SKKN SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC SINH HỌC - Pdf 29

SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC SINH HỌC
Phần 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Thực hiện Theo NQ 40/2000/QH 10 của Quốc Hội, toàn quốc đã tiến
hành thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông. Quá trình đổi mới toàn diện trên
nhiều lĩnh vực của giáo dục phổ thông mà tâm điểm là đổi mới chương trình
giáo dục để đáp ứng yêu cầu xây dựng đạt được mục tiêu việc “dạy chữ, dạy
người, dạy nghề”, định hướng nghề nghiệp cho học sinh (HS) trong hoàn cảnh
mới của xã hội Việt Nam hiện đại. Trọng tâm của đổi mới chương trình và sách
giáo khoa giáo dục phổ thông là tập trung đổi mới phương pháp dạy học,
thực hiện dạy học dựa vào hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của HS
với sự tổ chức và hướng dẫn thích hợp của giáo viên (GV), nhằm phát triển
tư duy độc lập, góp phần hình thành phương pháp và nhu cầu, khả năng tự học,
tự bồi dưỡng hứng thú học tập, tạo niềm tin và vui thích trong học hành.
2. Lí do chọn đề tài
Để thực hiện mục tiêu và nội dung dạy học, vấn đề đổi mới phương pháp
dạy học theo triết lý lấy người học làm trung tâm được đặt ra một cách bức thiết.
Bản chất của dạy học lấy người học làm trung tâm là phát huy cao độ tính tự
giác, tích cực, độc lập, sáng tạo của người học.
Để làm được điều đó thì vấn đề đầu tiên mà người GV cần nhận thức rõ
ràng là quy luật nhận thức của người học. Người học là chủ thể hoạt động chiếm
lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và thái độ chứ không phải là “cái bình chứa kiến
thức” một cách thụ động.
Trong thực tế hiện nay, còn nhiều HS học tập một cách thụ động, chỉ đơn
thuần là nhớ kiến thức một cách máy móc mà chưa rèn luyện kĩ năng tư duy. HS
chỉ học bài nào biết bài đấy, cô lập nội dung của các môn, phân môn mà chưa có
sự liên hệ kiến thức với nhau vì vậy mà chưa phát triển được tư duy logic và tư
duy hệ thống. Sử dụng bản đồ tư duy (BĐTD) giúp các em giải quyết được các
vấn đề trên và nâng cao hiệu quả học tập.
Từ những lí do trên, tôi hình thành ý tưởng đó là ứng dụng BĐTD trong các
nội dung bài học để có thể phát huy tối đa năng lực của mỗi cá nhân cũng như

6. Điểm mới, tính sáng tạo của đề tài
- Đề tài áp dụng kinh nghiệm giảng dạy, ứng dụng công nghệ thông tin
trong hoạt động dạy và học ở trường THPT.
- Kết hợp với các phương tiện dạy học truyền thống, phương tiện hiện đại
cho hiệu quả rõ rệt. Đây là một chủ đề rất mới trong những năm học gần đây.
- HS hứng thú học tập, công tác giảng dạy, giáo dục của GV trở nên nhẹ
nhàng hơn vì phần chủ yếu hướng dẫn cho HS tìm ra kiến thức.
6
- Đề tài hướng dẫn chi tiết cách sử dụng phần mềm, chia sẻ, áp dụng cho
nhiều đối tượng, áp dụng rộng rãi cho nhiều công việc (học tập, lập kế hoạch,
…)
Từ những điểm nêu trên bản thân tôi khẳng định đề tài có tính khoa học
và thực tiễn cao:
Ý nghĩa khoa học:
Đề tài được thực hiện nhằm nâng cao nghệ thuật dạy học, cũng như phát
huy tính sáng tạo trong việc dạy và học. Kết quả của đề tài sẽ góp phần phát
triển tư duy của GV và HS .
Ý nghĩa thực tiễn:
Góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Sinh học nói riêng và các
môn học khác nói chung. Đề tài cũng góp phần phát huy tính chủ động, tích cực,
sáng tạo trong học tập của người học.
7
Phần 2. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1. Bản đồ tư duy
BĐTD là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và
đào sâu các ý tưởng. BĐTD một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể
miêu tả nó là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh,
đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ
não, giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não.

