Trang 1
SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO KHÁNH HÒA
TRƯỜNG THPT LÝ TỰ TRỌNG - NHA TRANG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY ĐỂ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ GIỜ ĐỌC - HIỂU MỘT SỐ TÁC PHẨM
VĂN XUÔI LÃNG MẠN GIAI ĐOẠN 1930 - 1945
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 11
NGƯỜI THỰC HIỆN: LÊ THỊ HỒNG MINH
3.3 Tiến hành thực nghiệm …………………………………………… 17
4. Kết quả thực nghiệm 20
III. KẾT LUẬN 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
PHỤ LỤC 26
1. Giáo án thực nghiệm.
2. Bài làm của học sinh (lớp thực nghiệm và đối chứng).
3. Phiếu khảo sát giáo viên, học sinh (trước thực nghiệm).
4. Phiếu khảo sát học sinh (sau thực nghiệm). Trang 3
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Dạy học là một nghề cao quý, đòi hỏi người giáo viên phải có kiến thức
chuyên môn, có tình thương, trách nhiệm, sự tận tụy, kiên nhẫn, lấy sự tiến bộ của
học sinh làm động lực giảng dạy. Để học sinh có thể tiếp cận và chiếm lĩnh những
nội dung kiến thức mới theo xu thế thời đại và giải quyết phù hợp các vấn đề nảy
sinh trong cuộc sống đòi hỏi người giáo viên luôn phải đổi mới phương pháp dạy
học. Hiện nay, việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích
11”.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Trang 4
- Giúp học sinh hệ thống lại kiến thức đã học trong giờ đọc - hiểu các tác
phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 - 1945; tăng cường khả năng ghi nhớ để
nắm vững kiến thức đã học và làm tốt các bài kiểm tra kiến thức.
- Giúp học sinh phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo; tạo sự hứng
thú học tập trong các giờ học, góp phần tạo nên sự chuyển biến trong các tiết dạy
đọc - hiểu bộ môn Ngữ văn, đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội.
3. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu : Quá trình thực hiện sử dụng SĐTD trong các tiết
đọc - hiểu một số tác phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 - 1945 trong chương
trình lớp 11.
- Khách thể nghiên cứu: Học sinh hai lớp 11D1 và 11D2 tại trường THPT
Lý Tự Trọng.
4. Phạm vi và thời gian nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu : Các tác phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 -
1945 trong chương trình lớp 11 và học sinh khối 11 của Trường THPT Lý Tự
Trọng.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/2013 đến tháng 4/2014.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành tốt đề tài này, tôi đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu loại hình: ở đây là thể loại truyện ngắn với
những đặc trưng cơ bản để làm cơ sở vững chắc nghiên cứu, phân tích tác phẩm.
5.2 Phương pháp hệ thống - cấu trúc: được sử dụng trong quá trình hệ thống
hóa kiến thức các tác phẩm và thể hiện bằng SĐTD.
5.3 Phương pháp thực nghiệm: được sử dụng trong quá trình áp dụng đề tài đối
với các lớp được chọn làm đối tượng thực nghiệm.
5.4 Phương pháp so sánh: được sử dụng trong quá trình so sánh đối chiếu kết
phát huy toàn bộ mọi khả năng tư duy của mình khi sử dụng SĐTD. Như vậy,
SĐTD là một công cụ hỗ trợ tư duy hiện đại. Đó là một kĩ thuật hình họa, một
dạng sơ đồ kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp, tương thích
với cấu trúc, hoạt động của bộ não.
Qua nghiên cứu, tôi nhận thấy nếu sử dụng SĐTD trong dạy học sẽ có
những ưu điểm sau:
- Tiết kiệm thời gian, công sức của học sinh
- Cung cấp bức tranh tổng thể của bài học.
- Tổ chức và phân loại suy nghĩ của học sinh
- Giúp học sinh ghi nhớ tốt hơn.
- Kích thích tiềm năng sáng tạo của học sinh
- Sử dụng rộng rãi, hiệu quả và dễ dàng ở nhiều lĩnh vực trong học tập.
