1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN HUY ĐÔNG
DẠY - HỌC CÁC TRÍCH ĐOẠN SỬ THI
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TỪ ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN VĂN VÀ TIẾNG VIỆT
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYỄN VĂN HẠNH
VINH - 2011
2
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Với tư cách là một thể loại văn học, sử thi cổ đại đã để lại một di
sản đồ sộ trong lịch sử văn học nhân loại. Các tác phẩm như Mahabharata,
Ramayana của Ấn Độ; Iliát, Ôđixê của Hi Lạp đã đạt đến độ mẫu mực của
thể loại sử thi, biểu tượng cho năng lực sáng tạo của con người ngay từ
buổi ấu thơ của lịch sử nhân loại. Trong nhiều thập kỉ lại nay, ở nước ta, sử
sau đây:
2.1. Người Ấn Độ thường nói: "Chừng nào sông chưa cạn, đá chưa
mòn thì Ramayana còn làm say mê lòng người và giúp họ ra khỏi vòng tội
lỗi" [47, 21]. Từ rất sớm, Ramayana đã trở thành đối tượng nghiên cứu của
nhiều lĩnh vực như tôn giáo, triết học, lịch sử, văn chương, nghệ thuật… ở
nhiều nước trên thế giới, nhất là sau khi tác phẩm được dịch ra tiếng Anh.
Cố thủ tướng J.Nêru đã từng khẳng định vị trí hết sức to lớn của sử thi
Ramayana trong nền văn học Ấn Độ cũng như trong đời sống tinh thần của
mỗi người dân nước Ấn: "Tôi không hề biết có bộ sách nào ở bất kì đâu lại
có ảnh hưởng liên tục và lan tràn như thế đối với tư tưởng quần chúng như
hai bộ sử thi Mahabharata, Ramayana" [28, 32].
Từ đầu thế kỷ XIX, ở nhiều nước phương Tây Ramayana đã được
dịch ra nhiều thứ tiếng. Năm 1802, tác phẩm được Kirtee Bass dịch ra tiếng
Anh. Đây được xem là bản dịch tiếng Anh đầu tiên của sử thi Ramayana.
Tiếp đó, tác phẩm lần lượt được dịch và giới thiệu bằng nhiều ngôn ngữ
khác nhau. Năm 1843, S.Gorresio dịch ra tiếng Ý; năm 1864, Hipolyte
Fauche dịch ra tiếng Pháp. Ở Nga, N.N.Regiabin là người đầu tiên dịch và
giới thiệu Ramayana. Nhiều học giả phương Tây đã có những công trình
nghiên cứu về văn học Ấn Độ, trong đó Ramayana là một trọng tâm. Họ đã
đánh giá cao sử thi Ramayana ở nhiều phương diện. Nói về ảnh hưởng của
Ramayna ở Ấn Độ, Giăng Hecbe viết: "Tác phẩm ấy (tức Ramayana) cho
4
đến nay vẫn còn được truyền tụng sâu rộng đến mức độ không thể tưởng
tượng được. Những người lao động sau một ngày làm việc mệt nhọc vẫn có
thể thức đêm quây quần quanh ngọn lửa để chăm chú nghe một câu chuyện
đã hàng nghìn năm qua. Ở các làng mạc, sau những ngày mùa, nông dân có
thể bỏ ra một phần thu hoạch của mình để trả công cho những nghệ nhân
mỗi đêm đọc, ngâm vịnh và bình giảng anh hùng ca này cho họ nghe. Kéo
Rama và Xita được thể hiện trong đoạn trích liệu có gì khác với phân tích
tâm lí nhân vật trong tiểu thuyết hiện đại. Bởi nếu không xuất phát từ đặc
trưng thể loại thì sẽ không thấy được sự khác biệt này, vô hình trung đã tiểu
thuyết hóa sử thi. Việc phân tích biệt lập hai nhân vật Rama và Xita theo
quan hệ song song sẽ dẫn đến sự lúng túng trong việc xác định chủ đề đoạn
trích, cái đích mà bất cứ bài đọc - hiểu nào cũng hướng tới.
Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), trong cuốn Ngữ văn 10, tập một,
Sách giáo viên (Chương trình Chuẩn), Nxb Giáo dục 2006. Phần yêu cầu
và hướng dẫn giảng dạy đoạn trích Rama buộc tội được trình bày từ trang
79 đến trang 85. Các soạn giả Sách giáo viên đã nêu định hướng phương
pháp dạy học đoạn trích này như sau: "Kết hợp phần giới thiệu, dẫn dắt,
bình giảng, khái quát của giáo viên và phần tìm hiểu, phân tích của học
sinh (qua đọc, trả lời các câu hỏi), đi từ khai thác hình thức thể hiện (nghệ
thuật xây dựng tính cách nhân vật trong sử thi) đến nội dung tư tưởng quan
niệm của Ấn Độ cổ đại về phẩm chất đạo đức của đức vua - người anh
hùng, người phụ nữ lí tưởng" [42, 80]. Đây cũng là một hướng tiếp cận
quen thuộc trong đọc - hiểu văn bản văn học hiện nay. Để lĩnh hội một văn
bản nói chung và văn bản văn học nói riêng, cần khai thác từ hình thức
nghệ thuật đến nội dung tư tưởng của tác phẩm. Điểm nổi bật mà các soạn
giả lưu ý đó là "nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật trong sử thi" và
"quan niệm của Ấn Độ cổ đại về phẩm chất đạo đức của đức vua - người
anh hùng, người phụ nữ lí tưởng" [42, 80]. Theo tôi, đây cũng là một định
hướng đúng đắn giúp người dạy và người học có những cách nhìn nhận,
phân tích và đánh giá đoạn trích theo đặc trưng thể loại, với thời đại ra đời
7
của nó. Tuy nhiên, trong phần Hướng dẫn học sinh phân tích đoạn trích,
Sách giáo viên chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn trả lời các câu hỏi có trong
Ngữ văn 10, tập một, Sách giáo khoa (Chương trình Chuẩn), Nxb Giáo dục
biên), Nxb Giáo dục 2000, cũng như bài soạn của Lê Nguyên Cẩn, trong
Thiết kế bài giảng ngữ văn 10, Nxb Giáo dục, 2009. Điểm chung trong tiếp
cận đoạn trích này vẫn là thiên về phân tích tâm lí và hành động của hai
nhân vật Rama và Xita. Trong các bài nghiên cứu, phân tích, phê bình văn
học liên quan đến đoạn trích này đáng chú ý có các bài viết như: Tiếp cận
sử thi Ramayana từ đặc trưng thể loại của tác giả Nguyễn Văn Hạnh in
trong cuốn Văn học nước ngoài và nhà trường - Tạp chí của Hội Nhà văn
Việt Nam, số 2, 1986, và về sau được tuyển chọn đưa vào cuốn Những
chân trời văn chương, nhà xuất bản Hội nhà văn, 2000. Ở phần cuối bài
viết của mình, tác giả đã nêu một định hướng tiếp cận xác đáng về thể loại
sử thi. Theo đó, "Tiếp cận một tác phẩm văn học có nhiều hướng khác
nhau. Trong đó từ đặc trưng thể loại là một hướng có ý nghĩa, đặc biệt là
những thể loại truyền thống như sử thi cổ đại. Hướng tiếp cận này giúp
người phân tích có một cách nhìn phát hiện vẻ đẹp tác phẩm một cách khoa
học, tránh được những gò ép, áp đặt. Và nhờ vậy mới mang đến hứng thú
riêng cho đối tượng tiếp nhận" [27, 238].
2.2. Ôđixê là một trong những tác phẩm văn học đầu tiên của Hi Lạp
cổ đại, phản ánh "một thời kì ấu thơ của nhân loại phát triển đến mức rực
rỡ nhất, một đi không bao giờ trở lại" [15, 39]. Vì thế Ôđixê được nhiều
nhà nghiên cứu phương Tây quan tâm. Những ý kiến đánh giá, đề cao tác
phẩm của Hômerơ trước hết chúng ta phải nói đến nhận định của Bêlinxki.