cách ghi chép có hiệu quả.
Tác giả Stella Cottrell đã tổng kết cách “ghi chép” có hiệu quả trên
BĐTD:
1. Dùng từ khóa và ý chính
2. Viết cụm từ, không viết thành câu
3. Dùng các từ viết tắt
4. Có tiêu đề
5. Đánh số các ý
6. Liên kết ý nên dùng nét đứt, mũi tên, số, màu sắc,…
7. Ghi chép nguồn gốc thông tin để có thể tra cứu lại dễ dàng
8. Sử dụng màu sắc để ghi.
Sử dụng BĐTD giúp GV chủ nhiệm, cán bộ quản lí nhà trường lập kế
hoạch công tác và có cái nhìn tổng quát toàn bộ kế hoạch từ chỉ tiêu, phương
hướng, biện pháp,…và dễ theo dõi quá trình thực hiện đồng thời có thể bổ sung
thêm các chỉ tiêu, biện pháp,…một cách rất dễ dàng so với việc viết kế hoạch
theo cách thông thường thành các dòng chữ.
2.1.2. Những kinh nghiệm khi lập BĐTD
* Các bước lập BĐTD
- Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm trên một mảnh giấy (đặt nằm ngang)
+ Chúng ta sẽ bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề. Hình ảnh có
thể thay thế cho cả ngàn từ và giúp chúng ta sử dụng tốt hơn trí tưởng tượng của
mình. Sau đó có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ
ràng.
+ Sử dụng màu sắc vì màu sắc có tác dụng kích thích não như hình ảnh,
đặc biệt là các màu sắc bản thân yêu thích.
+ Có thể dùng từ khóa, kí hiệu, câu danh ngôn, câu nói nào đó gợi ấn
tượng sâu sắc về chủ đề.
+ Không nên đóng khung hoặc che chắn mất hình vẽ chủ đề vì chủ đề cần
được làm nổi bật dễ nhớ
+ Chủ đề phải đủ to, rõ, nổi bật trọng tâm cần ghi nhớ.

- Dễ nắm được trọng tâm của vấn đề .
- Đỡ tốn thời gian ghi chép hơn so với kiểu ghi chép cũ.
- Cải thiện sức sáng tạo và trí nhớ, nắm bắt cơ hội khám phá tìm hiểu.
- Hoàn thiện bộ não, tiếp thu linh hoạt và hiệu quả.
- Giúp người học tự tin hơn vào khả năng của mình.
10
- Trong giảng dạy và học tập: tạo hứng thú cho HS, GV tiết kiệm thời
gian soạn giáo án, HS hiểu và nhớ lâu vấn đề hơn
2.2. Thực trạng của vấn đề
2.2.1. Thuận lợi
- Đây là phương pháp học tập mới thoải mái, vui vẻ và sáng tạo, thú vị ….
- Đây là xu thế chung của giáo dục Việt Nam nên đựơc sự ủng hộ từ các
cấp, xã hội, phụ huynh, HS…
- Chương trình môn Sinh học THPT có nhiều nội dung phù hợp với
phương pháp giảng dạy dùng BĐTD phát huy hiệu quả cao khi giáo viên tổ chức
cho HS lĩnh hội kiến thức
- Về cơ sở vật chất đã có một số đổi mới tạo điều kiện cho hoạt động học
tập: phòng công nghệ thông tin, đèn chiếu, bảng phụ…
- GV được đào tạo và tập huấn đổi mới phương pháp dạy học về sử dụng
BĐTD trong giảng dạy.
- Xã hội hiện nay tạo điều kiện cho con người (GV và HS) có điều kiện
tiếp cận nhiều nguồn thông tin từ nhiều phương tiện khác nhau.
- Phương pháp sử dụng BĐTD trong dạy học các kiểu bài phù hợp tâm
sinh lý lứa tuổi HS, khắc phục được sự nhàm chán của phương pháp dạy học
truyền thống. Vì vậy, gây hứng thú cho người học, kích thích HS tư duy tích
cực.
2.2.2. Khó khăn
- Đây là phương pháp dạy học mới nên GV và HS không tránh khỏi lúng
túng trong một số kĩ năng như sử dụng lúc nào, như thế nào, sưu tầm, xử lý
thông tin, vẽ, ý tưởng…