Sơ đồ tư duy là một công cụ giúp học tập hiệu quả, cụ thể là giúp người học
tiếp thu bài nhanh hơn, hiểu bài kĩ hơn, hứng thú học tập hơn. Điểm mạnh nhất của
SĐTD là giúp phát triển ý tưởng và không bỏ sót ý tưởng, từ đó phát triển óc tưởng
tượng và khả năng sáng tạo. Với những ưu điểm trên, ta có thể vận dụng SĐTD
vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập, hệ
thống hóa kiến thức sau mỗi chương, mỗi học kì cũng như giúp lập kế hoạch học
tập, công tác sao cho hiệu quả nhất mà lại mất ít thời gian.
Trong những năm qua, cùng với việc thực hiện một cách đồng bộ đổi mới
nội dung, chương trình, sách giáo khoa, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học
(PPDH) nói chung, trong đó có đổi mới PPDH môn Ngữ văn luôn được các nhà
Trang 6
khoa học giáo dục đầu ngành của nước ta quan tâm, nghiên cứu và tìm cách cải
tiến. Có thể nói, đây là một bước đột phá của ngành Giáo dục nước nhà. Vì vậy,
vấn đề này đã được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Thực hiện nghiêm túc
tinh thần Nghị quyết 40/2000 - QH10 của Quốc hội khóa 10 và Chỉ thị
2. Thực trạng dạy và học môn Ngữ văn hiện nay tại trường THPT Lý
Tự Trọng, Nha Trang, Khánh Hòa.
Thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc thực hiện
đổi mới PPDH, theo tinh thần tập huấn của Sở Giáo dục và Đào tạo Khánh Hòa về
việc bồi dưỡng cho giáo viên trong toàn tỉnh tiếp cận với những phương pháp, kĩ
thuật dạy học mới, trong nhiều năm qua tại trường THPT Lý Tự Trọng tinh thần
đổi mới phương pháp dạy học của mỗi giáo viên được nâng cao. Các thầy cô giáo
ở tất cả các bộ môn như Toán, Lý Hóa, Lịch sử, Địa lý trong trường luôn học
hỏi, tìm hiểu những PPDH tiến bộ, vận dụng những kỹ thuật mới vào trong dạy
Trang 7
học để làm mới bài giảng của mình, tăng sự hứng thú của học sinh trong các giờ
học. Và việc sử dụng SĐTD trong dạy học là một bước tiến đáng kể trong việc đổi
mới PPDH hiện nay khi mà khoa học công nghệ phát triển như huyền thoại, nhất là
sự bùng nổ của ngành Công nghệ thông tin. Việc sử dụng SĐTD thay thế cho
những mô hình, sơ đồ, biểu đồ giản tiện về công đoạn, nguyên liệu. Do đó, việc
ứng dụng SĐTD vào trong quá trình dạy học không chỉ lôi cuốn sự hứng thú, làm
“sống lại” niềm đam mê, yêu thích môn học ở các em học sinh mà còn làm dấy lên
một “phong trào” đưa SĐTD vào bài giảng ở giáo viên.
Không nằm ngoài xu thế đổi mới đó, các thầy cô giáo dạy Văn cũng luôn có
ý thức tiếp cận các PPDH mới để mang lại sự hứng thú của học sinh trong các giờ
học Văn, đặc biệt là các giờ đọc - hiểu, vốn dĩ luôn được xem nặng về kiến thức,
đòi hỏi giáo viên phải giảng nhiều, ghi chép trên bảng rất nhiều và học sinh cũng
phải ghi bài nhiều, chỉ ngồi thụ động trả lời những câu hỏi do thầy cô đưa ra. Điều
này sẽ dẫn đến sự rập khuôn máy móc trong cách dạy và học Ngữ văn ở các giờ
đọc - hiểu, tạo tâm lí ỷ lại, bị động trong học sinh. Chính vì thế, việc sử dụng
SĐTD trong dạy học môn Văn ở các tiết đọc - hiểu sẽ khắc phục được những hạn
chế trên, tạo sự mới mẻ, hưng phấn với học sinh và cả người giáo viên đứng lớp.
