Trường THPT Thạch Thành IV
Sáng kiến kinh nghiệm
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
GS. Trần Đình Sử cho rằng: “Thi pháp học đem lại những phạm trù mới,
những đề tài mới cho nghiên cứu văn học, như con người, không gian, thời
gian, trần thuật, điểm nhìn, đối thoại, giễu nhại, mỉa mai... mở rộng các cánh
cửa tiếp cận văn bản”. Việc vận dụng thi pháp học vào nghiên cứu, đổi mới
dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường hiện nay là hết sức cần thiết.
Nó góp phần không nhỏ vào việc đổi mới phương pháp nghiên cứu và giảng
dạy tác phẩm văn chương trong nhà trường. Phương pháp dạy học tích cực,
hướng tới việc tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh, nghĩa là hướng
vào phát huy tính chủ động, tích cực của người học chứ không chỉ hướng vào
việc phát huy tính tích cực của người dạy. Đồng thời “Xem tác phẩm như một
sáng tạo nghệ thuật chứ không phải là một phép phản ánh đơn giản. Nhằm
khám phá vẻ đẹp của văn chương nghệ thuật, bằng những nét đặc sắc và
phong cách nghệ thuật của tác phẩm đem đến cho người đọc những giá trị
đích thực” (Nguyễn Thị Dư Khánh).
Việc tuyển chọn và đưa vào chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12,
tập 2 (cả chương trình Chuẩn và chương trình Nâng cao) các văn bản truyện
ngắn Việt Nam sau 1975 là một việc làm đúng đắn và sáng suốt. Những đổi
mới về phương diện đề tài, quan niệm nghệ thuật về con người, không thời
gian nghệ thuật, kết cấu, giọng điệu... là điểm kích thích, mời gọi sự háo hức
cho người học. Điều này đem đến nhiều thuận lợi cho giáo viên khi dạy học.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt thuận lợi, vẫn tồn tại không ít khó khăn nhất
định. Bởi chương trình Ngữ văn THPT hiện nay nhiều tác phẩm mới - đặc
biệt là truyện ngắn trong thời kì đổi mới được đưa vào giảng dạy có nhiều
hướng tiếp cận khác nhau. Vì thế bản thân giáo viên còn khá lúng túng trong
việc vận dụng thi pháp cũng như việc tìm ra phương pháp thích hợp để tổ
Chúng tôi đi sâu nghiên cứu hiệu quả của việc vận dụng Thi pháp học
vào dạy học một số tác phẩm truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 trong
chương trình Ngữ văn 12 tại trường THPT Thạch Thành 4.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Các phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết: nghiên cứu tài liệu,
chuẩn kiến thức kĩ năng Ngữ văn lớp 12, nghiên cứu văn bản, tài liệu về một
số truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 trong chương trình. Nghiên cứu các
tài liệu về Thi Pháp học, Ngiên cứu các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích
cực trong môn Ngữ văn.
Giáo viên: Nguyễn Hoài Thanh
Trang 2
Trường THPT Thạch Thành IV
Sáng kiến kinh nghiệm
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế: quan sát quá trình học tập của học
sinh các lớp 12A1, 12A2,12A3,12A4 trường THPT Thạch Thành 4.
- Phương pháp thống kê, Phương pháp so sánh, xử lí số liệu để thấy rõ hiệu
quả của sáng kiến kinh nghiệm.
NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lí luận.
1.1. Lịch sử vấn đề thi pháp học:
Thi pháp học có từ thời Arixtốt và được phát triển, dưới nhiều dạng thức
khác nhau, nhưng vì có cả một thời gian dài hằng bao thế kỷ bị bỏ quên mà
có lúc người ta cảm thấy xa lạ với nó, mãi đến thế kỷ XIX nó mới được giới
học giả quan tâm trở lại và Vôxôlốpxki được xem là người tiên phong mở ra
một hướng mới cho thi pháp. Vào tận những năm 20 của thế kỷ XX thì thi
vì vậy mà tác phẩm văn học được soi rọi sẽ hiện hữu khả năng phản ánh đời
sống của một hình thức nghệ thuật ở từng góc độ thẩm mỹ của nó. Từ đó nâng
cao khả năng cảm thụ cho người đọc với tác phẩm văn học được khám phá.
