LẬP LUẬN TRONG VĂN CHÍNH LUẬN QUA MỘT SỐ TÁC
PHẨM TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
Ngƣời hƣớng dẫn: GS.TS. Đỗ Việt Hùng
Ngƣời thực hiện: Lƣu Thị Họa
Lớp: k25
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ cái viết tắt/kí hiệu
Cụm từ đầy đủ
Lđ
Luận điểm
Lc
Luận cứ
SĐV
Số đoạn văn
MỤC LỤC
MỤC LỤC ........................................................................................................ 2
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài .......................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ................................................................................... 2
TRONG MỘT SỐ BÀI VĂN CHÍNH LUẬNTRUNG ĐẠI VIỆT NAM 43
3.1. Vai trò của lập luận đối với tính logic và khúc chiết trong một số bài
văn chính luận Trung đại Việt Nam ............................................................ 43
3.1.1. Vai trò của lập luận đối với tính logic trong một số bài văn chính
luận Trung đại Việt Nam.............................................................................. 43
3.1.2. Vai trò của lập luận đối với tính khúc chiết trong một số bài văn
chính luận Trung đại Việt Nam ................................................................... 55
3.2. Vai trò của lập luận đối với tính thuyết phục trong một số bài văn
chính luận Trung đại Việt Nam ................................................................... 57
3.2.1. Vai trò của các thủ pháp lập luận đối với tính thuyết phục trong
một số bài văn chính luận Trung đại Việt Nam ......................................... 57
3.2.2. Chiến lƣợc đánh vào tâm lí của đối phƣơng trong lập luận đối với
tính thuyết phục trong một số bài văn chính luận Trung đại Việt Nam . 67
Tiểu kết chƣơng 3 .......................................................................................... 75
KẾT LUẬN .................................................................................................... 77
NGỮ LIỆU ..................................................................................................... 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 83
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trên thế giới, lập luận không phải là vấn đề mới. Ngay thời Hi Lạp, khi bàn
về nghệ thuật hùng biện, lập luận đã được đề cập. Tuy nhiên, lúc này, lập luận vẫn
giới hạn ở phạm vi logic học (luận lí học). Cũng như vậy, khi nói đến văn nghị luận,
trong nhà trường đã giảng dạy về các cách thức lập luận như diễn dịch, quy
nạp…Tuy nhiên phải đến khi có sự xuất hiện của Ngữ dụng học thì lập luận của
phát ngôn mới trở thành đối tượng của Ngôn ngữ học. Trong văn chính luận, lập
luận được phát huy cao nhất, đặc trưng của nó được thể hiện rõ nhất.
Trong lịch sử Văn học Việt Nam, các nhà văn thời Trung đại đã để lại một
2. Mục đích nghiên cứu
Đi vào tiềm hiểu đề tài: Lập luận trong văn chính luận qua một số tác phẩm
Trung đại Việt NamLập luận trong văn chính luận qua một số tác phẩm Trung đại
Việt Nam, nhằm mục đích tìm hiểu vai trò của lập luận đối với tính hùng biện trong
một số tác phẩm Trung đại Việt Nam, cụ thể ở các vấn đề sau:
- Vai trò của lập luận đối với tính logic và khúc chiết trong một số bài văn
chính luận Trung đại Việt Nam.
- Vai trò của lập luận đối với tính thuyết phục trong mọt số bài văn chính
luận Trung đại Việt Nam.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: một số bài văn chính luận Trung đại Việt Nam cụ
thể của: Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Lý Phật Mã, Trần Quốc Tuấn, Trần Mạnh,
Nguyễn Trãi và Ngô Thì Nhậm.
- Đối tượng nghiên cứu: các hình thức và vai trò của Lập luận trong văn
chính luận qua một số tác phẩm Trung đại Việt Nam.
4. Giả thuyết khoa học
Từ xa xưa, lập luận đã được quan tâm nhiều. Lập luận đã được đề cập trong
logic học từ trước công nguyên. Trong nhà trường, lập luận đã được đề cập trong
việc xây dựng cũng như phân tích các bài văn nghị luận. Khi xuất hiện Ngữ dựng
học, lập luận trở thành đối tượng của Ngữ dụng học. Ở phần 1.1. của chương 1,
chúng tôi sẽ trình bày đầy đủ về lập luận trong Logic học, trong Sách giáo khoa về
văn nghị luận và trong Ngữ dụng học.
2
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nêu trên, chúng tôi xác định nhiệm vụ nghiên cứu như
sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lí luận liên quan đến lập luận, đưa ra khung
So sánh hình thức lập luận giữa các bức thư, các bài chiếu, biểu, giữa một số
tác giả văn Văn học Trung đại Việt Nam tiêu biểu.