Tuy nhiên, hiện nay, việc đưa SĐTD vào ứng dụng trong quá trình dạy
học đối với môn học Ngữ văn, nhất là các tiết đọc - hiểu còn là vấn đề gặp
Thường xuyên sử dụng 1 hs - 3% 0 hs - 0%
Câu 3: Theo em, sơ đồ tư duy có thể được sử dụng trong việc học môn Văn
không?
Các phương án trả lời Lớp 11D1 Lớp 11D2
Không thể 3 hs - 8% 0 hs - 0%
Có thể 20 hs - 52% 25 hs - 61%
Cần thiết 9 hs - 24% 11 hs - 27%
Rất cần thiết 6 hs - 16% 5 hs - 12%
Câu 4: Theo em, sơ đồ tư duy có thể được sử dụng trong các tiết đọc - hiểu văn
học không?
Các phương án trả lời Lớp 11D1 Lớp 11D2
Không thể 4 hs - 11% 5 hs - 12%
Có thể 18 hs - 47% 26 hs - 63%
Cần thiết 13 hs - 34% 8 hs - 20%
Rất cần thiết 3 hs - 8% 2 hs - 5%
Câu 5: Theo em, sơ đồ tư duy có thể được sử dụng trong nội dung nào của tiết
đọc - hiểu văn học?
Các phương án trả lời Lớp 11D1 Lớp 11D2
Sơ đồ tư duy theo đề cương 6 hs - 16% 9 hs - 22%
Sơ đồ tư duy theo chương 6 hs - 16% 8 hs - 19%
Sơ đồ tư duy theo đoạn văn 10 hs - 26% 15 hs - 37%
Cả 3 loại sơ đồ tư duy trên 16 hs - 42% 9 hs - 22%
* Vì sao em cho là sử dụng sơ đồ tư duy đó thích hợp?
Đa số học sinh ở hai lớp đều trả lời do các loại sơ đồ tư duy đó giúp các em
củng cố và hệ thống lại những kiến thức trọng tâm của bài học, dễ tiếp thu bài và
nhanh thuộc bài…
Trang 9
Qua kết quả khảo sát trước thực nghiệm ở hai lớp 11D1 và 11D2, tôi nhận
sinh dễ vận dụng nội dung kiến thức bài học vào làm bài kiểm tra; và giúp học sinh
phát huy sự chủ động, sáng tạo trong giờ học Văn.
Về lí do vì sao SĐTD chưa được sử dụng rộng rãi trong việc dạy học môn
Văn hiện nay, có 6/8 thầy cô đều cho rằng do giáo viên ngại dạy vì chưa quen với
cách dạy học mới. Và nếu hội đủ các điều kiện thuận lợi, có 7/8 thầy cô sẽ thường
xuyên sử dụng SĐTD trong các tiết dạy học môn Văn của mình.
Như vậy, qua kết quả khảo sát đối với học sinh và giáo viên, ta có thể thấy
rằng hầu hết giáo viên và học sinh đều nhận thức được những lợi ích của việc sử
dụng SĐTD trong các tiết dạy và học môn Ngữ văn, đặc biệt là trong các tiết đọc -
Trang 10
hiểu. Các em đều ý thức được việc sử dụng SĐTD trong dạy học môn Văn sẽ giúp
các em nhanh chóng hệ thống lại những kiến thức trọng tâm cơ bản của bài học, dễ
tiếp thu bài và nhanh thuộc bài… Còn các thầy cô đều cho rằng việc sử dụng
SĐTD trong dạy học môn Văn sẽ không làm mất đi đặc trưng của bộ môn mà còn
giúp học sinh nhanh chóng nắm bắt nội dung bài học đồng thời phát huy được sự
chủ động, sáng tạo của các em và tất cả các thầy cô đều muốn sử dụng SĐTD trong
các tiết dạy của mình.