xác, rõ để HS không hiểu thành hai nghĩa khác nhau dẫn đến việc trả lời lạc đề.
- GV phải thiết kế lại các yêu cầu, bài tập trong sách giáo khoa hay ra các
bài tập tương tự để tránh việc các em sử dụng sự hướng dẫn trong các sách học
tốt, sách bài tập nhằm đối phó với GV
* Những yêu cầu sư phạm về cách tổ chức kiểm tra miệng
- Tạo điều kiện thuận lợi để HS có thể bộc lộ một cách tự nhiên đầy đủ
nhất những hiểu biết của các em
- Dựa vào những câu trả lời miệng và hoạt động thực hành của HS mà
phát hiện được tình trạng thật của kiến thức và kĩ năng của các em
- Thái độ và cách đối xử của GV với HS có ý nghĩa to lớn trong khi kiểm
tra miệng. GV cần biết lắng nghe câu trả lời, biết theo dõi hoạt động của HS và
trên cơ sở đó rút ra kết luận về tình trạng kiến thức của HS. Sự hiểu biết của GV
về cá tính HS, sự tế nhị và nhạy cảm sư phạm trong nhiều trường hợp là những
yếu tố cơ bản giúp thấy rõ thực chất trình độ kiến thức và kĩ năng của HS được
kiểm tra.
- Trong quá trình HS đang trả lời câu hỏi có thiếu sót hoặc sai, nếu không
có lí do gì cần thiết GV cũng không nên ngắt lời của HS. Cùng là một sai sót
12
nhưng GV phải biết sai sót nào nên sửa ngay và sai sót nào thì nên đợi HS trả lời
xong.
- Nên phối hợp các cách kiểm tra và cùng một lúc có thể kiểm tra được
nhiều HS: trong lúc gọi một số HS lên bảng thì GV ra cho các HS ở dưới lớp
câu hỏi khác sau đó sẽ thu vở nháp của một số em để chấm.
- Khi tổ chức kiểm tra thì GV phải giải quyết các khó khăn lớn sau đây:
khi một hay vài HS được chỉ định lên bảng thì các HS khác trong lớp cần phải
làm gì và làm như thế nào. GV gọi nhiều em cùng một lúc, đưa ra yêu cầu khác
nhau phù hợp với trình độ của mỗi HS sau đó đặt các câu hỏi cho cả lớp sau khi
các HS này hoàn thành xong nhiệm vụ của mình như sau: “Bạn trả lời như vậy
có đúng không?” “Các em có đồng ý với câu trả lời đó của bạn không?” “Có
điểm nào sai hoặc thiếu không ?”… Ngoài những câu cơ bản, GV có thể sử

GV thu bài, nhận xét và
chấm điểm cho một số
HS.
Ví dụ 2: Trước khi học bài “Quần thể sinh vật và mối quan hệ giữa các cá
thể trong quần thể” Sinh học 12.
Hoàn thành BĐTD sau:
- Tất nhiên, với kiểu kiểm tra bài cũ này để hoàn thành trọn vẹn thì tôi
thường xuyên hướng dẫn HS cách lập bản đồ, cách ghi chép, cùng HS hoàn
thiện những nội dung kiến thức đã học bằng BĐTD nhằm đưa ra đúng, đủ những
tri thức mà HS cần nắm vững. Sau đó, HS phải trình bày được những nội
dung cần nắm vững trong bài học, HS dưới lớp tham gia nhận xét bổ sung và
GV là người chốt lại kiến thức.
- Tùy theo lượng thời gian phân phối cho phần kiểm tra bài cũ và nội
dung kiến thức bài trước mà tôi còn cho HS hoàn thành trọn vẹn BĐTD dưới
hình thức cuộc thi (học mà chơi, chơi mà học), HS nào nhanh nhất, chính xác
nhất sẽ được tuyên dương và điểm cao.
Qua đó, tôi thấy rằng ngay từ đầu HS đã rất hào hứng và nhiệt tình tham
gia, làm cho phần trả bài không còn là áp lực với HS, các em không phải chỉ còn
đọc thuộc lòng từng câu chữ, công thức mà có sự thấu hiểu, biết phương pháp
học.
2.3.2. Sử dụng BĐTD trong việc dạy kiến thức mới
14
* Những vấn đề tồn tại
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển khả năng ghi nhớ, thông hiểu
và vận dụng kiến thức mới của HS, trong đó phương pháp dạy của thầy và cách
học của trò là yếu tố quyết định.
- Phương pháp dạy của GV
- Sử dụng phương pháp truyền thống chủ yếu là GV độc thoại, độc quyền
đánh giá, thuyết giảng làm HS nhàm chán không tập trung, chú ý những gì GV
nói.

