skkn sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học tiếng việt ở trường thpt chuyên lương thế vinh - Pdf 25


1
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÊN ĐỀ TÀI:
SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƢ DUY
TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT Ở TRƢỜNG THPT
Người thực hiện: TRẦN THỊ KIM TÂN.
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục 
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn 
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Lĩnh vực khác: 
(Ghi rõ tên lĩnh vực)

Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
 Mô hình  Phần mềm  Phim ảnh  Hiện vật khác

- Một số biện pháp tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong day học văn học
sử ở trường THPT Tên SKKN (VIẾT IN HOA ĐẬM)…………………………………
BM03-TMSKKN

3
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trình bày thực trạng các yếu tố chủ quan và khách quan có ảnh hưởng đến các vấn đề
liên quan với đề tài của tác giả trong công tác quản lý giáo dục, tổ chức dạy học và các hoạt
động giáo dục khác của đơn vị cũng như của ngành Giáo dục. Qua đó, giải thích rõ tính cấp

IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Xác định đề tài có phạm vi áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả tại đơn vị hoặc đã phổ
biến áp dụng trong ngành Giáo dục hoặc có khả năng áp dụng trong phạm vi rộng đạt hiệu quả.
Trên cơ sở đó, đề xuất:
- Các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách của đơn vị hoặc của
ngành Giáo dục.
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và dễ
đi vào hoạt động giáo dục.

4
Tác giả trình bày ngắn gọn, đầy đủ các vấn đề có liên quan trực tiếp với đề tài.
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ghi tên tài liệu tham khảo và tên tác giả đã được sử dụng trích dẫn trong sáng kiến kinh
nghiệm.
1. Tên tài liệu - Tác giả - Nhà xuất bản - Năm xuất bản
2. NGƢỜI THỰC HIỆN
(Ký tên và ghi rõ họ tên)


SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƢ DUY
TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT Ở TRƢỜNG THPT

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chúng ta đang sống trong thế kỷ XXI, thế kỷ của sự bùng nổ tri thức khoa học và
công nghệ. Để có thể vươn lên kịp thời đại, đất nước Việt Nam cần những người lao
động có tri thức, có tư duy sáng tạo. Tình hình đó đòi hỏi nền giáo dục của nước ta phải
đổi mới một cách toàn diện. Để thực hiện được mục tiêu đổi mới giáo dục như trênc
chúng ta không thể không nói đến phương pháp dạy học tích cực.
Điều 5 của Luật giáo dục (2005) đã chỉ rõ “Phương pháp giáo dục phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người
học khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”. Muốn làm được điều
này, giáo viên (GV) cần phải dạy cho học sinh biết cách vận dụng kiến thức linh hoạt
trong những tình huống cụ thể của cuộc sống.
Theo nhiều nhà khoa học, việc đổi mới hoạt động dạy học hiện nay vẫn còn gặp

bổ sung bài giảng một cách dễ dàng và nhanh chóng.
- MM giúp người học đạt điểm cao trong các kỳ thi
- MM giúp người học hiểu sâu hơn về chủ đề
- Số lượng ghi chú cho bài giảng giảm đi rất nhiều