Vậy nguyên nhân nào khiến SĐTD chưa được sử dụng phổ biến trong các
tiết dạy học môn Ngữ văn, đặc biệt là trong những giờ đọc - hiểu? Dựa vào kết
quả khảo sát, ta có thể chỉ ra được một số nguyên nhân cơ bản: Trước hết, về phía
học sinh là do các em rất ít khi được thầy cô cho sử dụng SĐTD trong việc học tập
ở trường, đặc biệt đối với bộ môn Văn thì có rất nhiều. Từ đây tạo thành thói quen,
SĐTD chỉ dùng cho bộ môn tự nhiên, nhất là môn Văn càng không thể có. Còn về
phía giáo viên thì một thực tế có thật là ít giáo viên đầu tư nghiên cứu ứng dụng
công nghệ thông tin, thói quen là dạy văn phải giàu ngôn từ, lời nói bóng bẩy, hàn
lâm, Còn muốn đầu tư SĐTD cho dạy học môn Văn nói chung hay dạy đọc-hiểu
văn học nói riêng lại càng đòi hỏi giáo viên đầu tư cho bài giảng từ kiến thức
chuyên môn đến kỹ năng sử dụng SĐTD, mất nhiều thời gian. Đây là lý do dẫn
đến “ngại”, “lười” của một bộ phận giáo viên. Thực trạng này đã tồn tại đã khá lâu
+ Tiêu đề phụ nằm trên các nhánh dày để làm nổi bật.
+ Tiêu đề phụ nên được vẽ gắn liền với trung tâm.
+ Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có
thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng.
- Bước 3 : Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ.
Quy tắc vẽ ý chính và chi tiết hỗ trợ :
+ Nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh.
+ Bất cứ lúc nào có thể, hãy dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm
không gian vẽ và thời gian. Mọi người ai cũng có cách viết tắt riêng cho những từ
thông dụng.
Mỗi từ khóa - hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên
nhánh. Tất cả các nhánh của một ý nên tỏa ra từ một điểm. Tất cả các nhánh tỏa ra
từ một điểm (thuộc cùng một ý) nên có cùng một màu. Chúng ta thay đổi màu sắc
khi đi từ một ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn.
- Bước 4 : Ở bước cuối cùng này, hãy để trí tưởng tượng bay bổng bằng cách
thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng như giúp lưu
chúng vào trí nhớ tốt hơn.
* Lưu ý học sinh những điều cần tránh khi ghi chép trên sơ đồ tư duy:
- Ghi lại nguyên cả đoạn văn dài dòng.
- Ghi chép quá nhiều ý vụn vặt không cần thiết.
- Dành quá nhiều thời gian để ghi chép.
* Luyện tập cho học sinh vẽ thử một sơ đồ tư duy:
Để củng cố hơn cho phần lý thuyết vừa trình bày, trước hết, giáo viên có thể
cung cấp cho học sinh một vài ví dụ minh họa
Ví dụ : Trong bài Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến Cách
mạng tháng Tám 1945, giáo viên sẽ đưa ra một sơ đồ tư duy để hệ thống hoá các
nội dung cơ bản của bài học này.
Trang 12
Ví dụ: Để dạy tiết 01 tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam, sau khi soạn
giáo án bài giảng theo đúng các yêu cầu đặt ra thật cụ thể, chi tiết, giáo viên thiết
lập một SĐTD phù hợp, thể hiện rõ nội dung kiến thức bài học.
* Giáo án bài giảng Hai đứa trẻ của Thạch Lam (Tiết 01).
Tiết 35: Đọc văn:
HAI ĐỨA TRẺ
(Thạch Lam) (Tiết 01)
A. Mục tiêu bài học
MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT
- Hiểu được sự cảm thông sâu sắc của Thạch Lam đối với cuộc sống quẩn quanh,
buồn tẻ của những người nghèo phố huyện và sự trân trọng của nhà văn trước
mong ước của họ về một cuộc sống tươi sáng hơn.
- Thấy được một vài nét độc đáo trong bút pháp của Thạch Lam
TRỌNG TÂM KIẾN THỨC KĨ NĂNG
Kiến thức
- Bức tranh phố huyện
- Niềm xót xa, thương cảm của nhà văn và sự trân trọng nâng niu những khát vọng
nhỏ bé nhưng tươi sáng của họ.