Chúng ta đã biết bản chất của văn học là phản ánh đời sống bằng hình tượng,
chính vì vậy mà hình tượng nghệ thuật là linh hồn của tác phẩm văn học nghệ
thuật. Nghệ thuật khẳng định vẻ đẹp tâm hồn con người, do đó nghiên cứu tác
phẩm văn học là nghiên cứu thế giới tinh thần do con người sáng tạo ra và đó
cũng chính là hình thức tồn tại của tác phẩm nghệ thuật. Cho nên khi nghiên
cứu tác phẩm văn học dưới góc độ thi pháp sẽ giúp chúng ta tránh được và
hạn chế được việc chia tách tác phẩm theo cấu trúc văn bản để nghiên cứu mà
phải nhìn một cách vừa cụ thể vừa tổng quát về hình tượng nghệ thuật ở từng
mảng của nó , chẳng hạn như quan niệm nghệ thuật về con người, thời gian
nghệ thuật, không gian nghệ thuật, màu sắc nghệ thuật, hình tượng tác giả
trong tác phẩm…
1.2. Khái niệm thi pháp học.
Hiện nay, có nhiều cách hiểu về Thi pháp học. Nhưng trong nhà trường,
nên có một cách hiểu thống nhất vì học sinh phải học chung một sách giáo
khoa, thi chung một đề, một đáp án. Có thể hiểu, thi pháp học là cách thức
phân tích tác phẩm bám vào văn bản là chính, không chú trọng đến những vấn
đề nằm ngoài văn bản như. Thi pháp học chỉ chú ý đến những yếu tố hình
thức tác phẩm như: hình tượng nhân vật – không gian – thời gian, kết cấu –
cốt truyện – điểm nhìn, ngôn ngữ, thể loại… Nội dung trong tác phẩm phải
Giáo viên: Nguyễn Hoài Thanh
Trang 4
Trường THPT Thạch Thành IV
Giáo viên: Nguyễn Hoài Thanh
Trang 5
Trường THPT Thạch Thành IV
Sáng kiến kinh nghiệm
tác phẩm nào cũng thể hiện rõ nét nội dung này. Nhưng đối với những tác
phẩm thể hiện khá rõ quan niệm nghệ thuật về con người thì cần phải đặt nó
thành mục riêng, như: truyện ngắn Nam Cao, Một người Hà Nội, Chiếc
thuyền ngoài xa… Nên lưu ý rằng, quan niệm về con người ở đây toát ra từ
văn bản nghệ thuật chứ không phải áp đặt từ bên ngoài. Mặc dù biết rằng,
quan niệm của tác giả về con người trong tác phẩm và ở ngoài đời có thể
không thống nhất nhau. Nhưng tôn trọng tính nghệ thuật khách quan, chúng ta
vẫn căn cứ vào văn bản là chính. Muốn biết được tính cách nhân vật và quan
niệm về con người, cần phải phân tích nghệ thuật thể hiện nhân vật. Đó là căn
cứ vào lai lịch, nghề nghiệp, hình dáng, hành động, nội tâm, ngôn ngữ nhân
vật, cách xưng hô và đánh giá của tác giả và các nhân vật khác về nhân vật
đó, mối quan hệ của nhân vật với mọi người và môi trường xung quanh, đồ
vật mà nhân vật thường sử dụng, sở thích của nhân vật… Căn cứ vào các yếu
tố này mà suy ra tính cách nhân vật và triết lý nhân sinh cũng như tài nghệ tác
giả.