7
- MM vô cùng hữu ích cho các em thiếu niên “có vấn đề về học tập”, đặc biệt là
những em mắc chứng khó đọc.
Sau cuốn sách này, Tony Buzan viết tiếp cuốn “Bản đồ tư duy trong công việc”
để cụ thể hóa việc vận dụng MM. Đặc biệt cuốn sách“Tôi tài giỏi, bạn cũng thế” của
Adam Khoo về ích lợi của việc sử dụng bản đồ tư duy (Mindmap - MM) được nhiều
người quan tâm.
Ở Việt Nam, MM được nghiên cứu và đưa vào sử dụng chủ yếu trong lĩnh vực
kinh doanh vào những năm đầu của thế kỷ XXI. Đến năm 2006, vấn đề ứng dụng MM
trong dạy học mới thực sự được chú ý khi dự án “Ứng dụng công cụ phát triển tư duy –
Sơ đồ tư duy” của nhóm Tư duy mới (New Thinking Group – NTG), Đại học Quốc gia
Hà Nội được triển khai thực hiện. Từ đó, xuất hiện các đề tài nghiên cứu khoa học như:
“Ứng dụng sơ đồ tư duy nâng cao hiệu quả dạy học tiếng Anh” của tác giả Nguyễn
Đặng Nguyệt Hương, Phạm Thu Liên, ĐHSP Hà Nội và chuyên đề “Giảng dạy và học
tập với công cụ bản đồ tư duy” của Thạc sĩ Trương Tinh Hà. Trên Tạp chí Giáo dục
cũng có một số bài viết đề cập đến vai trò và hiệu quả của việc sử dụng MM trong dạy
học. Tiêu biểu là các bài viết: “Bản đồ tư duy – Công cụ hỗ trợ hiệu quả trong dạy học
môn Toán” của Chu Cẩm Thơ, “Hệ thống hóa bài tập Vật lí với Sơ đồ tư duy” của Lê
Công Triêm, Lương Thị Lệ Hằng, “Sử dụng bản đồ tư duy - một biện pháp hiệu quả hỗ
trợ HS học tập môn Toán” của Trần Đình Châu.
Người đầu tiên đưa MM ứng dụng vào dạy học Văn là thầy Hoàng Đức Huy - GV
Trung tâm Giáo dục thường xuyên quận 4, Tp. HCM. Sáng kiến đổi mới dạy học này
của thầy được thể hiện trong nghiên cứu “Bản đồ tư duy đổi mới dạy học”. Tuy nhiên,
công trình này chỉ đề cập đến phương pháp giảng dạy bằng bản đồ tư duy với những tác
phẩm thơ, văn tự sự và văn thuyết minh.

luyện ngôn ngữ gắn liền với rèn luyện tư duy là một trong những nguyên tắc đặc thù của
phương pháp dạy học tiếng Việt ở trường phổ thông.
1.1.1.2. Năng lực tƣ duy và đặc điểm tâm lý của học sinh THPT
Theo tâm lí học lứa tuổi, HS cấp THPT ở vào thời kỳ mà sự phát triển thể chất
của con người đang đi vào giai đoạn hoàn chỉnh. Bên cạnh sự phát triển về thể lực, sự
phát triển của hệ thần kinh cũng có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của
não phức tạp và các chức năng não phát triển. “Cấu trúc của tế bào bán cầu đại não có
những cấu trúc như trong cấu trúc tế bào não của người lớn. Số lượng dây thần kinh liên
hợp tăng lên, liên kết các phần khác nhau của vỏ đại não lại. Điều đó tạo tiền đề cần
thiết cho sự phức tạp hoá hoạt động phân tích, tổng hợp… của vỏ bán cầu đại não trong
quá trình học tập”[11, tr.67].
Học sinh ở tuổi này trưởng thành hơn, sở hữu nhiều kinh nghiệm sống hơn, các
em nhận ra được vị trí, vai trò của mình. Do vậy, thái độ có ý thức của các em trong hoạt
động học tập ngày càng được phát triển. Đặc biệt ở lứa tuổi này, tính chủ động phát triển
mạnh mẽ ở tất cả các quá trình nhận thức. Quan sát của HS trở nên có mục đích, có hệ
thống và toàn diện hơn, ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ,

9
các em sử dụng tốt hơn các phương pháp ghi nhớ, tóm tắt ý chính, so sánh, đối chiếu….
Đặc biệt, các em tạo được tâm thế phân hoá trong ghi nhớ, biết phân biệt tài liệu nào cần
nhớ từng chữ, cái gì chỉ cần hiểu mà không cần nhớ. Cũng do đặc điểm lứa tuổi, học
sinh Trung học phổ thông phát triển mạnh về tư duy hình thức. Các em có khả năng tư
duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập sáng tạo trước những đối tượng quen
thuộc hoặc chưa quen thuộc.
Sự tổng hợp về năng lực tư duy và những đặc điểm tâm lý của HS THPT chính là
tiền đề để chúng ta khẳng định việc hình thành năng lực tự học tập, tự nghiên cứu cho
HS với việc sử dụng MM trong dạy học các bài tiếng Việt là một việc làm hợp lý có cơ
sở khoa học.
1.1.2. Về bản đồ tƣ duy
1.1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của bản đồ tư duy