- Tác phẩm giàu yếu tố hiện thực, lãng mạn, chất thơ.
Kĩ năng
- Đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại
- Phân tích tâm trạng nhân vật theo đặc trưng thể loại
Thái độ:
- Tình cảm yêu mến đối với những kiếp người nghèo khổ trước CMT8.
- Đồng cảm và trân trọng những ước mơ nhỏ bé của họ.
B, Phương tiện thực hiện: SGK, SGV, thiết kế bài giảng
C, Cách thức tiến hành: GV tổ chức giờ dạy theo cách kết hợp các phương pháp
đọc sáng tạo, phát vấn, trả lời câu hỏi, thảo luận
căn bệnh lao phổi khi mới 32 tuổi. . Ý kiến của Nguyễn Tuân: “Ngày này đọc
lại Thạch Lam, vẫn thấy đầy đủ cái dư vị
và cái nhã thú của những tác phẩm có cốt
cách và phẩm chất văn học”.
. Em hãy trình bày xuất xứ của TP? . Em hãy tóm tắt nội dung cơ bản của
I. TIỂU DẪN
1.Tác giả:
* Con người: (1901-1942)
- Tên khai sinh: Nguyễn Tường Vinh (sau đổi
xuất bản 1938
- Là 1 truyện ngắn rất tiêu biểu cho phong cách
NT của T.Lam.
b. Tóm tắt:
- Truyện viết về cuộc sống tối tăm nghèo nàn của
Trang 15
truyện?
. GV giới thiệu cho HS về cuốn “Hồi
ký về gia đình Nguyễn- Tường” của
Nguyễn Thị Thế để thấy nhân vật,
khung cảnh, tâm trạng trong HĐT là có
thật…
Gia đình TL có 1 thời kì khốn khó, nghèo
- Liên và An đã từng có một cuộc sống đầy đủ vui vẻ ở
Hà Nội. Do gia đình sa sút, hai đứa trẻ phải về sống nơi
phố huyện có một cái ga xép nhỏ, được cha mẹ giao
cho trông coi một cửa hàng tạp hóa nhỏ.
- Nhịp sống nơi đây rất buồn tẻ, đơn điệu, ngập chìm
trong bóng tối với những con người như mẹ con chị Tí,
bác Siêu, vợ chồng bác Xẩm, bà cụ Thi Cuộc sống
của họ cũng có chung một mẫu số là bé nhỏ, nghèo
khổ, đáng thương
- Thế nhưng chừng ấy người sống trong bóng tối vẫn
hy vọng cái gì đó tươi sáng hơn. Mong ước ấy được thể
hiện qua việc họ cố thức để trông chờ chuyến tàu đêm
từ Hà Nội về chạy qua phố huyện.
- Chuyến tàu mang theo những ánh sáng rực rỡ, những
âm thanh sôi động, ầm ầm chạy vụt qua rồi im tiếng
trong màn đêm sâu thẳm. Rồi sau đó, Liên cũng ngập
dần vào giấc ngủ yên tĩnh.
c. Bối cảnh của truyện: Phố huyện Cẩm
Giàng (Hải Dương) – quê ngoại của nhà văn –
nơi ông đã từng sống lúc tuổi thơ
d. Bố cục: 3 phần
- Đoạn 1 ( Từ đầu – phía làng): Cảnh phố
huyện khi chiều xuống.
- Đoạn 2 (tiếp – không hiểu): Cảnh phố huyện
lúc đêm về
- Đoạn 3 (còn lại): Cảnh chờ tàu của hai đứa
trẻ.
II. ĐỌC - HIỂU
1. Cảnh phố huyện khi chiều xuống:
a. Cảnh chiều tàn:
Cảnh chợ tàn được t/g khắc
họa qua những chi tiết nào?
NT miêu tả? Nhận xét tác
dụng?
. Những con người bé nhỏ của
phố huyện nghèo này là những
ai? Họ có cuộc sống ntn?
