghị luận cho học sinh.
12