có thể sử dụng một số phần mềm sau để tạo MM trong quá trình dạy học: phần mềm
Bzan’s iMindMap, phần mềm Mindjet MindManager Professional, phần mềm
Inspiration, phần mềm Visual Mind, phần mềm Free Mind,…) hoặc vẽ bằng Microsoft
Word, hình ảnh trung tâm có thể dễ dàng tìm kiếm trên internet.
b.Quy tắc vẽ bản đồ tƣ duy
Để sử dụng MM một cách có hiệu quả, trong quá trình lập và sử dụng MM cần
tuân theo các quy tắc: nhấn mạnh, liên kết và mạch lạc.
- Quy tắc về nhấn mạnh
Nhấn mạnh có tác dụng tăng trí nhớ và đẩy mạnh sáng tạo. Để đạt hiệu qủa nhấn
mạnh tối ưu trong MM, ta có thể làm như sau:
Bắt đầu với một hình màu ở trung tâm, mỗi hình ảnh dùng ít nhất ba màu và sử
dụng hình ảnh ở mọi nơi trong MM. Sử dụng hình ảnh sẽ thu hút được sự tập trung của
mắt và não, kích hoạt vô số liên kết và giúp cho việc ghi nhớ dễ dàng hơn. Nếu buộc
phải dùng từ thay cho hình ảnh làm trung tâm trong MM, hãy biến nó thành hình ảnh
bằng cách dùng kích cỡ, màu sắc và hình thức lôi cuốn.
Thay đổi kích cỡ ảnh, chữ in thích hợp để chỉ tầm quan trọng tương đối giữa các
thành phần trong cùng một phân cấp.

11
-Quy tắc về liên kết
Liên kết có tác dụng làm tăng trí nhớ và kích thích sáng tạo nên cũng rất quan
trọng. Để đạt được điều này cần chú ý đến việc dùng màu sắc và ký hiệu:
Màu sắc giúp cho việc tăng cường trí nhớ và khả năng sáng tạo hiệu quả nhất. Vì
vậy, nên sử dụng màu sắc ở mọi nơi trong MM. Dùng màu sắc để làm ký hiệu hay phân
biệt các vùng trong MM sẽ làm tăng khả năng ghi nhớ thông tin.
Ký hiệu là quy tắc không thể thiếu trong các quy tắc về liên kết. Khi dùng ký
hiệu, các mối liên kết giữa các bộ phận trong cùng một trang trong MM sẽ dễ dàng được
tìm thấy bất kể chúng xa hay gần nhau.
- Quy tắc về mạch lạc
Để đảm bảo tính mạch lạc nên dùng chữ in hoặc có thể dùng kết hợp chữ in

Marketing. Bên cạnh đó, bản đồ tư duy cũng đã được gợi ý sử dụng như một công cụ
ghi chép tích cực cho sinh viên các trường đại học ở Mĩ. Họ có thể ghi lại bài giảng
bằng các từ khóa ngắn gọn cũng như những hình ảnh, đường nét với màu sắc khác nhau.
TheoTony Buzan, hoạt động này thực sự mang lại hiệu quả cao cho người sử dụng vì
tốc độ ghi nhanh, dễ nhớ và dễ tái hiện khi cần thiết. Ngoài ra,sử dụng bản đồ tư duy
còn có những ưu thế vượt trội so với các công cụ học tập khác như sau:
- Lên kế hoạch dễ dàng
- Giúp người sử dụng trở nên sáng tạo hơn
- Tiết kiệm thời gian
- Đem đến cái nhìn tổng thể về một vấn đề
- Giúp tổ chức tốt vấn đề và nhớ lâu
Như vậy, sử dụng tốt bản đồ tư duy sẽ giúp người dùng “cảm thấy được giải
phóng về mặt trí tuệ và tính sáng tạo trong cách làm việc; nhận thấy bản thân mình là
một “chiếc máy ý tưởng” [9, tr. 31].
1.1.3. Khả năng ứng dụng của bản đồ tư duy trong dạy học tiếng Việt
Thực tế đã chứng minh MM là một công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập ở
trường phổ thông cũng như các bậc học cao hơn vì chúng giúp GV và HS có thể trình
bày ý tưởng một cách rõ ràng, sáng tạo, hiệu quả. Việc học tập thông qua sơ đồ, tóm tắt
thông tin của một bài học hay một cuốn sách, bài báo, hệ thống lại kiến thức đã học sẽ
tăng cường khả năng ghi nhớ, đưa ra ý tưởng mới giúp hiệu quả học tập nâng cao rõ rệt.
Từ những cơ sở thực tế trên, chúng tôi tin rằng MM hoàn toàn có khả năng ứng dụng