. Em hãy chỉ ra điểm chung
dùng được);
+ Mẹ con chị Tí: ban ngày thì mò cua, bắt ốc,
tối đến dọn cái hàng nước nhỏ; chị “chả kiếm
được bao nhiêu nhưng chiều nào chị cũng dọn
hàng, từ chập tối cho đến đêm”.
+ Bà cụ Thi: điên, vẫn hay mua rượu ở hàng L
với tiếng cười khanh khách và dáng đi “lần vào
bóng tối”
+ Chị em Liên: ngồi trên một cái chõng nát,
trông coi một cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu, buôn
bán chẳng được bao nhiêu (dù là chợ phiên, họ
mua chịu nửa bánh xà phòng, bán đong hơn
một ngấn rượu trong chiếc cút bé nhỏ …)
Mỗi người một cảnh ngộ, một cách kiếm
sống nhưng họ đều có chung 1 số phận:
nghèo khổ, bế tắc, tàn lụi. Họ đang chìm dần
vào trong bóng đêm của phố huyện, tù mù như
những cái bóng, mòn mỏi, quẩn quanh trong bế
Trang 17
Quanh quẩn mãi giữa vài ba dáng điệu
Tới hay lui vẫn từng ấy mặt người
Vì quá quen nên quá đỗi buồn cười
Môi nhắc lại chỉ có ngần ấy chuyện.
(Quanh quẩn)
. L là 1 cô gái có hoàn cảnh
ntn?
Tình cảnh chung của người dân nghèo VN
trước CMT8.
c. Nhân vật Liên:
* Hoàn cảnh:
- Cha mất việc, mẹ làm hàng xáo, kinh tế gia
đình sa sút.
- Chuyển từ Hà Nội về phố huyện nghèo sinh
sống.
- Được giao trông coi cửa hàng tạp hóa nhỏ.
nghèo túng, khó khăn nhưng rất hiếu thảo,
đảm đang, có trách nhiệm.
* Tâm trạng:
- Nhìn cảnh phố huyện về chiều : Liên cảm
thấy “lòng buồn man mác trước cái giờ khắc
của ngày tàn”, cảm nhận “mùi riêng của đất
của quê hương này”.
- Đối với những người nghèo nơi phố huyện:
+ Xót thương cho những đứa trẻ con nhà
nghèo “L trông thấy động lòng thương nhưng
chính chị cũng không có tiền để cho chúng nó”
+ Thông cảm với nỗi vất vả của mẹ con chị Tí
(thể hiện qua lời văn, giọng văn: Ngày đi mò
cua…. Chị Tí chả kiếm được bao nhiêu)
+ Tuy sợ nhưng rất thương cảm với hoàn cảnh
của cụ Thi (lần nào cũng rót đầy rượu cho cụ ‘e
L thảo nhỉ. Hôm nay lại rót đầy cho chị đây’)
Liên là một cô bé có tấm lòng nhân hậu,
yêu thương con người, biết quan tâm, chia sẻ
và cảm thông với người khác.
NT: Miêu tả nội tâm nhân vật sâu sắc, giàu
- Khá của khối 11.
Cụ thể:
+ Lớp 11D1 là lớp thực nghiệm (có sử dụng SĐTD trong quá trình dạy
học).
+ Lớp 11D2 là lớp đối chứng (dạy bình thường, không sử dụng SĐTD
trong quá trình dạy học).
Bài dạy là:
1/ Tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam
- Giáo án bài giảng (xem Phụ lục).
- Sơ đồ tư duy bài giảng tác phẩm Hai đứa trẻ - Thạch Lam (dạy trong 03 tiết)
(Hình trang 18).
2/ Tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân
- Giáo án bài giảng (xem Phụ lục).
- Sơ đồ tư duy bài giảng tác phẩm Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân (dạy trong
02 tiết) (Hình trang 19).