sôi động, sinh động không gây áp lực cho các em để các em có thể ghi nhớ tốt
hơn.
+ Trong giờ lên lớp, GV phải phối hợp nhiều phương pháp khác nhau
nhằm phát huy tối đa ưu điểm cũng như khắc phục khuyết điểm của từng
phương pháp từ đó giúp các em tiếp thu kiến thức mới được nhanh chóng. Cụ
thể như phối hợp: Phương pháp thuyết trình, vấn đáp, trực quan…
+ Ngoài những tài liệu trong sách giáo khoa, GV cần tìm hiểu cung cấp
cho HS nhiều tài liệu mới, tập tính, quy luật thực tế cuộc sống để giúp HS ôn tập
và củng cố những kiến thức học ngay trên lớp một cách tốt hơn. Trong giờ học
trên lớp, GV có thể những câu hỏi đơn giản mà thú vị nhằm kích thích HS tích
cực học tập và tư duy độc lập.
+ Tổ chức cho các em học theo nhóm để các em có cơ hội phát huy khả
năng độc lập của bản thân và tạo cơ hội cho các em có thể tự đánh giá, kiểm tra
mức độ nắm vững kiến thức lẫn nhau và của chính bản thân các em. Tạo mọi
điều kiện thuận lợi để các em có thể tự đánh giá, kiểm tra khả năng nắm tri thức
của mình
+ GV cho các em trình bày kiến thức mình có được, HS làm thí nghiệm,
thực hành để các em có thể vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế.
- Đối với HS:
+ Chuẩn bị bài trước khi lên lớp.
+ Biết phân phối thời gian học tập hợp lý cho từng môn học.
+ Lựa chọn phương pháp học riêng cho mình để ghi nhớ bài thật tốt.
+ Biết liên hệ, kết hợp tri thức đã học với thực tiễn.
+ Thường xuyên tổ chức học theo nhóm để trao đổi khả năng nắm vững
các kiến thức đã học.
+ Khi có những thắc mắc về bài học cần chủ động hỏi GV giảng dạy.
+ Vào lớp cần phải năng động, tự tìm tòi, học hỏi, học cách học…
Sử dụng BĐTD
Từ đầu năm học, theo định hướng của ngành chống đọc chép, tôi đã giới
thiệu đến HS các kiểu ghi chép theo kiểu đề mục, kiểu trích dẫn, kiểu luận đề,

Đột biến gen
I. Khái niệm và các dạng đột biến gen
1. Khái niệm
2. Các dạng đột biến gen
(GV và HS cùng tìm hiểu phần I. Sau khi học
xong phần I, BĐTD xuất hiện thêm 2 nhánh
“Khái niệm”; “Các dạng” và thêm các nhánh
con, ví dụ như: “mất” “thêm” “thay thế” )
(Ở bảng bên phải cũng xuất
hiện từ khóa “Đột biến gen”)
17
Đột biến
gen
Khái
niệm
Thêm
Thay thế
Các
dạng
Mất
…………
Tương tự như vậy, sau khi học xong mỗi phần với các kiến thức cần ghi
nhớ thì BĐTD lại thêm những nhánh nữa. Khi kết thúc bài học mới cũng là lúc
GV và HS đã hoàn thành xong BĐTD cho bài học.
Khi dạy HS hoàn toàn bằng máy chiếu, tôi thường dùng bảng như một
“bảng nháp” để cùng HS hoàn thiện BĐTD. Ngược lại, khi dùng bảng, với
những bài giảng có nội dung kiến thức ngắn, những lần đầu khi HS làm quen
với BĐTD tôi vẽ trực tiếp trên phần mềm để HS dễ quan sát và định hướng
những công việc cần làm.
Bên cạnh đó, cũng có những tiết dạy tôi cho HS hoạt động nhóm: Sau khi