8. Đóng góp mới của luận văn
- Giá trị lí luận
Đề tài hệ thống hóa những vấn đề lí luận về lí thuyết lập luận.
-
Giá trị thực tiễn
Tiếp cận các tác phẩm văn chính luận Trung đại Việt Nam theo hướng lập
luận được phân tích trong các sách giáo khoa về văn nghị luận.
9. Cấu trúc luận văn
Đề tài Lập luận trong văn chính luận qua một số tác phẩm Trung đại Việt
Namngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của đề tài được chúng tôi triển
khai qua ba chương sau:
Chương 1: Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
Chương 2: Khảo sát hình thức lập luận trong một số bài văn chính luận
Trung đại Việt Nam.
Chương 3: Vai trò của lập luận đối với tính hùng biện trong một số bài văn
chính luận Trung đại Việt Nam
4
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Lập luận
1.1.1. Lập luận trong Logic học
Trong Logic học, lập luận được hiểu gần giống suy luận. Suy luận được hiểu
là “hình thức của tư duy nhờ đó rút ra phán đoán mới từ một hay nhiều phán đoán
hợp với hiện thực. Để rút ra kết luận đúng đắn trong quá trình lập luận, cần phải
tuân theo hai điều kiện: 1) Các tiên đề dùng để xây dựng lập luận phải chân thực và
2) Sử dụng chính xác các quy luật (và quy tắc) của tư duy [5, tr.13]. Trong quá trình
lập luận, Logic học đòi hỏi phải tuân theo quy luật đồng nhất, không mâu thuẫn,
loại trừ cái thứ ba, lí do đầy đủ.
“Trong logic có phép quy nạp và diễn dịch. Quy nạp hay diễn dịch đều là đi
từ luận cứ đến kết luận. Nếu đi từ luận cứ cục bộ đến kết luận khái quát thì ta có
quy nạp, nếu đi từ từ một tiền đề khái quát đến suy ra kết luận cục bộ thì ta có diễn
dịch. Nói tới lập luận thường là nói tới suy luận theo diễn dịch và ta thường nghĩ
ngay đến logic, đến lí luận, đến diễn ngôn nghị luận…Ở tam đoạn luận logic kết
luận là hệ quả tất yếu của đại tiền đề, tiểu tiền đề và của thao tác suy diễn. Nếu đại
tiền đề đúng, tiểu tiền đề đúng và thao tác suy diễn đúng thì kết luận tất yếu phải
đúng…Một kết luận logic chỉ có hai khả năng hoặc đúng, hoặc sai, đúng hay sai
không thể bác bỏ, có nghĩa là nếu kết luận logic đã đúng thì không thể lập luận
chứng minh rằng nó sai. Ngược lại nếu nó đã sai thì không thể chứng minh rằng nó
đúng” [2, tr.165].
1.1.2. Lập luận trong các sách giáo khoa về văn nghị luận
Trong Luyện cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh phổ
thông, Nguyễn Quang Ninh (Chủ biên), lập luận được hiểu là: “Đưa ra những lí lẽ,
dẫn chứng một cách đầy đủ, chặt chẽ và đáng tin cậy nhằm dắt dẫn người đọc,
người nghe đến với một kết luận hoặc chấp nhận một kết luận nào đấy mà người
viết, người nói muốn đạt” [13, tr.10]. “Nói một cách khái quát, lập luận là quá trình
xây dựng lí lẽ để đề xuất ý kiến, liên kết các ý kiến dẫn đến kết luận của bài viết, bài
nói” [13, tr.12]. Tác giả Luyện cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh
phổ thông cho rằng một lập luận có các yếu tố là luận cứ lập luận, kết luận lập luận,
cách thức lập luận, có các dạng lập luận thường gặp là lập luận diễn dịch, lập luận
6
logic học, tức là một bước phát triển đỉnh cao của suy luận toán học và nó được
hình thành thành một chuyên ngành khoa học từ thế kỉ XVIII.
Logic học bao giờ cũng gọi một nội dung cần được làm sáng tỏ, làm thuyết
minh là vấn đề. Làm sáng tỏ nó, người ta cần các phán đoán.
Ví dụ:
Khi nói đến Hà Nội, người ta sẽ nghĩ tới những phán đoán cơ bản sau:
-
Phán đoán 1: Thành phố lớn.
-
Phán đoán 2: Có lịch sử lâu dài.
-
Phán đoán 3: Thủ đô của Việt Nam.
Khi đi vào văn bản, vấn đề được gọi là luận đề và các phán đoán sẽ được gọi
là các luận điểm.