Ông viết: "thiên tài nghệ thuật của Hômerơ là cái lò nung, qua đó những
tảng quặng thô sơ của truyền thuyết dân gian và thơ ca được nấu chảy ra
thành những thứ vàng nguyên chất" [15, 43]. Lacon qua hai bài viết: Iliát
bài ca hùng tráng, bài ca nhân đạo của người Hy Lạp cổ và Ôđixê tiếng
hát ca ngợi cuộc sống đã khẳng định: "Hômerơ được coi là thiên tài dự báo
9
của văn học Hy Lạp cổ đại với hai pho sử thi vĩ đại. Nếu Iliát là bài ca hùng
Một hướng tiếp cận khá mới mẻ về đoạn trích này được trình bày
trong Ngữ văn 10, Sách giáo viên (Chương trình chuẩn), Nxb Giáo dục,
2006 do các tác giả Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên). Trong phần hướng
dẫn tiến trình tổ chức dạy học được trình bày từ trang 69 đến trang 75, tác
giả Sách giáo viên đã định hướng bằng việc trả lời bốn câu hỏi trong phần
hướng dẫn học bài Sách giáo khoa Ngữ văn 10, Nxb Giáo dục 2006. Có thể
tóm tắt những ý cơ bản ở bốn câu hỏi như sau:
- Tìm hiểu bố cục đoạn trích và nêu nội dung chính của từng đoạn.
- Tâm trạng, phẩm chất của Uylítxơ được bộc lộ qua cách ứng xử khi
trở về gặp lại vợ mình.
- Diễn biến tâm trạng của Pênêlốp, vẻ đẹp trí tuệ và tâm hồn của
nàng qua việc lựa chọn phép thử "bí mật của chiếc giường"
- Những đặc sắc trong cách kể chuyện, cách xây dựng nhân vật.
Thông qua hệ thống câu hỏi đã nêu trong phần Hướng dẫn học bài ở
Sách giáo khoa, một mặt nhằm củng cố bài học, mặt khác có thể mở rộng
tri thức cho học sinh. Các câu hỏi đưa ra trong phần Hướng dẫn học bài có
liên quan chặt chẽ với nhau và quy tụ vào vấn đề cơ bản của màn gặp mặt đoàn viên - tái ngộ, các câu hỏi này được sắp xếp từ dễ đến khó. Câu hỏi
luyện tập là các gợi ý để giáo viên có thể định hướng tạo ra các bài tập làm
văn cho học sinh nhằm rèn luyện cách viết, cách tái hiện một vấn đề theo
quan điểm riêng của từng học sinh. Tuy nhiên hướng cận này vẫn còn hạn
chế khi chưa khắc họa rõ chân dung từng nhân vật chính - đặt trong mối
quan hệ về vị trí, chức năng của từng nhân vật trong đoạn trích.
Trong cuốn Thiết kế bài học Ngữ văn 10 do Phan Trọng Luận (chủ
biên), Nxb Giáo dục, 2009 được trình bày từ trang 51 đến trang 55. Hướng
tiếp cận đoạn trích này được các soạn giả trình bày trên hai ý chính: Thứ
nhất, giai đoạn gặp gỡ đầu tiên của Uylítxơ chưa thay đổi hình thức bên
ngoài. Thứ hai, giai đoạn gặp gỡ sau khi Uylítxơ đã thay đổi hình thức bề
12
13
viên (Chương trình chuẩn), Nxb Giáo dục, 2006. Trong phần hướng dẫn
phân tích đoạn trích được các soạn giả trình bày từ trang 41 đến trang 47,
tác giả Sách giáo viên đã định hướng bằng việc trả lời bốn câu hỏi trong
Sách giáo khoa Ngữ văn 10, Nxb Giáo dục 2006. Có thể tóm tắt những ý cơ
bản như sau:
- Dẫn dắt học sinh chiếm lĩnh đoạn mô tả cuộc đấu tay đôi giữa hai
tù trưởng, từ đó thấy được sự vượt trội của Đăm Săn so với Mtao Mxây về
tài năng, về phẩm chất con người.
- Dẫn dắt học sinh chiếm lĩnh đoạn mô tả cảnh đoàn người ra về sau
chiến thắng của Đăm Săn, từ đó thấy được sự thống nhất cao độ giữa cá
nhân anh hùng sử thi với cộng đồng bộ tộc.
- Dẫn dắt học sinh chiếm lĩnh đoạn mô tả buổi lễ mừng chiến thắng,
từ đó thấy được tầm vóc lịch sử của chiến thắng, tầm vóc thời đại của
người anh hùng sử thi.
- Dẫn dắt học sinh chiếm lĩnh nghệ thuật miêu tả, sử dụng ngôn từ
của văn bản.