13
vào việc dạy học bộ môn Tiếng Việt ở trường THPT. Việc ứng dụng này sẽ làm bài học
sinh động, hấp dẫn, tạo điều kiện cho hHS dễ dàng lĩnh hội kiến thức. Bản đồ tư duy cần
được chuẩn bị trước giờ học, trong giờ học và cả sau giờ học, làm như thế vừa gây hứng
thú học tập, vừa bổ ích cho sự phát hiện và lĩnh hội kiến thức.
Ở đây chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh hơn đến khả năng dùng bản đồ tư duy để
dạy học tích hợp nhằm rèn luyện và hoàn thiện năng lực tổng hợp của học sinh. Do bản đồ
tư duy cho phép người sử dụng liên tưởng và sáng tạo tùy theo năng lực và khả năng huy

1.1.4.Các bài tiếng Việt trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn ở trường Trung
học phổ thông
1.1.4.1. Khảo sát thống kê các bài tiếng Việt
Khảo sát bộ sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn 10, 11, 12 (cả chuẩn và nâng cao),
chúng tôi nhận thấy chúng có đặc điểm cơ bản khẳng định thêm tính cần thiết và phù
hợp của đề tài
- Bài tiếng Việt chiếm tỉ lệ lớn trong chương trình Ngữ văn ở phổ thông. Thống
kê bộ sách bộ sách Ngữ văn lớp 10, 11, 12 (cả chuẩn và nâng cao) thì tỉ lệ tiết Tiếng
Việt chiếm khoảng hơn 10 % tổng số tiết học. Cụ thể như sau:
Lớp 10: Chuẩn: 11/105 Nâng cao: 14/140
Lớp 11: Chuẩn: 18/123 Nâng cao: 20/140
Lớp 12: Chuẩn: 11/ 105 Nâng cao: 13/140
- Mặt khác, SGK Ngữ văn hiện nay được xây dựng trên nguyên tắc tích hợp, việc
dạy Tiếng Việt không thể tách rời dạy học văn bởi Văn học( Văn bản) là ngữ liệu trực
tiếp cho dạy học Tiếng Việt với ý nghĩa là ngữ cảnh rộng cho việc lý giải của các đơn vị
ngôn ngữ, đồng thời ngôn ngữ văn học là một trong những chuẩn mực cho việc dạy học
tiếng Việt hướng tới. Đây là tư tưởng được quán triệt trong việc xây dựng chương trình
cũng như việc dạy văn học trong nhà trường.
1.1.4.2. Đặc điểm chung của dạy học tiếng Việt ở trườngTHPT

16
a. Thực trạng dạy
Khảo sát giáo viên
Chúng tôi có gửi phiếu thăm dò đến 4 GV trong tổ bộ môn Ngữ văn của Trường THPT
Xuân Lộc, 4 GV trong tổ bộ môn Ngữ văn của Trường THPT Xuân Hưng, 4 GV trong
tổ bộ môn Ngữ văn của Trường THPT ông Ray thuộc tỉnh Đồng Nai (12 GV) và xin
các GV ghi nhận ý kiến của mình vào phiếu (phiếu có kèm theo ở phần phụ lục).
Ngoài ra, chúng tôi còn trực tiếp gặp gỡ một số GV để thăm dò, phỏng vấn xoay
quanh vấn đề thực trạng giảng dạy tiếng Việt ở trường THPT.
Kết quả