c. không chỉ có nhân vật mà còn có không gian, thời gian. Thi pháp học
chỉ chú ý những chi tiết không gian, thời gian nào có ý nghĩa, góp phần thể
hiện cuộc sống con người, chúng vừa mang tính quan niệm lại vừa như một
thủ pháp nghệ thuật (lấy cảnh tả tình). Không gian và thời gian thường gắn
liền với nhau, chi phối, cộng hưởng lẫn nhau tạo ra một “thế giới mang tính
quan niệm”. Cần chú ý đặc điểm của chúng trong mỗi thể loại, mỗi giai đoạn
tính hùng biện. Đó là tính nội dung của hình thức nghệ thuật. Những tác phẩm
kể chuyện theo trật tự tuyến tính thì tìm bố cục rất dễ. Nhưng nhiều truyện
hiện đại thường theo lối trần thuật phi tuyến tính, đa tuyến nên chia bố cục
không dễ dàng. Chẳng hạn, truyện Chí Phèo không thể chia đoạn theo thời
gian trần thuật được mà phải chia theo hình tượng nhân vật: Chí Phèo – Bá
Kiến, rồi trong Chí Phèo lại chia theo thời gian sự kiện: lúc còn lương thiện –
lúc bị lưu manh hóa – lúc ý thức phục thiện. Ngoài ra, cần phải cho thấy dụng
ý của tác giả khi đảo lộn thứ tự sự kiện. Chú ý khai thác các chi tiết đắt có vai
trò quan trọng trong việc tạo tình huống truyện như chi tiết bát cháo hành.
Trong Vợ nhặt, chi tiết nhặt vợ là ngẫu nhiên mà làm thành chủ đề tác phẩm.
e. Ngôn ngữ là yếu tố quan trọng của Thi pháp học. Không phải ngẫu
nhiên mà những người khởi xướng Thi pháp học là những nhà ngôn ngữ học.
R. Jakobson chủ trương đi tìm “chất văn” đích thực của ngôn ngữ thơ ca. Còn
V. Shkolovski chú trọng thủ pháp “lạ hóa”, nhòe nghĩa của nghệ thuật ngôn
Giáo viên: Nguyễn Hoài Thanh
Trang 7
Trường THPT Thạch Thành IV
Sáng kiến kinh nghiệm
từ(4). Ngôn ngữ văn học có tính tổ chức cao, giàu hình ảnh, đa nghĩa và mang
dấu ấn riêng của tác giả. Khi phân tích ngôn ngữ văn xuôi cần chú ý cách sử
dụng các kiểu câu, chủ thể phát ngôn, cách xưng hô, giọng điệu kể, sự cá thể
hóa ngôn ngữ của nhân vật và tác giả…
f. Điểm nhìn còn được gọi là điểm quan sát, vị trí người kể chuyện, nhãn
quan, cách nhìn đời. Sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập 2, có câu hỏi: “Đoạn
toàn không có sự gán ghép hoặc cảm nhận thiếu cơ sở. Bên cạnh đó nó còn
giúp chúng ta hiểu đủ, hiểu đúng các tác phẩm văn chương trong quá trình
phát triển tư duy nghệ thuật, đánh giá đúng tư duy nghệ thuật của mỗi tác
phẩm văn chương và hình tượng tác giả. Nhưng không sa vào hình thức chủ
nghĩa.
Việc dạy học Văn theo tinh thần Thi pháp học là xu hướng chung của thế
giới. Ở Việt Nam hiện nay đã có nhiều điều kiện tốt để thực hiện điều này.
Chúng ta đã có nhiều nhà Thi pháp học. Sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành
chứa đựng rất nhiều tri thức về Thi pháp học. Các đề thi và đáp án môn Văn
gần đây đã yêu cầu học sinh chú trọng phân tích hình thức nghệ thuật. Nhưng
những vấn đề nói trên chỉ nằm ở dạng lý thuyết. Thi pháp học có biến thành
thực tiễn sinh động hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào sự vận dụng tích
cực của thầy và trò trong giờ giảng văn.