Phần Hướng dẫn học bài gồm bốn câu hỏi nhằm giúp học sinh tự
chiếm lĩnh văn bản. Các câu hỏi được sắp xếp theo hệ thống phù hợp với
trật tự diễn ra ba cảnh: Cảnh trận đánh giữa hai tù trưởng, cảnh Đăm Săn
cùng nô lệ ra về sau chiến thắng, cảnh Đăm Săn ăn mừng chiến thắng. Qua
đó giúp học sinh nhận thức được đặc điểm của lối kể chuyện sử thi. Tuy
nhiên ở khâu đọc - hiểu các soạn giả Sách giáo viên đề xuất cách đọc phân
vai (mỗi học sinh đọc lời của một nhân vật trong đoạn trích). Theo Hoàng
Minh Đạo thì "Sự gợi ý này không hợp lí vì nó không phù hợp với đặc
điểm của sử thi - khan" [16, 11]. Bởi theo đặc điểm của sử thi Tây Nguyên
thì sử thi - khan là do một người diễn xướng. Đối với đồng bào Tây
Nguyên sử thi không phải chỉ là một loại hình ngôn từ dân gian mà nó là
loại hình diễn xướng dân gian, bao gồm cả nghệ thuật ngôn từ, ca hát, nhảy
15
- Cảnh ăn mừng chiến thắng.
- Nghệ thuật miêu tả nhân vật và không gian sử thi.
Bằng việc hướng dẫn học sinh trả lời những câu hỏi cụ thể, chi tiết
bài giảng này đã giải quyết được những điểm khó của bài học như: Nhân
vật anh hùng sử thi là một kiểu nhân vật anh hùng đặc biệt: có sự gắn bó,
trùng khít hoàn toàn giữa quyền lợi cá nhân với quyền lợi, khát vọng của
cộng đồng. Thông qua cuộc chiến đấu để tự bảo vệ mình của người anh
hùng sử thi Đăm Săn, chúng ta nhìn thấy, "đọc" được cả một tiến trình vận
động của xã hội Ê-đê đương thời trên con đường phát triển ngày một cao
hơn. Điểm nổi bật trong nghệ thuật sử thi Tây Nguyên là việc sử dụng
những hình thức so sánh, phóng đại, những công thức diễn đạt mang phong
cách hoành tráng, giàu tính hình tượng và đậm màu sắc dân tộc. Với cách
triển khai này bước đầu giúp người dạy và người học biết cách tiếp cận một
sử thi anh hùng theo đặc trưng thể loại.
2.4 Điểm lại một số công trình nghiên cứu, một số bài bình luận,
phân tích về ba đoạn trích Rama buộc tội (trích: Sử thi Ramayana), Uylitxơ
trở về (trích: Sử thi Ôđixê), Chiến thắng Mtao Mxây (trích: Sử thi Đăm
Săn) có thể thấy, những định hướng tiếp cận trong sách hướng dẫn giảng
dạy và tài liệu tham khảo hiện nay là những cách hiểu, những hướng khai
thác đang được hầu hết giáo viên áp dụng để thiết kế bài giảng cho mình.
Tuy nhiên, cả người dạy và người học vẫn còn gặp nhiều khó khăn, như:
xác định vị trí đoạn trích trong kết cấu tác phẩm, việc phân tích tâm lí nhân
vật trong sử thi có gì khác với phân tích tâm lí nhân vật trong tiểu thuyết
hiện đại, việc xác định chủ đề đoạn trích... Trong những tài liệu chúng tôi
bao quát được, cho tới nay chưa có một công trình nào bàn về phương pháp
phân tích các tác phẩm sử thi từ đặc trưng thi pháp thể loại. Khi thực hiện
luận văn này, tôi đã tiếp nhận những ý kiến quý báu từ các bài viết trong
sách hướng dẫn giảng dạy và tài liệu tham khảo, các bài nghiên cứu về ba
17
Nội 1997; Ngoài ra chúng tôi còn khảo sát thêm một số tài liệu tham khảo
khác có liên quan.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết tốt nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi lựa chọn
một số phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp cấu trúc hệ thống
- Phương pháp so sánh - đối chiếu
- Phương pháp nghiên cứu liên nghành
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, luận văn gồm ba chương.