Qua thực tế thực nghiệm 02 bài trên, tôi nhận thấy rằng các tác phẩm văn
xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 - 1945 có dung lượng kiến thức lớn do đó mỗi tác
phẩm đều có số tiết phù hợp để dạy trên lớp. Cụ thể, tác phẩm Hai đứa trẻ
(Thạch Lam) dạy trong 03 tiết, còn tác phẩm Chữ người tử từ (Nguyễn Tuân)
dạy trong 02 tiết.
Chính vì dung lượng kiến thức ở mỗi tác phẩm nhiều như vậy nên học
sinh rất khó khăn trong việc nhớ và học thuộc tất cả nội dung kiến thức bài học.
Bởi vậy, để giúp các em dễ dàng nắm được nội dung bài học, tôi đã kết hợp sử
dụng SĐTD trong quá trình giảng dạy. Cụ thể, sau khi dạy xong mỗi phần của
tác phẩm, tôi liền hệ thống nội dung kiến thức vừa dạy bằng một SĐTD trên 01
bảng phụ hoặc trên màn hình máy chiếu (nếu dạy ở phòng máy). Cứ như vậy,
khi xong các phần nội dung cần tìm hiểu của một tác phẩm thì tôi cũng có một
SĐTD hoàn chỉnh về hệ thống nội dung kiến thức của tác phẩm đó.
Đồng thời, để củng cố hơn, tôi cũng yêu cầu học sinh về nhà tự hệ thống
kiến thức vừa học bằng SĐTD trên một tờ giấy trong đó thể hiện đầy đủ các
28 hs - 74% học sinh trong lớp cho rằng SĐTD có thể được sử dụng trong các
tiết dạy Đọc - hiểu văn học. Tỉ lệ này cao gấp nhiều lần so với việc sử dụng
SĐTD trong các tiết Văn học sử (7hs - 18%), Tiếng Việt (9 hs - 24%), Tập làm
văn (4 hs - 11%).
- Về quan điểm của học sinh đối với các tiết đọc - hiểu có sử dụng SĐTD:
có đến 23 hs - 61% học sinh trong lớp cho rằng sử dụng SĐTD trong các tiết đọc
- hiểu Văn học là có phù hợp, đặc biệt có 8 hs - 21% khẳng định là rất phù hợp.
- Về nhận thức những ưu điểm khi sử dụng SĐTD trong các tiết đọc -
hiểu: Đa số học sinh đều nhận thức được những ưu điểm khi sử dụng SĐTD
trong các tiết đọc - hiểu Văn học. Cụ thể:
. Có đến 36 hs - tỉ lệ 95% cho rằng SĐTD giúp học sinh dễ tóm tắt nội
dung kiến thức bài học.
. Có 34 hs - tỉ lệ 89% cho rằng SĐTD giúp học sinh dễ nhớ nội dung bài
học.
. Có 31 hs - tỉ lệ 82% cho rằng SĐTD giúp học sinh phát huy sự chủ động,
sáng tạo trong giờ học Văn.
. Và có 27 hs - tỉ lệ 71% cho rằng SĐTD giúp học sinh dễ vận dụng nội
dung kiến thức bài học vào làm bài kiểm tra.
Qua kết quả khảo sát, ta có thể thấy, đa số học sinh đều thích thú với việc
dạy học Ngữ văn bằng SĐTD, đặc biệt là trong các tiết đọc - hiểu Văn học và
các học sinh đều nhận thức được những ích lợi của việc sử dụng SĐTD trong
các tiết đọc - hiểu Văn học.
* Thứ hai là tăng cường khả năng ghi nhớ, vận dụng kiến thức để làm
tốt các bài kiểm tra.
Điều này được kiểm định qua việc đối chiếu kết quả bài kiểm tra 15 phút
giữa lớp dạy thực nghiệm 11D1 và lớp đối chứng 11D2 sau khi học xong các tác
phẩm. Cụ thể như sau:
- Sau khi học xong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam, tôi cho học
sinh ở hai lớp làm bài kiểm tra 15 phút.
học sinh ở hai lớp làm bài kiểm tra 15 phút.
+ Câu hỏi: Em hãy lí giải vì sao cảnh Huấn Cao cho chữ viên quản ngục
ở cuối truyện ngắn Chữ người tử tù được Nguyễn Tuân gọi là “cảnh tượng xưa
nay chưa từng có”?