Vận dụng thi pháp học vào giảng dạy tác phẩm truyện sau năn 75 trong các
nhà trường còn hạn chế do nhiều nguyên nhân. Đặc biệt đây là những tác
phẩm mới khiến nhiều giáo viên còn lúng túng khi tiếp cận và tìm cách truyền
thụ cho học sinh. Vận dụng thi pháp học vào giảng dạy các tác phẩm này lại
khó khăn hơn. Tuy nhiên đây là cách làm mới khoa học, hiệu quả, nếu áp
dụng thành công chắc chắn sẽ góp phần không nhỏ vào việc đổi mới phương
pháp dạy học hiện nay.
3.Các giải pháp tiến hành.
3. 1. Nghiên cứu bối cảnh diễn ra công cuộc đổi mới Văn học sau 1975
Với thắng lợi mùa xuân năm 1975, đất nước ta khép lại trang sử chiến
tranh, bước sang một trang mới - bảo vệ, xây dựng và phát triển non sông đất
nước trong bối cảnh hoà bình. Trong thời đại mới, đất nước có những biến
chuyển sâu sắc trên mọi phương diện.
Giáo viên: Nguyễn Hoài Thanh
trong bối cảnh riêng của những năm sau 1975 có thể thấy tình hình văn học
Việt Nam sau 1975 rất phong phú, đa dạng song cũng khá phức tạp và đầy
biến động.
3.2. Nhận diện nội dung chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn
THPT- Phần truyện ngắn VN sau năm 1975
a. Chương trình Chuẩn:
Giáo viên: Nguyễn Hoài Thanh
Trang 10
Trường THPT Thạch Thành IV
Sáng kiến kinh nghiệm
- Đọc chính: Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, thời gian dạy 2
tiết.
- Đọc thêm: Một người Hà Nội của Nguyễn Khải và Mùa lá rụng trong
vườn của Ma Văn Kháng, thời gian dạy 2 tiết.
b. Chương trình Nâng cao:
- Đọc chính: + Một người Hà Nội của Nguyễn Khải, thời gian dạy 2 tiết.
+ Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, thời gian dạy 3
tiết.
- Đọc thêm: Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, thời gian dạy 1
tiết.
3.3. Hướng dẫn học sinh vận dụng thi pháp học vào dạy học truyện
ngắn Việt Nam sau năm 1975.
Trong khuôn khổ một sáng kiến kinh nghiệm, chúng tôi chỉ đề cập đến hai
truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975. Đó là truyện Chiếc thuyền ngoài xa, và
truyện Một người Hà Nội.
trong những người con của nó. Do vậy, cảm hứng chính của nhà văn trong tác
phẩm này là khám phá bản sắc văn hoá Hà Nội - cái quyết định vận mệnh và
vị thế của Hà Nội trong lịch sử, cũng là cái làm nền tảng cho bước phát triển
mới của nó trong tương lai, như tác giả đã khẳng định: “Một người như cô
phải chết đi thật tiếc, một hạt bụi vàng của Hà Nội rơi xuống chìm sâu vào lớp
đất cổ. Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn
gió mà bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng”.
b. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu về không gian, thời gian nghệ thuật
* Không gian nghệ thuật
Sau năm 1975, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, văn xuôi thường viết về
vấn đề đời tư, thế sự; không gian ở đó là không gian sinh hoạt đời thường.
Truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 cũng nằm trong dòng chảy chung của
văn học nước nhà, thể hiện rõ nét trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu và
Nguyễn Khải. Họ viết về cuộc sống thành thị, nông thôn, về số phận con
người trong thời đại mới. Vì thế ta thường thấy xuất hiện những không gian
trong sinh hoạt đời thường. Đó là nơi để nhân vật hoạt động và tự thể hiện
mình trong cuộc sống thường ngày. Cái không gian chật chội của một gia đình
có năm đứa con trên một con thuyền lênh đênh trên biển những lúc sóng to
gió lớn; cũng có lúc khổ đau đến tận cùng vì người chồng vũ phu “cứ ba ngày
một trận nặng, năm ngày một trận nhẹ”. Thế nhưng người vợ ấy vẫn không
chịu bỏ chồng theo đề nghị của người làm công lí vì nhiều lí do mà bà đưa ra
hết sức thuyết phục. Nhưng xét đến cùng, trong không gian ấy con người bộc
Giáo viên: Nguyễn Hoài Thanh
Trang 12
Trường THPT Thạch Thành IV
Sáng kiến kinh nghiệm
Giáo viên: Nguyễn Hoài Thanh
Trang 13
Trường THPT Thạch Thành IV
Sáng kiến kinh nghiệm
cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho
mình như ở trên đất được! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các
chú đừng bắt tôi bỏ nó!... vả lại, ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con
cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ”. Phải nói rằng, cái ngôn ngữ mà người
đàn bà hàng chài đưa ra để giải thích lí do đối với chánh án Đẩu và nghệ sĩ
Phùng; dù không hoa mĩ, cầu kì, sắc sảo nhưng nó chứa đầy sức thuyết phục.
Vì đó là ngôn ngữ của người đàn bà hàng chài, nó bình dị gần với cuộc sống
đời thường nhưng mang đậm triết lí sâu sắc. Bởi đó là thực tế cuộc sống mà
chỉ có họ mới là người nếm trải, lại thấm thía và thấu hiểu mà không ai có thể
làm thay được.
* Giọng điệu
Sau năm 1975, khi chiến tranh đi qua, nhịp sống đời thường trở lại với tất
cả những biểu hiện phong phú của đời sống: ích kỉ, vị tha, cao thượng, thấp
hèn, phàm tục...Văn xuôi từ chỗ “phản ánh hiện thực” đến chỗ “nghiền ngẫm
hiện thực”, đi vào tìm hiểu “toàn bộ chiều sâu của tâm hồn con người”.Vì thế
văn chương không thể chỉ có cảm xúc ngợi ca mà còn có đối thoại, đó chính
là biểu hiện của mối quan hệ bình đẳng giữa nhà văn và độc giả. Thời kì này,
nhà văn nhìn cuộc sống qua lăng kính đời tư, thế sự, quan tâm đến con người
ở tư cách cá nhân. Từ giọng điệu trang trọng sử thi, sắc bén họ chuyển dần
sang giọng điệu tâm tình, gần gũi, giản dị của đời thường. Con người không
chỉ là đối tượng để ngợi ca mà còn là tiêu điểm để nhà văn khai thác bề sâu
phẩm. Nắm vững cốt truyện là một yếu tố không thể thiếu trong quá trình
hướng dẫn HS tìm hiểu những yếu tố về nghệ thuật của truyện ngắn Việt Nam
sau năm 1975 ở trường phổ thông.
* Kết cấu
Truyện ngắn từ sau năm 1975 đã không chịu đầu hàng trước hiện thực
phức tạp, đa chiều của cuộc sống; đã đem lại nhiều kiểu kết cấu hết sức đa
dạng, phong phú và linh hoạt. Đó là kiểu kết cấu tâm lí, giúp nhà văn có điều
kiện thâm nhập vào thế giới bên trong của tâm hồn con người mà không cần
nhiều lời. Toàn bộ câu chuyện xoay quanh cuộc sống của gia đình người đàn
bà hàng chài (trong Chiếc thuyền ngoài xa) và những sinh hoạt quen thuộc
dường như đã trở thành “nếp” trong gia đình cô Hiền (trong Một người Hà
Nội); tưởng chừng như rất đơn giản nhưng trong đó chất chứa bao nỗi niềm
trăn trở của nhà văn về con người và cuộc sống. Dường như tác giả muốn
trao quyền kết luận cho người đọc qua việc sử dụng lối kết cấu độc đáo này.
Hay ở phần kết tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, hình ảnh người đàn bà
“bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn
Giáo viên: Nguyễn Hoài Thanh
Trang 15
Trường THPT Thạch Thành IV
Sáng kiến kinh nghiệm
trong đám đông”. Hình ảnh ấy gợi cho người đọc cảm nhận được rằng:
“người đàn bà” hòa lẫn trong đám đông ấy phải chăng còn bao số phận khác
như người đàn bà hàng chài này chăng? Cuộc đời họ rồi sẽ đi về đâu... Kết
cấu đó cũng gợi mở nhiều vấn đề, tạo ra nhiều khoảng trống để người đọc
cảm nhận và giải mã khoảng trống đó.
