SKKN Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY ”
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài, thuận lợi và khó khăn
Từ lâu, dạy học theo kiểu “đọc – chép” được coi là một phương pháp dạy học để
truyền tải kiến thức cho học sinh và được sử dụng phổ biến ở nhiều trường trong cả nước.
Ngành Giáo dục và Đào tạo cũng đã có nhiều cuộc hội thảo và cũng đã đưa ra nhiều
phương pháp dạy học tích cực hơn… nhưng hiện tại không ít giáo viên vẫn sử dụng cách
dạy học theo kiểu “đọc – chép”
Phải nói rằng trong một tiết dạy, cũng có lúc giáo viên cần phải đọc cho học sinh
chép như môn chính tả ở bậc Tiểu học, đọc hoặc ghi lên bảng các công thức toán học,
bảng cửu chương, một sự kiện lịch sử, một số yếu tố địa lý, đoạn thơ, các khái niệm ở
bậc Trung học, điều này không có nghĩa là giáo viên đã sử dụng phương pháp “đọc –
chép”.
Cũng phải khẳng định rằng, trong giáo học pháp, chưa bao giờ trong trường học
có phương pháp dạy học mang tên “đọc – chép”. Do đó, “đọc” thế nào và học sinh
“chép” ra sao mới là quan trọng. Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương chống việc dạy học
“chủ yếu qua đọc chép – nhìn chép” nghĩa là chống việc chỉ đọc chép, truyền thụ kiến
thức một chiều trong cả một tiết lên lớp.
Với cách dạy này, người thầy đã máy móc, rập khuôn trong dạy học, dễ có tư
tưởng phó mặc, không hứng thú trong cập nhật kiến thức, không sáng tạo trong việc tìm
kiếm các phương án thiết kế bài dạy phù hợp với mọi đối tượng học sinh trong lớp mình
phụ trách để kết quả giảng dạy đạt mức tối ưu. Người học theo cách này sẽ trở nên thụ
động, chỉ biết thu nhận kiến thức một chiều, không động não suy nghĩ, không biết tự
mình chiếm lĩnh tri thức, trở nên thui chột về tư duy, khó vận dụng kiến thức vào cuộc
sống.
2
Hơn nữa, đã dạy theo kiểu “đọc – chép” thì đề thi phải ra theo kiểu học thuộc.
Học sinh khi học, chép được điều gì thì lúc thi, lại chép những điều ấy vào bài làm,

Đây là chủ trương phù hợp với tiến trình đổi mới và nâng cao chất lượng giáo
dục, đáp ứng sự mong đợi bấy lâu nay của nhiều giáo viên tâm huyết với giáo dục, giúp
học sinh chủ động học tập và sáng tạo.
Có thể nói, nhiều năm qua việc giáo viên đọc cho học sinh chép bài đã trở thành
thói quen của phần lớn thầy – trò bậc phổ thông, kể cả đại học. Nhiều nhà nghiên cứu
giáo dục và dư luận lên tiếng không đồng tình, thậm chí phản đối gay gắt và đề nghị
chấm dứt việc dạy học theo kiểu đọc chép, nhưng có lẽ do còn nhiều việc phải giải quyết,
nên mãi đến năm học này, Bộ Giáo dục và Đào tạo mới có ý kiến chính thức bằng văn
bản.
Dạy theo kiểu “đọc cái có sẵn cho học sinh chép vào vở” cứ lặp đi lặp lại nhiều
năm, khiến công việc của các nhà giáo trở nên nhàm chán, không có động lực để đổi mới.
Còn với học sinh, dẫu biết rằng phải chép bài của thầy đọc từ sách giáo khoa, cái mà các
em có thể tự đọc – là một sự miễn cưỡng. Nhưng biết làm sao, khi thầy yêu cầu trả bài
phải đúng, thậm chí đúng nguyên văn những lời thầy đọc.
Đã có những bài thi ngây ngô đến mức khó tin, bởi thiếu phương pháp tư duy, rập
khuôn máy móc do việc học lệ thuộc hoàn toàn vào thầy, còn thầy thì lệ thuộc sách giáo
4
khoa. Cách dạy và học này còn tiếp tay cho nạn quay cóp, gian lận trong thi cử, tạo ra sự
thiếu công bằng giữa những người học nghiêm túc và những người thầy thực sự muốn
đổi mới cách dạy học.