1.1.3. Lập luận trong Ngữ dụng học
“Trước đây, lập luận (argumentation) được nghiên cứu trong tu từ học và
trong logic học. Hai nhà ngôn ngữ học Pháp: Oswald Ducrot và Jean Claude
Anscombre đã đặc biệt quan tâm tới bản chất ngữ dụng học của lập luận” [2,
tr.154]… “Cũng chính O.Ducrot đã cho rằng lập luận là một hành động ở lời” [2,
tr.174]. “Lập luận là đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận
hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới. Có thể hiểu quan
hệ lập luận giữa các phát ngôn (nói đúng hơn là nội dung các phát ngôn) như sau:
hướng tới kết luận r, q hướng tới kết luận s thì chúng khác biệt về định hướng lập
luận). Kí hiệu:
p-----3 r
q-----3 – r” [2, tr. 177].
“Xét theo quan hệ định hướng lập luận, các luận cứ có thể có hiệu lực lập
luận (force argumentative) khác nhau, có nghĩa là p có sức mạnh đối với kết luận
(hoặc – r) lớn hơn q hoặc ngược lại. Luận cứ có hiệu lực lập luận mạnh hơn thường
được đặt ở sau luận cứ có hiệu quả lập luận yếu hơn” [2, tr.178].
“Chỉ lập luận đời thường, không phải lập luận logic mới chấp nhận các hành
vi ở lời và các biểu thức (các phát ngôn ngữ vi) làm thành phần…Một nội dung
9
miêu tả có thể được dùng làm luận cứ cho một lập luận đời thường. Vì vậy muốn
chứng minh một lập luận đời thường là vấn đề của ngữ dụng học thì ngoài việc
chứng minh các thành phần của nó khác với những thành phần của lập luận logic,
còn phải chứng minh giá trị nội dung miêu tả trong lập luận đời thường không phải
được đánh giá theo tiêu chí đúng sai logic” [2, tr.171]. “Có những nội dung miêu tả
tự nó có giá trị lập luận hướng về kết luận tốt hoặc xấu, không cần những chỉ dẫn
lập luận bổ sung để làm rõ giá trị lập luận của chúng. Thí dụ các nội dung miêu tả:
X thông minh
X đẹp trai
X cần cù
X thức khuya dạy sớm
X đã hứa làm
sẽ dẫn tới kết luận đánh giá tốt” [2, tr.172].
Khi nói đến lập luận trong Ngữ dụng học, người ta phải đề cập đến vấn đề lẽ
thường. “Lẽ thường là những chân lí thông thường có tính kinh nghiệm, không có
tính tất yếu, bắt buộc như tiên đề logic. Do nhân loại là một thực thể trùm lên mọi
nhất định. Chính vì thế, tác phẩm chính luận bao giờ cũng thể hiện khuynh hướng
tư tưởng, lập trường công dân rõ ràng. Tình cảm sục sôi, luận chiến quyết liệt và
tính khuynh hướng công khai là những dấu hiệu quan trọng của phong cách chính
luận. Tất cả những cái đó làm cho giọng điệu, cấu trúc và chức năng của lời văn
chính luận gần gũi với giọng điệu, cấu trúc và chức năng của lời văn tuyên truyền,
hùng biện” [13, tr.400].
Trong những giờ phút trọng đại của lịch sử dân tộc, văn chính luận thường
đóng một vai trò rất quan trọng. Ví dụ: Lí Công Uẩn viết Chiếu dời đô để luận giải
cho việc chuyển kinh đô ra Thăng Long. Trần Hưng Đạo viết Hịch tướng sĩ để vạch
ra tội ác của quân Nguyên và khích lệ quân sĩ đánh giặc, bảo vệ đất nước. Nguyễn
Trãi viết Quân trung từ mệnh tập chỉ ra những việc phi nhân nghĩa và tất bại của
quân giặc, từ đó thuyết phục quân giặc ra hàng, củng cố lòng quân dân của ta. Chủ
tịch Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn độc lập để luận giải, khẳng định quyền độc lập;
tự chủ của nước Việt Nam và tuyên bố việc thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa…
11
Trong Phong cách học tiếng Việt (1982) của Võ Bình – Lê Anh Hiền – Cù
Đình Tú – Nguyễn Thái Hòa, văn chính luận được hiểu là “một thể thông dụng hầu
như ai ai cũng đọc, nhưng khó có một định nghĩa rõ ràng. Thông thường, người ta