Sáng kiến kinh nghiệm
Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa thuộc loại tình huống cắt nghĩa giây
phút “giác ngộ” chân lí của nhân vật. Điều đó thể hiện rõ nét thông qua quá
trình nhận thức khá quanh co và được “vỡ ra” từ hiện thực cuộc sống của
nhiếp ảnh Phùng và chánh án Đẩu. Để có được một tấm lịch nghệ thuật
thuyền và biển theo yêu cầu của trưởng phòng, nhiếp ảnh Phùng tới một vùng
biển vốn là chiến trường cũ của anh. Và mất mấy ngày “săn tìm”, anh mới
“chộp” được một tấm hình như ý. Đó là một sản phẩm quý hiếm của hóa công
mà trong đời người nghệ sĩ không phải khi nào cũng có được. Nó giống như
“một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Toàn bộ khung cảnh từ
đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn
bích”. Phùng trở nên bối rối và “trong tim như có cái gì bóp thắt vào”. Anh
cảm thấy mình vừa “khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá
thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Nhưng bước ra từ chiếc
thuyền là một người đàn bà xấu xí, mệt mỏi; một gã đàn ông to lớn dữ dằn;
một cảnh tượng tàn nhẫn: gã chồng đánh đập vợ một cách thô bạo; đứa con
thương mẹ đã đánh lại cha. Phùng kinh ngạc đến thẫn thờ, như “chết lặng”,
không tin vào những gì đang diễn ra trước mắt. Tuy nhiên, đó mới là phần
khởi đầu của truyện cũng như của tình huống. Cuộc tiếp xúc giữa chánh án
Đẩu và người đàn bà hàng chài đẩy tình huống truyện lên tầm cao của giá trị
nhận thức. Theo lời mời của chánh án Đẩu - người có ý định khuyên bảo,
thậm chí đề nghị người đàn bà ấy từ bỏ lão chồng vũ phu. Nhưng trước toà
án, chị ta đã từ chối quyết liệt với những lí do không khỏi Phùng và Đẩu “đau
đầu” suy nghĩ: Đó là vì gã chồng ấy là chỗ dựa quan trọng của những đàn bà
hàng chài như chị, nhất là khi biển động, phong ba. Hơn thế nữa, chị còn có
những đứa con, chị phải sống vì chúng nhiều hơn là cho bản thân chị. Và
quan trọng hơn là trên thuyền cũng có những lúc vợ chồng, con cái sống hoà
thuận, vui vẻ...
Yêu cầu đối với học sinh.
- Tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập để tự khám phá
và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kỹ năng.
- Phải chủ động, tích cực học tập. Coi quá trình học là quá trình tự chiếm lĩnh
tri thức dưới sự hướng dẫn của người thầy. Xây dựng và thực hiện các kế
hoạch học tập phù hợp với khả năng và điều kiện.
- Mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến, quan điểm cá nhân; tích cực thảo luận,
tranh luận, đặt câu hỏi cho bản thân, cho thầy, cho bạn.
- Khi được giao nhiệm vụ trong quá trình học tập phải tích cự tham gia và
hoàn thành nhiệm vụ.
Giáo viên: Nguyễn Hoài Thanh
Trang 18
Trường THPT Thạch Thành IV
Sáng kiến kinh nghiệm
b. Thực nghiệm sư phạm
Để đánh giá đầy đủ hiệu quả của một cách làm cần phải có thời gian nhất
định. Tuy nhiên, giới hạn ở góc độ một Sáng kiến kinh nghiệm, tôi chỉ xin
trình bày tính hiệu quả ban đầu của cách làm này trong mối tương quan giữa
các lớp mà bản thân đang trực tiếp giảng dạy.