Thầy đọc, trò chép trên lớp, cộng với việc học quá tải liên miên khiến các em
không đủ thời gian suy ngẫm và tự học, thì lấy đâu ra việc tìm tòi, suy luận để có kiến
thức thực sự? Nhưng vấn đề đặt ra, thế nào là thầy không đọc, trò không chép? Không
đọc kiến thức đã có sẵn trong sách giáo khoa, thì thầy sẽ nói gì để các em ghi lại và phát
triển tư duy?
Chỉ thị không đọc – chép trên lớp sẽ thực hiện từ năm học này. Nếu không chuẩn
bị kỹ lưỡng với một tinh thần hưởng ứng nhiệt tình, có thể xảy ra tình trạng, giáo viên
photo bài giảng và bộ câu hỏi rồi phát cho học sinh tự đọc, tự trả lời để tránh tiếng “thầy
đọc, trò chép”. Và cũng không loại trừ xảy ra chuyện, thầy cứ giảng, trò muốn ghi gì
cũng được mà không biết đâu là nội dung chính để tập trung học hỏi. Rồi khi thi kiểm tra

thăm một số thầy cô đã được cử đi tập huấn ở Singapor và được biết các trường học ở
Singapor cũng đã thực hiện cách dạy nầy rồi. Tôi đến các lớp hỏi thăm học sinh lớp 10 có
biết ghi bài bằng sơ đồ tư duy hay không thì các em trả lời ở Trường THCS các em cũng
đã được dạy rồi.
6
Từ đó tôi mới tìm hiểu và áp dụng theo phương pháp “Sử dụng sơ đồ tư duy trong
dạy học lịch sử ở trường THPT” và bài trả lời cho câu hỏi làm thế nào để đổi mới phương
pháp dạy học “không đọc – chép ; không nhìn – chép” theo chỉ thị của Bộ Giáo dục và
Đào tạo mà tôi trăn trở băn khoăn bấy lâu nay đã có cách để giải quyết
Qua một năm học áp dụng cho học sinh lớp 10 và lớp 12 ở Trường THPT Dĩ An
do tôi phụ trách ở bộ môn lịch sử, tôi nhận thấy đây là cách dạy mang lại hiệu quả cao
nếu giáo viên biết vận dụng các kĩ năng CNTT vào tiêt dạy thì sẽ giúp học sinh hứng
thú, yêu thích tiết học lịch sử hơn so với một tiết dạy bằng giáo án điện tử thông thường.
2. Mức độ nghiên cứu đề tài
Năm học 2011 – 2012 là năm học đầu tiên Bộ GD – ĐT triển khai thực hiện
“Chấm dứt hoàn toàn việc đọc – chép; nhìn – chép ở các trường THPT”.
7
Vì trong năm học nầy tôi chỉ được phân công giảng dạy Lịch sử lớp 10 và lớp 12
nên tôi chỉ tập trung nghiên cứu hai khối lớp của mình phụ trách. Trong phạm vi nghiên
cứu đề tài nầy, mức độ nghiên cứu chỉ giới hạn trong vấn đề lớn : “Hướng dẫn học sinh
ghi bài theo sơ đồ tư duy”.
3. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu : “Soạn giảng bộ môn Lịch sử 10 và 12 theo sơ đồ tư duy và
chuẩn KTKN được điều chỉnh giảm tải trong năm học 2011 – 2012”.
+ Khách thể nghiên cứu : Môn LS lớp 10 và lớp 12 ở trường THPT.
+ Phạm vi nghiên cứu : Hướng dẫn học sinh ghi bài theo sơ đồ tư duy.
4. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Cuộc vận động chấm dứt cách dạy học “đọc chép” nếu thành công, sẽ góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục. Theo GS – TS Đinh Quang Báo, nguyên Hiệu trưởng
trường Đại học Sư phạm Hà Nội, để cuộc vận động này thành công, thì đội ngũ giáo viên

không đến nổi quá khó khăn. Mỗi khi đã có sự hiểu biết sâu sắc về chuyên môn, giáo
viên dễ dàng lựa chọn phương pháp để giảng dạy, vì phương pháp là sự vận động của tri
thức.