4
0 (0%)
2(16,7%)
3(25%)
7(58,3%)
12 (100%)
5
0 (0%)
8(66,7%)
3(25%)
1(8,3%)
12 (100%)
6
2 (16,65%)
8(66,7%)
0(0%)
2 (16,65%)
12 (100%)
7
9(75%)
3(25%)
0(0%)
0(0%)
12 (100%)
8
9(75%)
3(25%)
0(0%)
0(0%)
12 (100%)

trường THPT. GV cũng biết rằng trên lí thuyết cần phải đổi mới nhưng thực tế thì việc
đổi mới đó được tiến hành như thế nào, đi theo hướng nào tích cực nhất thì họ vẫn chưa
tìm ra.
Khách quan mà nói nếu HS không thích học tiếng Việt thì trách nhiệm đầu tiên là
thuộc về người GV trực tiếp đứng lớp. Hiện nay nhiều GV vẫn chưa thật sự đầu tư để
đưa phương pháp mới vào bài giảng một cách hoàn toàn chủ động. Việc sử dụng các
phương tiện dạy học như sơ đồ hóa, sử dụng công nghệ thông tin để bài học sinh động
có sức hấp dẫn nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh còn rất hạn chế. GV
sử dụng phương pháp diễn giảng là chính.
Việc sử dụng MM trong công việc cũng như trong dạy học bộ môn, hầu hết các
GV không quan tâm, thậm chí có nhiều GV chưa từng biết tới MM. Chỉ một số ít GV
(9,52%) có ứng dụng MM trong các công việc khác (như: lập kế hoạch, ghi chép,
viết…), còn đa số GV chưa bao giờ sử dụng.
b. Thực trạng học
 Khảo sát học sinh

18
Chúng tôi đã phát phiếu điều tra trắc nghiệm ở cả 3 khối lớp 10,11 và 12 của
Trường THPT Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai để HS đánh dấu ý kiến của mình về việc học
các tiết Tiếng Việt ở nhà trường THPT.
Kết quả

Câu hỏi
A
B
C
D
TS phiếu
SL (%)
SL (%)

0(0%)
265(100%)
5
49(18,5%)
216(81,5%)
0(0%)
0(0%)
265(100%)
6
0(0%)
216(81,5%)
49
(18,5%)
0(0%)
265(100%)
7
10(3,7%)
0(0%)
68
(25,7%)
187
(70,6%)
265(100%)
8
0(0%)
0(0%)
0(0%)
265(100%)
265(100%)
1.2. Bảng kết quả thăm dò học sinh

hoàn thiện kiến thức và sau đó thì có thể vận dụng nó vào bài làm văn, trong giao tiếp,
trong cuộc sống. Song trên thực tế, HS nắm kiến thức cơ bản chưa vững nên việc vận
dụng sáng tạo, linh hoạt vào bài làm văn hay trong cuộc sống là điều vô cùng khó khăn.
Những nguyên nhân đó đã khiến HS không có thái độ tích cực đối với các giờ học tiếng
Việt.
Tóm lại môn tiếng Việt mang những đặc trưng rất riêng nên việc quy định đặc
điểm tiếp nhận của HS cũng có những khác biệt so với các phân môn khác của văn học.
Sự khác biệt đó nằm ngay trong tâm lí của HS, thể hiện qua chất lượng học tập các bài
tiếng Việt được phản ánh trong các lần kiểm tra. .
Căn cứ vào kết quả tìm hiểu, thu thập ý kiến,chúng tôi có thể đưa ra nhận định
rằng: chất lượng giờ dạy tiếng Việt ở nhà trường phổ thông hiện nay chưa cao, hiệu quả

20
chưa nhiều, các hướng tổ chức giờ học chưa thật tốt.
1.1.5. Vị trí của phân môn Tiếng Việt trong chƣơng trình Ngữ văn ở nhà
trƣờng THPT
1.1.5.1. Vị trí của phân môn Tiếng Việt trong nhà trường THPT hiện nay
Tiếng Việt là một trong những môn có tầm quan trọng đặc biệt trong các môn
khoa học xã hội - nhân văn, có vai trò trọng yếu trong việc giữ gìn và phát huy tiếng nói
dân tộc. Chất lượng dạy học tiếng Việt ở trường phổ thông có quan hệ trực tiếp đến
năng lực ngôn ngữ, năng lực tư duy của các thế hệ nối tiếp, và ảnh hưởng trực tiếp đến
vận mệnh tiếng Việt, vận mệnh văn hoá Việt Nam. Với tư cách là một môn học, Tiếng
Việt có nhiệm vụ cung cấp cho HS những tri thức ngôn ngữ học, hệ thống tiếng Việt,
quy tắc hoạt động và những sản phẩm của nó trong mọi hoạt động và những sản phẩm
của nó trong mọi hoạt động giao tiếp. Mặt khác, vì tiếng Việt là một công cụ giao tiếp
và tư duy nên môn Tiếng Việt còn đảm nhận thêm một chức năng kép mà các môn học
khác không có. Đó là chức năng trang bị cho HS công cụ để giao tiếp, tiếp nhận và diễn
đạt mọi kiến thức khoa học trong nhà trường.
Trong chương trình THPT, môn Tiếng Việt giữ vai trò “môn học công cụ” giúp
HS tiếp nhận và diễn đạt tốt các thông tin khoa học được giảng dạy ở nhà trường. Nói