+ Kết quả bài kiểm tra:
Lớp 11D1 Lớp 11D2
Xếp
loại
SL
%
SL
%
Giỏi 14
37%
10
24%
Khá 18
47%
16
39%
TB 6
16%
15
37%
Yếu 0
0%
0
0%
Dựa vào số liệu thống kê điểm kiểm tra, ta thấy tỉ lệ học sinh đạt điểm
nhau, học sinh có thể nhớ được 55%. Nhưng nếu học sinh được trực tiếp tham
gia vào các hoạt động để qua đó tiếp thu kiến thức thì có khả năng nhớ tới 75%.
Còn nếu giảng lại cho người khác thì có thể nhớ tới được 90%. Vì vậy, việc sử
dụng SĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng
của bộ não; giúp cho mỗi người phát triển khả năng thẩm mỹ do việc thiết kế nó
phải bố cục màu sắc, đường nét, các nhánh, sắp xếp các ý tưởng một cách khoa
học, logic, dễ hiểu. Sử dụng SĐTD góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Đồng thời, việc
học sinh tự vẽ SĐTD còn giúp phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của học
sinh. Các em được tự do lựa chọn màu sắc (xanh, đỏ, vàng, tím,…), đường nét
(đậm, nhạt, thẳng, cong…), tự “sáng tác” “tác phẩm” của mình nên trên mỗi
SĐTD thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức của từng học sinh và
SĐTD do các em tự thiết kế nên các em sẽ yêu quí, trân trọng “tác phẩm” của
mình.
Trong các tiết đọc - hiểu theo cách dạy truyền thống, giáo viên làm việc là
chủ yếu thông qua các phương pháp như thuyết giảng, phát vấn Cách dạy này
sẽ không thu hút toàn bộ học sinh tập trung vào bài học, học sinh cảm thấy chán
nản vì lượng kiến thức phải chép và học thuộc quá nhiều. Điều này sẽ dẫn đến
sự thụ động, chỉ biết học vẹt theo những gì đã chép trên lớp hay học một cách
đối phó Thực trạng này tồn tại khá phổ biến trong việc dạy học môn Ngữ văn
từ trước đến nay. Chính vì thế, việc sử dụng SĐTD trong các tiết dạy học môn
Ngữ văn sẽ giúp giáo viên khắc phục được thực trạng trên. Và thực tế hiện nay,
ngày càng có nhiều giáo viên đã mạnh dạn sử dụng SĐTD trong các tiết đọc -
hiểu văn học nhằm đem lại không khí sôi nổi trong các giờ học, tạo sự chủ động
tích cực của học sinh và giúp học sinh lĩnh hội nhanh và chắc kiến thức mà giáo
viên truyền đạt.
Qua thời gian thực hiện giải pháp ‘Sử dụng sơ đồ tư duy để nâng cao
hiệu quả giờ đọc - hiểu một số tác phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930-
1945”, tôi nhận thấy các tiết dạy đọc - hiểu đạt hiệu quả cao hơn, việc tiếp thu
bài học của học sinh không còn nhàm chán nữa mà phát huy được khả năng tư
hoạt động cho học sinh, tránh lạm dụng; nhất là đối với bộ môn Ngữ văn.
- Cần xác định đúng kiến thức cơ bản, trọng tâm để thiết kế SĐTD tức là phải
biết chọn lọc những ý cơ bản, những kiến thức thật cần thiết.
- Cần đầu tư thời gian hợp lí vào việc soạn bài, lập trước các sơ đồ cần thiết
cho tất cả các khâu của quá trình lên lớp đối với từng bài học.
Thứ ba là đối với tổ chuyên môn
- Trong sinh hoạt chuyên môn nên dành thời gian trao đổi kinh nghiệm
giảng dạy bằng SĐTD vào thảo luận trong các buổi họp tổ, họp nhóm để
mọi giáo viên trong tổ quen dần với cách dạy mới và vận dụng vào việc dạy
học trên lớp.