9
Mỗi phương pháp dạy học có một giá trị riêng, tuỳ theo nội dung kiến thức và đối
tượng mà lựa chọn phương pháp cho phù hợp nhằm tạo biểu tượng, hình thành khái
niệm, khắc sâu kiến thức cơ bản… cho học sinh. Để phát huy tính tích cực của học sinh
trong học tập, phương pháp dạy học sử dụng sơ đồ tư duy tỏ ra có ưu thế. Mỗi bài học
chứa đựng một số vấn đề cơ bản của lịch sử, bằng sự hiểu biết của mình, giáo viên nêu
vấn đề, tổ chức cho học sinh giải quyết bằng cách sáng tạo thành sơ đồ tư duy nhằm phát
huy tính tích cực và huy động bộ não các em làm việc hết công suất cho mỗi bài học, sẽ
không còn tình trạng học sinh ngồi im thụ động chỉ có vài em được phát biểu và làm việc
với giáo viên trong tiết học.
Việc học sinh tham gia trực tiếp vào việc giải quyết những yêu cầu của bài học
vừa có tác dụng phát triển tư duy vừa gây hứng thú học tập. Tất nhiên vai trò dẫn dắt của
người thầy là hết sức quan trọng. Dạy học là một nghệ thuật, bằng tâm hồn, sự hiểu biết
và nghệ thuật của giáo viên, những “phần xác” lịch sử sẽ được “phả hồn” vào một cách
sinh động và đẹp đẽ, giúp các em cảm nhận tốt hơn, yêu thích hơn bộ môn lịch sử.
Phương tiện dạy học bằng sơ đồ tư duy ngày càng trở nên phóng phú và được các
nước tiên tiến trên thế giới sử dụng đạt hiệu quả cao. Nếu biết khai thác tốt sơ đồ tư duy
sẽ hỗ trợ đắc lực cho giáo viên trong quá trình giảng dạy. Cùng với sự kết hợp các
phương pháp, phương tiện trực quan và kỹ thuật sẽ góp phần đẩy lùi hiện tượng “đọc
chép” một cách có hiệu quả.Việc sử dụng sơ đồ tư duy cùng phương tiện trực quan và kỹ
thuật đòi hỏi giáo viên phải có sự đầu tư công sức và trí tuệ cho bài giảng. Rõ ràng làm
tốt công việc này sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giờ dạy và hiên tượng “đọc
chép” sẽ không có cơ hội để tồn tại.
Lý luận dạy học đã chỉ ra rằng, học sinh vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của quá
trình dạy học. Dạy học theo lối đọc chép có nghĩa giáo viên đã thủ tiêu mất vai trò chủ
10
thể của học sinh, đưa các em vào trạng thái hoàn toàn thụ động, bị nhồi nhét một cách

Năm học 2011 – 2012 Bộ Giaó dục và Đào tạo giảm tải nội dung sách giáo khoa
tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong việc dạy và học hơn nững năm qua.
Tôi được Sở GD&ĐT Bình Dương cử tham dự lớp tập huấn “Phương pháp dạy
học mới” và những năm qua đã soạn giảng khá tốt bộ giáo án điện tử lớp 10 và lớp 12 nên
có thuận lợi hơn khi áp dụng đề tài hướng dẫn học sinh bậc THPT thực hiện ghi bài theo
sơ đồ tư duy.
13
Trường THPT Dĩ An được Sở GD&ĐT Bình Dương đâu tư xây dựng thành đơn
vị Trường THPT chất lượng cao của Tỉnh Bình Dương và được Sở đầu tư lắp đặt mỗi
phòng học đều có một bộ máy chiếu để giáo viên giảng dạy tại lớp. Mỗi giáo viên chỉ
cầng dùng một USB ghi nội dung bài dạy và đến lớp để sử dụng ngay trong tiêt dạy tại
lớp nên rất thuận tiện cho giáo viên và học sinh khi áp dụng phương pháp giảng dạy mới
sử dụng sơ đồ tư duy.
Học sinh các lớp THPT của Bình Dương bước đầu đã được làm quen với cách ghi
bài theo sơ đồ tư duy ở các trường THCS nên các em tiếp thu cách học mới dễ dàng hơn
ở bậc THPT.
Một số phần mềm sơ đồ tư duy được phổ biến rộng rãi nên đã hỗ trợ cho giáo
viên và học sinh khi trình bày sơ đồ tư duy trên máy chiếu.