học kiểu bài này đã khiến cho nhiều GV không thật sự hứng thú trong việc đổi mới
PPDH cho phù hợp với đặc trưng kiểu bài mà thường dạy qua loa đại khái nhiều GV
quan niệm chỉ cần dạy học sinh những gì có trong các kỳ thi, phần kiến thức tiếng Việt
hầu nhưkhông có trong các kỳ thi tốt nhiệp hay đại học cao đẳng. Khi xem giáo án,
chúng tôi thấy rất nhiều GV thiết kế giáo án đơn giản, thường chỉ nêu câu hỏi trong
SGK, sau đó hướng dẫn HS trả lời theo cách GV đã chuẩn bị. Chính vì vậy mà chất
lượng dạy học các bài tiếng Việt ở nhà trường phổ thông hiện nay chưa cao, chưa hiệu
quả .
b. Về phía HS
Đa số HS đã xác định được các bài tiếng Việt trong chương trình có tầm quan
trọng lớn đối với quá trình nhận thức của mình. Một số em rất hứng thú với giờ học này,
tập trung nhiều thời gian cho giờ học, sôi nổi khi học tập trên lớp, đã khẳng định và phát
huy được năng lực học Tiếng của mình qua các bài tập vận dụng. Tuy nhiên, bộ phận này
chưa nhiều. Qua khảo sát và tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy phần lớn các em chưa thực sự
hứng thú khi học các bài tiếng Việt, kết quả học tập chưa cao. Có rất nhiều lý do dẫn đến
tình hình chung này, đó là: các bài tiếng Việt kiến thức khó không phải ngẫu nhiên mà
có câu “phong ba bão táp không bằng ngữ pháp tiếng Việt”, bên cạnh đó HS có ít tài liệu

22
phương tiện hỗ trợ khi học tập, GV chưa thật sự tâm huyết, chưa chú ý đến đổi mới
phương pháp dạy học (PPDH).
Từ cơ sở lý luận liên quan đến đề tài và từ thực tế dạy học các bài tiếng Việt,
chúng tôi thấy cần phải tìm ra nhiều hướng tổ chức khác nhau đối với một giờ dạy học
tiếng Việt theo tinh thần đổi mới dạy học của nhà trường phổ thông hiện nay, nhằm phát
huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, rèn luyện và nâng cao khả năng tự học của HS,
nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt nói riêng và môn Ngữ văn nói chung. Có thể nói,
sử dụng MM trong dạy học Tiếng Việt sẽ đáp ứng được yêu cầu đổi mới dạy học cũng
như khắc phục được những hạn chế trong thực tế giảng dạy như đã đề cập, nhằm giúp
GV đảm bảo được khối lượng kiến thức phù hợp với thời lượng lên lớp, giúp HS phát
huy được tính tích cực, chủ động, rèn luyện khả năng tự học và hứng thú hơn với bài