Chương 1. Khái lược về thể loại sử thi và các đoạn trích sử thi trong
chương trình Ngữ văn trung học phổ thông
Chương 2. Định hướng dạy học các trích đoạn sử thi trong chương
trình Ngữ văn 10 từ đặc trưng thể loại
Chương 3. Một số giáo án thể nghiệm
Và cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo.
18
Chương 1
KHÁI LƯỢC VỀ THỂ LOẠI SỬ THI VÀ CÁC ĐOẠN TRÍCH
SỬ THI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT
1.1. Thể loại sử thi
1.1.1. Giới thuyết khái niệm
Sử thi là một thuật ngữ văn học bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ (épos)
nối các sử thi cổ đại. Những tác phẩm đó thuộc các thể loại khác nhau như
tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, thơ, trường ca.
Ở Việt Nam, cho đến nay, cách hiểu khái niệm sử thi vẫn còn tồn tại
nhiều khác biệt, nhất là trong giảng dạy. Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Lộc
trong Văn học 10, Sách giáo viên định nghĩa: "Sử thi dân gian là những
sáng tác tự sự dài bằng văn vần hoặc văn xuôi kết hợp với văn vần, nội
dung kể lại những sự kiện quan trọng có ý nghĩa lớn đối với toàn thể cộng
đồng" [10, 19]. Phương Lựu, Trần Đình Sử trong Lí luận văn học khẳng
định: Sử thi "là thể loại tự sự miêu tả các sự kiện quan trọng, có ý nghĩa
quyết định đối với đời sống tinh thần và vận mệnh của dân tộc và nhân
dân" [46, 380]. Trong cuốn Ngữ văn 10, tập I, Sách giáo viên do Phan
Trọng Luận (Tổng chủ biên), 2006. Nêu khái niệm: "Sử thi: tác phẩm tự sự
dân gian có quy mô lớn, sử dụng ngôn ngữ có vần nhịp, xây dựng những
hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng để kể về một hoặc nhiều biến
cố lớn diễn ra trong đời sống cộng đồng của cư dân thời cổ đại" [42, 17].
Phạm Thu Yến trong Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên THPT chu
kì 3 (2004 - 2007) đã khái quát các ý kiến của những người đi trước bằng
một nhận định: "Sử thi thuộc thể loại được sáng tác theo phương thức tự sự
có kết cấu quy mô, gồm nhiều chương hồi, tồn tại trong hình thức văn vần
hoặc văn xuôi kết hợp với văn vần, xuất hiện sớm trong lịch sử văn học các
dân tộc nhằm ngợi ca những sự nghiệp anh hùng có tính toàn dân và có ý
nghĩa trọng đại đối với toàn thể cộng đồng dân tộc" [40, 17]. Trên bình
20
diện nghiên cứu, khái niệm sử thi được Lại Nguyên Ân trình bày trong 150
thuật ngữ văn học có phần khái quát hơn. Ông viết: "Trong nghĩa hẹp và
chuyên biệt, sử thi (épos) một hoặc một nhóm thể loại trong tự sự, đó là sử
thi anh hùng, tức là những thiên tự sự kể về quá khứ anh hùng, hàm chứa
những bức tranh rộng và hoàn chỉnh về đời sống nhân dân về những anh
trước đó, bởi sử thi là tấm gương phản chiếu những bức tranh hoành tráng
đồ sộ về đời sống lịch sử xã hội của các dân tộc trong một thời đại nhất
định. Và thời đại sử thi là thời đại bắt đầu chuyển từ công xã nguyên thủy
sang chiếm hữu nô lệ. Trong chế độ công xã nguyên thủy, không có sự bóc
lột, thống trị, nô dịch giữa người này với người khác hay tập đoàn người
này với tập đoàn người khác. Sở dĩ như vậy là vì của cải thuộc sở hữu tập
thể của thị tộc, bộ lạc, tư tưởng bóc lột chưa hình thành. Bởi vì trình độ sản
xuất còn thấp kém, con người phải lao động chăm chỉ, cật lực mới đủ ăn,
không ai dư thừa của cải để người khác có thể bóc lột. Nhưng bước sang