2. Khó khăn khi thực hiện đề tài SKKN
Khi dự giờ các tiết dạy giáo viên còn theo bảng chấm điểm cũ, hầu như đa số giáo
viên của các trường THPT đều chưa giảng dạy học sinh theo phương pháp sử dụng sơ đồ
tư duy vào trong một tiết dạy.
Giáo viên ở các trường THCS không hướng dẫn kỹ cách thực hiện cho học sinh
và chưa nêu rõ tầm quan trọng của việc dạy học theo phương pháp mới nầy nên tôi phải
cho học sinh lớp 10 và lớp 12 xem phim minh họa, hướng dẫn học sinh cách sử dụng
phần mềm, cách vẽ sơ đồ tư duy lại từ đầu (xem phim hướng dẫn sử dụng sơ đồ tư duy
theo dĩa CD đính kèm).
14
Phần II . Mô tả và giới thiệu các nội dung, biện pháp chính
“SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ

Sơ đồ tư duy thực chất là một sơ đồ mở không theo một khuôn mẫu hay tỷ lệ nhất
định mà là cách hệ thống kiến thức tạo ra một tiết học sinh động, đầy màu sắc và thực sự
16
hiệu quả. Giảng dạy theo sơ đồ tư duy phát huy tính tích cực nhiều nhất trong các giờ
ôn tập. Khi học sinh trở thành chủ thể thành nhân vật trung tâm trong mỗi tiết học,
các em sẽ trở nên hào hứng và hăng say hơn trong học tập.
1.2 Giáo viên trở thành người hướng dẫn, hỗ trợ
Trước đây, giáo viên vẫn thường sử dụng sơ đồ để hệ thống kiến thức cho học
sinh nhưng học sinh vẫn là người tiếp thu một cách thụ động. Với việc giảng dạy bằng
sơ đồ tư duy, nhất là cho học sinh tự phát huy khả năng sáng tạo của mình bằng cách tự vẽ,
tự phân bố và thể hiện nội dung bài học qua sơ đồ sau đó yêu cầu các bạn khác bổ sung
những phần còn thiếu. Kết thúc bài giảng, thay vì phải ghi chép theo cách truyền thống, học
sinh có thể tự “vẽ” bài học theo cách hiểu của mình với nhiều màu sắc và hình ảnh khác
nhau. Đến tiết học sau, chỉ cần nhìn vào sơ đồ, các em có thể nhớ được những phần trọng
tâm của bài học. Giảng dạy theo sơ đồ tư duy mang tính khả thi cao vì có thể vận dụng được
với bất kỳ điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường, có thiết kế trên giấy, bìa, bảng
bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn màu hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm sơ đồ tư
duy đã được triển khai đến từng trường. Việc vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học sẽ dần
hình thành cho học sinh tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn
vấn đề một cách hệ thống, khoa học.
Sơ đồ tư duy hay bản đồ tư duy (Mind Map) là hình thức ghi chép sử dụng màu
sắc, hình ảnh nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một
nội dung, hệ thống hoá một chủ đề. Nó là một công cụ tổ chức tư duy được tác giả Tony
Buzan (Anh) nghiên cứu kỹ lưỡng và phổ biến rộng khắp thế giới.
Tony Buzan sinh năm 1942, chuyên gia hàng đầu thế giới về nghiên cứu hoạt
động của bộ não và là cha đẻ của Mind Map.
17
Phương pháp tư duy của ông được dạy và sử dụng ở khoảng 500 tập đoàn, công ty
hàng đầu thế giới; hơn 250 triệu người sử dụng phương pháp Mind Map của Tony Buzan;
khoảng hơn 3 tỷ người đã từng xem và nghe chương trình của ông (ông đã từng sang Việt

Vẽ nhiều nhánh cong hơn là đường thẳng để tránh sự buồn tẻ, tạo sự mềm mại,
cuốn hút.
Khi học sinh sử dụng những từ khóa riêng lẻ, mỗi từ khóa đều không bị ràng
buộc, do đó nó có khả năng khơi dậy các ý tưởng mới, các suy nghĩ mới.
Nếu trên mỗi nhánh học sinh viết đầy đủ cả câu thì như vậyhọc sinh sẽ dập tắt khả
năng gợi mở và liên tưởng của bộ não. Não của học sinh sẽ mất hết hứng thú khi tiếp
nhận một thông tin hoàn chỉnh. Vì vậy, trên mỗi nhánh học sinh chỉ viết một, hai từ khóa
mà thôi. Khi đó, học sinh sẽ viết rất nhanh và khi đọc lại, não của học sinh sẽ được kích
thích làm việc để nối kết thông tin và nhờ vậy, thúc đẩy năng lực gợi nhớ và dần dần
nâng cao khả năng ghi nhớ của học sinh.