19
Củng cố bài giảng bằng thiết kế và sử dụng các sơ đồ, bảng biểu.
Biện pháp củng cố này giúp HS hiểu được kiến thức thông qua khả năng
phân tích, so sánh và móc nối các kiến thức.
Thường áp dụng với những bài mang tính so sánh hay tổng quát, có thể sử
dụng các sơ đồ, bảng biểu để hệ thống lại kiến thức.
Củng cố bài giảng bằng việc sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập.
Biện pháp này đánh giá việc học của HS, rèn cho HS khả năng diễn đạt.
Nhưng sẽ tạo áp lực cho các HS tiếp thu chậm và không hiểu bài ngay tại lớp.
Phương pháp áp dụng đối với những bài học nhiều lý thuyết.
Củng cố bài giảng bằng việc tổ chức các trò chơi.
Biện pháp này tạo sự vui vẻ, hứng khởi cho HS đối với môn học. Nhưng
có hạn chế là tốn nhiều thời gian để tổ chức cho lớp tham gia trò chơi. Nguyên
tắc cơ bản là trò chơi phải đơn giản, đi sâu vào vấn đề trọng tâm của bài.
Củng cố bài giảng bằng cách cho HS tự tổng kết kiến thức.
Biện pháp củng cố này rèn cho HS kĩ năng trình bày vấn đề trước đám
đông và kĩ năng tóm lược vấn đề Phương pháp áp dụng với những bài nội dung
đơn giản, dễ tổng kết lại kiến thức.
Trên đây là một vài phương pháp củng cố bài học mà tôi và các bạn chắc
chắn đã dùng trong các tiết dạy của mình. Mỗi phương pháp có một ưu nhược
điểm riêng và khi dùng BĐTD, chúng ta có thể khắc phục các nhược điểm, phát
huy tối đa các ưu điểm. Sử dụng BĐTD gần như là một biện pháp có thể kết
hợp các phương pháp trên với nhau một cách linh hoạt, hiệu quả (Đó là trò
chơi, là sơ đồ tổng kết, có những câu hỏi củng cố…). Tôi nhận thấy rằng BĐTD
là công cụ tư duy mang tính tự nhiên, nếu vận dụng vào dạy học sẽ gây cảm
hứng và niềm say mê học tập cho HS. Đặc biệt, BĐTD rất phù hợp cho việc đọc,
ôn tập, ghi chú
Có thể nói, đây là công cụ vô giá không những giúp cho HS mà cả GV
trong việc thu thập, phân loại thông tin. Từ đó, tôi đã mạnh dạn vạch ra kế hoạch
để hướng dẫn HS học tập theo BĐTD này. Khi mới áp dụng BĐTD vào việc

TƯỢNG DỊ
BỘI
ĐỘT BIẾN CẤU TRÚC NST
ĐỘT BIẾN NST
ĐỘT BIẾN SỐ LƯỢNG NST
Dạng sơ đồ thứ 2:
Dạng sơ đồ thứ 3:
22
MẤT
ĐOẠN
LẶP
ĐOẠN
ĐẢO
ĐOẠN
HIỆN
TƯỢNG
ĐA BỘI
HIỆN
TƯỢNG DỊ
BỘI
ĐỘT BIẾN CẤU TRÚC NST
ĐỘT
BIẾN NST
ĐỘT BIẾN SỐ LƯỢNG NST
MẤT
ĐOẠN
LẶP
ĐOẠN
ĐẢO
ĐOẠN