thời kì xuất hiện đồ kim loại "Thời đại của cây kiếm sắt, cái cày và cái rìu
bằng sắt" (Ăng Ghen). Đồ sắt được ứng dụng rộng rãi và có hiệu quả cao
trong chiến tranh và trong công cuộc mở rộng địa bàn làm ăn, sinh sống
của các bộ tộc, hình thành nhà nước đầu tiên" [40, 11]. Do sản xuất đã tiến
bộ hơn, năng suất lao động trong các ngành cao hơn, lao động của mỗi
người không những có thể đảm bảo được những nhu cầu tối thiểu cho đời
sống của bản thân và gia đình, mà còn có thể sản xuất dôi dư. Từ đó mà
nảy sinh hiện tượng người bóc lột người, tức khả năng chiếm đoạt sản phẩm
thặng dư do người khác làm ra. Cũng từ đây, người ta nghĩ ra cách bóc lột sức
lao động của những tù binh bị bắt trong chiến tranh. Trước kia tù binh có thể
được nhận làm con nuôi hoặc bị giết, nhưng bây giờ họ được giữ lại thị tộc để
lao động và họ đã biến thành nô lệ của thị tộc. Vì thế, chế độ thị tộc đã xuất
hiện. Chế độ chiếm hữu nô lệ ở giai đoạn đầu đã được phản ánh khá rõ trong
sử thi Ôđixê của Hi Lạp. Điều này chứng tỏ Hômerơ phản ánh trong sử thi
Ôđixê vẫn đang còn trong buổi đầu của chế độ chiếm hữu nô lệ.
23
Thời đại sử thi nằm ở giai đoạn giao thời giữa chế độ công xã
nguyên thủy và chế độ chiếm hữu nô lệ cũng có nghĩa là xã hội bắt đầu sự
phân hóa giai cấp. Nhưng quyền lợi giữa các giai cấp chưa đến mức quá
đặt lợi ích của cộng đồng lên trên lợi ích của cá nhân bởi trong chiến tranh
không có chỗ cho con người cá nhân mà tất cả mọi người cùng một mục
đích, một chí hướng. Trong xã hội đầy những biến động phức tạp như thế,
con người cố gắng vươn mình để sống cùng thời đại, theo kịp bước đi của
thời đại. Và trong văn học, người ta đã xây dựng những nhân vật lịch sử,
tức là những nhân vật phản ánh một cách chân thực cuộc sống trong thời
đại đó. Nhân vật trong văn học cũng cố gắng để theo kịp bước đi của lịch
sử, khẳng định lí tưởng đẹp đẽ nhất của dân tộc và thời đại mình. Đó là
những nhân vật mang tầm vóc lịch sử - nhân vật sử thi.
Trong thời đại sử thi luôn có sự gắn kết giữa cá nhân với tập thể,
giữa mỗi thành viên với toàn bộ cộng đồng. Ngay từ buổi đầu hình thành
thể loại, trong sử thi đã có các cá nhân mang ý thức gắn bó với cộng đồng.
Thực chất đây là mối quan hệ hai chiều: cá nhân hành động không chỉ bản
thân mà giường như có sự thôi thúc bên trong của trách nhiệm, bổn phận
bởi giữa họ và cộng đồng có sợi dây vô hình kết nối, danh dự - chính nghĩa
của họ cũng là của cộng đồng. Hơn thế, sự tập hợp, sự đoàn kết bộ tộc
chính là để tôn cao, tạo điều kiện vững chắc cho cá nhân có thể lập chiến
công cho cộng đồng. Và khi người anh hùng lập chiến công hiển hách lại
được coi là mẫu người thời đại, tiểu biểu cho vẻ đẹp của dân tộc, sức mạnh
cộng đồng. Họ đều có mục đích chiến đấu vì "tập thể chúng ta" vì "cái ta".
Động cơ cá nhân tồn tại bên cạch ý thức cao quý vì bộ tộc, bộ lạc, vì quyền
lợi chung. Đây là lẽ đương nhiên vì con người sử thi là sản phẩm của thời
đại anh hùng, họ được xây dựng có sức mạnh phi thường và sức mạnh đó
tiêu biểu cho sức mạnh cộng đồng. Đây chính là cơ sở của mối quan hệ gắn
bó giữa người anh hùng và tập thể anh hùng. Thời kì này con người cá
nhân đã xuất hiện nhưng bị con người cộng đồng lấn át. Phần lớn, con
25
người thời kì này vẫn là con người của chủ nghĩa tập thể. Con người muốn