Giáo viên nên thường xuyên cho học sinh sử dụng sơ đồ tư duy khi làm việc
nhóm và hệ thống kiến thức đã học trong môn học lịch sử, đặc biệt là khi ôn tập cho các
kỳ thi (dù là thi , học , đều sử dụng tốt). Sơ đồ tư duy cũng giúp các học sinh và các thầy
cô tiết kiệm thời gian làm việc ở nhà và trên lớp rất nhiều với các phần mềm sơ đồ tư duy
trên máy tính học sinh có thể làm tại nhà và gửi email cho các thầy cô chấm chữa trước
khi lên lớp.
2. Giảng dạy và học tập với công cụ sơ đồ tư duy
2.1 Giới thiệu đôi nét về sơ đồ tư duy
Việc phát triển tư duy cho học sinh và giảng dạy kiến thức về thế giới xung quanh
luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của những người làm công tác giáo dục. Nhằm
20
hướng học sinh đến một phương cách học tập tích cực và tự chủ, giáo viên không những
cần giúp học sinh khám phá các kiến thức mới mà còn phải giúp học sinh hệ thống được
những kiến thức đó. Việc xây dựng được một “hình ảnh” thể hiện mối liên hệ giữa các
kiến thức sẽ mang lại những lợi ích đáng quan tâm về các mặt: ghi nhớ, phát triển nhận
thức, tư duy, óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo…Một trong những công cụ hết sức
hữu hiệu để tạo nên các “hình ảnh liên kết” là sơ đồ tư duy.
2.2 Nguyên lý và ứng dụng sơ đồ tư duy trong dạy học
Sơ đồ tư duy (Mind Map) là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh,
để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. Kỹ thuật tạo ra loại sơ đồ này được gọi là Mind

mapping software).
Phần mềm Buzan’s iMindmap™: một phần mềm thương mại, tuy nhiên có thể
tải bản dùng thử 30 ngày. Phần mềm do công ty Buzan Online Ltd. thực hiện. Trang chủ
tại www.imindmap.com
Phần mềm Inspiration: sản phẩm thương mại của công ty Inspiration Software,
Inc. Sản phẩm có phiên bản dành cho trẻ em (các em từ mẫu giáo đến lớp 5) rất dễ dùng
và nhiều màu sắc. Có thể dùng thử 30 ngày. Trang chủ tại www.inspiration.com
Phần mềm Visual Mind: sản phẩm thương mại của công ty Mind Technologies.
Phần mềm dễ sử dụng và linh hoạt trong sắp xếp các nút chứa từ khóa. Có thể dùng thử
30 ngày. Trang chủ tại www.visual-mind.com
Phần mềm FreeMind: sản phẩm hoàn toàn miễn phí, được lập trình trên Java.
Các icon chưa được phong phú, tuy nhiên chương trình có đầy đủ chức năng để thực hiện
mind mapping. Trang chủ tại:
/>Ngoài ra, chúng ta còn có thể tham khảo một danh sách các phần mềm loại mind
mapping tại địa chỉ sau:
/>23
Mind mapping – Sơ đồ tư duy
Trước nay, chúng ta ghi chép thông tin bằng các ký tự, đường thẳng, con số. Với
cách ghi chép này, chúng ta mới chỉ sử dụng một nửa của bộ não – não trái, mà chưa hề sử
dụng kỹ năng nào bên não phải, nơi giúp chúng ta xử lý các thông tin về nhịp điệu, màu
sắc, không gian và sự mơ mộng. Hay nói cách khác, chúng ta vẫn thường đang chỉ sử dụng
50% khả năng bộ não của chúng ta khi ghi nhận thông tin. Với mục tiêu giúp chúng ta sử
dụng tối đa khả năng của bộ não, Tony Buzan đã đưa ra sơ đồ tư duy để giúp mọi người thực
hiện được mục tiêu này
24

P
3. Tiến trình một tiết dạy theo sơ đồ tư duy
Trước khi áp dụng phương pháp "Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học lịch
sử ở trường THPT” giáo viên giới thiệu cho học sinh xem một số đoạn phim ngắn (có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status