Chắc hẳn với nhiều người khi dùng BĐTD cũng đang gặp khó khăn khi
đưa hình ảnh từ phần mềm Buzan's iMindMap vào phần mềm PowerPoint sao
cho ta hiệu ứng lần lượt được các nhánh theo đúng ý tưởng. Dưới đây, bằng kinh
nghiệm của mình tôi thường dùng theo cách sau:
- Cách 1: Để BĐTD đã hoàn thành hiển thị trên màn hình máy tính. Ấn
nút Print Screem (nút chụp màn hình) trên bàn phím để chụp hình ảnh đang trên
màn hình máy tính. Sau đó mở Paint (phần mềm vẽ tranh đơn giản) bằng cách
vào Start \ Programs \ Accessories \ Paint. Nháy chuột trái vào biểu tượng Select
trên thanh công cụ rồi đưa chuột ra nền trắng nháy chuột phải và chọn
Paste (hoặc ấn Ctrl + V) để dán ảnh vừa chụp vào. Lại nháy chuột trái vào biểu
tương Select rồi đưa ra màn hình, lúc này chuột biến thành hình dấu +, rê chuột
thành khung hình chữ nhật vào nơi ta định cắt, nháy chuột phải vào vùng vừa cắt
chọn Copy (hoặc ấn Ctrl + C) để dán phần ảnh đó sang PowerPoint. Trong
trường hợp ảnh có nhiều phần trắng che lấp các ảnh khác ta dùng chức năng
Order để sắp xếp các lớp ảnh trong PowerPoint.
23
- Cách 2: Sau khi hoàn thành xong BĐTD các thầy cô có thể dùng chức
năng ẩn hiện nhánh có trực tiếp tại phần mềm.
Ví dụ: Củng cố bài “Hệ sinh thái” Sinh học 12, tôi đã dùng như sau:
GV: Vừa rồi chúng ta đã cùng tìm
hiểu các nội dung kiến thức trong
bài Hệ sinh thái. Bây giờ các em
hãy trình bày những kiến thức
trọng tâm đã được học. GV đưa từ
khóa Hệ sinh thái trên máy chiếu.
? Bài Hệ sinh thái chúng ta tìm
hiểu mấy nội dung kiến thức? Đó
là những nội dung nào?
HS đứng tại chỗ trả lời, HS khác
nhận xét, bổ sung (nếu cần)

Khi chuẩn bị bài ôn tập cần sắp xếp các kiến thức cần khái quát, hệ thống
cho một chương hay một phần theo hệ thống có logic chặt chẽ, theo tiến trình
phát triển của kiến thức, cùng các kˆ năng cần rèn luyện.
Phương pháp dạy học được sử dụng chủ yếu trong giờ ôn tập là đàm
thoại tìm t}i, sử dụng bài tập Sinh học. Việc khái quát hóa kiến thức, phát
triển tư tưởng, năng lực nhận thức của học sinh đựơc điều khiển bằng các câu
hỏi dẫn dắt giúp học sinh tìm ra mối liên hệ giữa các kiến thức và khái quát
chúng ở dạng tổng quát nhất. Vì vậy giáo viên cần chuẩn bị một hệ thống câu
hỏi cho từng phần kiến thức, mối liên hệ giữa các kiến thức, vận dụng kiến thức,
đào sâu phát triển kiến thức. Các câu hỏi nêu ra phải rõ ràng, có tác dụng nêu
vấn đề để học sinh trình bày suy luận, thể hiện được khả năng tư duy khái quát
của mình.
Sự trình bày các bài tổng kết: Tùy theo nội dung cần tổng kết và sự phát
triển của kiến thức, bài tổng kết có thể trình bày theo các đề mục, các vấn đề của
nội dung mang kiến thức cần ôn tập. Đồng thời bài tổng kết cũng có thể trình
bày ở dạng các bảng tổng kết, các sơ đồ thể hiện mối liên hệ các kiến thức giúp
học sinh dễ nhìn, dễ nhớ và hệ thống hóa kiến thức ở dạng khái quát cao. Khi
xây dựng các bảng tổng kết cần rõ ràng các sơ đồ dễ nhìn, đảm bảo tính khoa
học và thẩm mˆ.
GV, HS cần có sự chuẩn bị chu đáo t| m| cho giờ ôn tập tổng kết:
Ngoài việc chuẩn bị nội dung, kiến thức, câu hỏi cho bài ôn tập, hệ thống kiến
thức đã đựơc trình bày trong sách giáo khoa, GV cần chuẩn bị thêm một số kiến
thức để mở rộng, đào sâu kiến thức và một số dạng bài tập mang tính vận dụng
sâu kiến thức trong các sách tham khảo, sách bài tập Sinh học Các kiến thức,
bài tập được lựa chọn cần đảm bảo trên cơ sở kiến thức phổ thông HS có thể
hiểu vận dụng được, có tính chất mở rộng, giải quyết được một phần thắc mắc
học sinh đặt ra khi đọc các sách tham khảo khác.
* Sử dụng BĐTD
BĐTD là một công cụ khá mạnh trong những tiết bài tập, ôn tập. Thông
thường tôi tiến trình theo sơ đồ: 1. Sơ đồ hóa kiến thức  2. Nội dung cần ôn