Mục đích của việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông là thay đổi lối dạy truyền
thụ một chiều sang dạy học theo “phương pháp dạy học tích cực” nhằm giúp HS phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học,
tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong
học tập và trong thực tiễn; tạo niềm vui, hứng thú trong học tập. Đối với học phần Tiếng
Việt, nguyên tắc này có cơ sở bởi HS đã có những hiểu biết có tính kinh nghiệm về
tiếng Việt, đồng thời dựa trên kiến thức và kỹ năng đã học ở các lớp dưới về tiếng Việt.
Ví dụ: Phần tiếng Việt trong SGK Ngữ văn 11 tiếp tục được biên soạn theo
nguyên tắc đề cao tính tích cực trong học tập của HS (đã thực hiện ở SGK Ngữ văn 10).
Trong mỗi bài, nội dung kiến thức và kĩ năng không đơn phương “rót” từ bài vào đầu
HS, mà đều thông qua các hoạt động tìm hiểu của bản thân HS (nhờ câu hỏi hướng dẫn)
để HS tự hình thành kiến thức và kĩ năng. Ngay ở những bài có nhiều kiến thức lí thuyết
mới (Ngữ cảnh, Nghĩa của câu, Phong cách ngôn ngữ chính luận) thì bài học cũng bắt
đầu từ chỗ yêu cầu HS tìm hiểu ngữ liệu thực tế theo các câu hỏi, từ đó rút ra những
nhận xét, kết luận; sau đó lại tiến hành luyện tập để mở rộng, củng cố kiến thức và rèn
luyện kĩ năng. Hoạt động luyện tập thực hành được tiến hành thường xuyên, liên tục.
Trong các bài thực hành thì chỉ có luyện tập thực hành để mở rộng, củng cố và nâng cao
kiến thức đã học ở THCS.
2.1.3. Dạy học các bài tiếng Việt với sự hỗ trợ của bản đồ tƣ duy phải lấy
học sinh làm trung tâm
Khi thực hiện PPDH này, GV đóng vai trò là người tổ chức, điều khiển, định
hướng, kiểm tra và giám sát hoạt động học tập của HS trong quá trình dạy học. HS tích
cực, chủ động tham gia các hoạt động nhận thức để chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ

24
năng, kỹ xảo.
Trong quá trình tổ chức hoạt động nhận thức cho HS trong dạy học với sự hỗ trợ
của MM, GV không đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức mà trở thành
người thiết kế, xây dựng các hoạt động tương ứng với nội dung kiến thức của bài học
hoặc một phần của bài học. HS tích cực, chủ động, sáng tạo tham gia các hoạt động dưới

Việc chuẩn bị bài của HS không chỉ đơn thuần là bước đầu làm quen với kiến
thức mà còn là sự tổ chức lại kiến thức trong một cấu trúc mới để kiến thức trở nên tinh
gọn hơn, giúp HS ghi nhớ kiến thức lâu dài. Do vậy, việc đầu tiên là phải thông hiểu
kiến thức. Việc thông hiểu kiến thức này phải qua quá trình tư duy, qua việc thực hiện
các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa…để xử lý
thông tin nhằm tìm ra các thuộc tính bản chất của khái niệm.
Với việc hệ thống hóa kiến thức, trước hết, GV hướng dẫn HS phải đọc kỹ kiến
thức trong SGK. Từ phần chuẩn bị học sinh sẽ tiếp thu bài mới tốt hơn
2.2.1.2. Hƣớng dẫn HS vẽ bản đồ tƣ duy cho bài tiếng Việt đang học
Trước hết, GV giới thiệu cho HS những hiểu biết về MM, những nguyên tắc vẽ
MM và các bước vẽ MM.
Để tiến hành vẽ MM cho bài tiếng Việt, cần thực hiện những bước sau đây:
Bƣớc 1: Xác định và phân loại nội dung kiến thức
Khi lập MM cần phân loại nội dung thật cụ thể, rõ ràng, mạch lạc, cần phải đưa
kiến thức về từng chủ đề, từng lĩnh vực có mối liên hệ với nhau, sau đó chúng ta mới lập
MM.
Ví dụ: Bài ôn tập tiếng Việt chương trình lớp 10 có thể khái quát hóa và hệ thống
hóa kiến thức theo bốn chủ đề sau:

Trích đoạn Tiến trình dạy học nội dung bài “ Những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt”(Lớp 10) với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy Tiến trình dạy học nội dung bài “Đặc điểm loại hình tiếng Việt”(Lớp 11) với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm Tổ chức nội dung dạy học thực nghiệm Phân tích kết quả thực nghiệm 1 Nhận xét tiến trình dạy học
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status