Phương pháp thực nghiệm: Phương pháp so sánh, phân tích số liệu.
Cách thức tiến hành:
Sử dụng kết quả học tập (Điểm thi học kì II năm học 2018-2019) của học
sinh tại các lớp đã vận dụng thi pháp học vào dạy học một số tác phẩm truyện
ngắn Việt Nam sau năm 1975. Đặc biệt là, bên cạch kết quả học tập được
phản ánh bằng điểm số,để đối chiếu với kết quả học tập của học sinh tại các
2
43
Giáo viên: Nguyễn Hoài Thanh
%
6,97
65,13
27,90
0
100
12A3
SL
2
21
17
0
41
%
4,87
53,67
41,46
0
100
%
0
34,88
thi pháp học vào dạy học một số tác phẩm truyện ngắn Việt Nam sau năm
1975. Đặc biệt là, bên cạch kết quả học tập được phản ánh bằng điểm số, thì
việc phát huy tính chủ động, tích cực học tập ở các em cũng đạt được những
tiến bộ đáng mừng. Nhiều học sinh đã hứng thú, tích cực học tập môn Ngữ
văn hơn trước. Nhiều đồng nghiệp bày tỏ sự quan tâm, trao đổi sâu sắc về
kinh nghiệm này, tạo ra hoạt động sinh động, sôi nổi hơn trong hoạt động
giảng dạy qua đó góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ
văn tại trường THPT Thạch Thành 4.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Thay lời kết luận
Vận dụng thi pháp học vào dạy học tác phẩm là hướng tới giúp học sinh
vận dụng vào phát hiện, tìm hiểu, phân tích những chi tiết, hình ảnh trong tác
phẩm cụ thể; để cảm nhận cái hay, cái đẹp được thể hiện qua bức thông điệp
thẩm mĩ. Xét về mặt lí luận, thi pháp học truyện ngắn thể hiện một cách
phong phú, đa dạng qua nhiều yếu tố như kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu,
không gian, thời gian nghệ thuật, cốt truyện, nhân vật trung tâm... Song, trên
thực tế việc vận dụng thi pháp học vào dạy học truyện ngắn Việt Nam sau
năm 1975 cần phải linh hoạt, đa dạng. Tùy vào từng truyện ngắn, từng điểm
sáng thẩm mĩ, đặc điểm của từng bài học mà có sự vận dụng khác nhau.
Ngoài ra, hiệu quả của một giờ học còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan.
Vì vậy, vận dụng thi pháp học vào dạy học truyện ngắn trong thời kì đổi mới
cần đặc biệt chú ý đến văn bản tác phẩm và những năng lực, năng khiếu của
học sinh, những thế mạnh của giáo viên để phát huy tác dụng và đem lại hiệu
quả thiết thực.
Giáo viên: Nguyễn Hoài Thanh
Trang 20
Sáng kiến kinh nghiệm
2. Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, NXB Giáo
dục.
3. Nguyễn Thanh Hùng (2009), “Nghiên cứu và dạy học truyện ngắn hiện
đại” trong cuốn Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và
giảng dạy, NXB Giáo dục.
4. Nguyễn Thị Dư Khánh (1998), Phân tích tác phẩm văn học dưới góc độ thi
pháp, NXB Giáo dục.
5. Phan Trọng Luận, Trần Đình Sử và cộng sự (2007), Hướng dẫn thực hiện
chương trình, sách giáo khoa lớp 12 môn Ngữ văn, NXB Giáo dục, Hà Nội.
6. Trần Đình Sử (1993), Một số vấn đề thi pháp học hiện đại (Tài liệu Bồi
dưỡng thường xuyên)- Bộ Giáo dục và Đào tạo.
7. Lê Văn Tùng (2008), “Tính năng động nghệ thuật của văn học và phương
pháp tiếp cận văn học hiện đại Việt Nam”, Tạp chí Giáo dục,(181), tr.27-30.
Giáo viên: Nguyễn Hoài Thanh
Trang 22