1. Kết luận
Với những biện pháp trên tôi đã áp dụng vào các kiểu bài dạy: Dạy bài
học tìm hiểu kiến thức mới, tiết ôn tập tổng kết… và áp dụng trong các phần
như: kiểm tra bài cũ, củng cố kiến thức hoặc xuyên suốt quá trình của một tiết
học.
HS tiếp cận kiến thức một cách nhẹ nhàng hơn, nắm vững kiến thức sâu
hơn và có khả năng nhớ lâu hơn nhờ tác dụng của sơ đồ tạo hình sinh động và
khoa học. Theo chủ quan tôi phân ra 5 cấp độ cho HS khi học theo BĐTD
Cấp độ 1: HS quan sát BĐTD theo mẫu đã vẽ sẵn
Cấp độ 2: HS tái hiện lại BĐTD sau khi đã quan sát, đã học về kiến thức
cần trình bày trong BĐTD
Cấp độ 3: HS tự vẽ được BĐTD sau khi đã học xong nội dung kiến thức
Cấp độ 4: HS tự đọc kiến thức mới và tự tổng kết được bằng BĐTD
Cấp độ 5: HS trình bày được các nội dung kiến thức đã học, đã tìm hiểu
mà không cần bất kì tài liệu nào.
Bên cạnh đó, vẫn có những vấn đề còn bỏ ngỏ chưa được nghiên cứu
trong đề tài như: Sử dụng BĐTD trong các tiết thực hành, tiết bài tập, rèn khả
năng ghi chép (kiểm tra viết) đầy đủ dựa trên BĐTD và tái hiện BĐTD (khi
không có bất kì tài liệu nào) tránh trường hợp HS chỉ nhớ ý, nhớ có mấy ý mà
không biết diễn tả đầy đủ… rất mong được sự góp ý, đánh giá của độc giả.
Kết quả cụ thể
Kết quả bài khảo sát của hai lớp 12H (Sử dụng BĐTD) và 12I (Không sử
dụng BĐTD) (hai lớp có số HS và lực học tương đương) cụ thể qua bảng so
sánh sau:
Sĩ số
Giỏi
8,0-10
Khá
6,5-7,9
T. Bình

bớt, thay đổi linh hoạt mềm dẻo sao cho khả năng ghi nhớ vận dụng là tốt nhất.
Phương pháp dạy học cũng vậy, ta không nên tuyệt đối hóa cũng như phủ định
bất kì một phương pháp nào cho dù là truyền thống hay hiện đại vì bao giờ nó
cũng bao gồm ưu điểm và nhược điểm. Vậy nên, trên đây tôi đã nêu ra những cơ
sở lí luận, phương hướng, biện pháp thường dùng thông thường đã mang lại hiệu
quả và đan xen vào nó là sử dụng BĐTD để cho tiết học thêm phần sôi nổi, GV
linh hoạt trong các phương pháp dạy học giáo dục, tiết học không nhàm chán,
HS hứng thú tiếp thu bài học, vận dụng sáng tạo vào bài tập và thực tiễn.
- Cần tổ chức cho GV dạy Sinh học, đồng chí phụ trách thiết bị được học
bồi dưỡng sử dụng thiết bị, sử dụng phần mềm từ đầu năm học.
- Vì các giờ dạy Sinh học thường có nhiều đồ dùng, mẫu vật thực hành
khi dạy bằng phương pháp mới cũng đòi hỏi có sự đầu tư cơ sở vật chất nên cần
sắp xếp thời khóa biểu cho gọn, đầu tư máy tính máy chiếu cho lớp học.
- Nhà trường, tổ chuyên môn cần có những chuyên đề, thảo luận về sử
dụng BĐTD và xây dựng thư viện BĐTD để GV và HS có thể khai thác, sử
dụng.
Trên đây là một số ý kiến của tôi, kính mong các cấp lãnh đạo nghiên cứu
và xem xét để đề tài được áp dụng rộng rãi nhằm thực hiện tốt mục tiêu đổi mới
giáo dục và giảng dạy bộ môn đạt hiệu quả cao.
29


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status