giải thích: chính luận là văn nghị luận chính trị để phân biệt với nghị luận xã hội,
nghị luận khoa học…Tuy nhiên, trong xã hội ta, những vấn đề xã hội như đạo đức,
tác phong, nếp sống, v.v…cũng là những vấn đề chính trị. Vì vậy căn cứ vào nội
dung để phân loại là đúng nhưng chưa đủ” [8, tr. 83]. Nhóm tác giả trên còn cho
rằng chính luận vừa mang phong cách khoa học vừa mang phong cách báo chí. Vì
vậy phong cách chính luận có những đặc trưng sau: Tính khái quát của khoa học
chính trị kết hợp với tính thời sự nóng hổi, Tính trí tuệ của ngôn ngữ khoa học kết
hợp với tính chiến đấu rất cao của văn báo chí, Tính trừu tượng của ngôn ngữ khoa
thông, Nguyễn Quang Ninh đã đưa ra cách nhìn quan niệm của mình về lập luận,
lập luận trong văn nghị luận như sau:
“Trong một văn bản hoàn chỉnh, việc lập luận sẽ phong phú, đa dạng và phức
tạp” [13, tr.5]. “Lập luận là đưa ra những lĩ lẽ, dẫn chứng một cách đầy đủ, chặt chẽ,
nhất quán và đáng tin cậy nhằm dắt dẫn người đọc, người nghe đến với một kết luận
hoặc chấp nhận một kết luận nào đấy mà người viết, người nói muốn đạt tới” [13,
tr.10]. “Nói cách khác, lập luận là quá trình xây dựng lí lẽ để đề xuất ý kiến, liên kết
các ý kiến dẫn đến kết luận của bài viết, bài nói” [13, tr.12].
Nguyễn Quang Ninh cho rằng một lập luận thường gồm ba yếu tố là luận cứ
lập luận, kết luận lập luận và cách thức lập luận. Luận cứ được hiểu là “căn cứ để
rút ra kết luận. Đó là những lí lẽ, những dẫn chứng được rút ra từ thực tiễn của đời
sống xã hội, đời sống văn học hoặc những chân lí được nhiều người thừa
nhận…dùng để làm chỗ dựa, làm cơ sở cho việc dẫn tới kết luận” [13, tr.12]. “Nói
tới lập luận không thể không nói đến việc giải thích, phân tích, chứng minh cho kết
luận. Những lí lẽ, dẫn chứng đưa ra nhằm mục đích giải thích, phân tích và chứng
minh cho kết luận ấy chính là các luận cứ trong một lập luận” [13, tr. 12]. Nguyễn
Quang Ninh chia luận cứ lập luận thành hai loại là luận cứ thực tế và luận cứ nhân
tạo. Trong đó, luận cứ tự nhiên là luận cứ có giá trị đối với kết luận của lập luận.
Kết luận lập luận được hiểu là “điều rút ra được sau khi đã giải thích, phân tích và
chứng minh trong quá trình lập luận. Kết luận là cái đích của một lập luận. Đây là
điều người viết, người nói muốn người đọc chấp nhận”….“Thông qua các luận cứ
13
của lập luận, người viết, người nói có thể dẫn người đọc, người nghe đến với những
kết luận rất khác nhau. Có thể đó là một sự khẳng định, một sự phủ định hoặc một
sự bộc lộ thái độ, tình cảm…, nhưng dù khác nhau thế nào đi chăng nữa thì kết luận
vẫn luôn luôn là cái cần có trong một lập luận” [13, tr.12]. Nguyễn Quang Ninh chia
kết luận thành kết luận tường minh và kết luận không tường minh. Cách thức lập
giả thuộc các triều đại Lý, Trần, Hậu Lê và Tây Sơn. Các tác giả đó là Lý Công
Uẩn, Lý Thường Kiệt, Lý Phật Mã, Trần Quốc Tuấn, Trần Mạnh, Nguyễn Trãi và
Ngô Thì Nhậm, cụ thể: 1 bài của Lý Thường Kiệt, 1 bài của Lý Công Uẩn, 2 bài của
Lý Phật Mã, 1 bài của Trần Quốc Tuấn, 2 bài của Trần Mạnh in trong Tinhtuyển
Văn học Việt Nam, Văn học thế kỉ X-XVII, 46 bài in trong Quân trung từ mệnh tập
của Nguyễn Trãi, 10 bài in trong Hàn các anh hoa của Ngô Thì Nhậm.
Nguyễn Trãi và Ngô Thì Nhậm là hai nhà văn chính luận kiệt xuất nhất trong
lịch sử Văn học Trung đại Việt Nam. Chúng tôi tập trung vào khảo sát văn chính
luận của hai tác giả qua hai tập Quân trung từ mệnh tập và Hàn các anh hoa. Do đó,
chúng tôi xin nói thêm về hai tập này: Quân trung từ mệnh tập gồm những thư từ
gửi cho tướng giặc và những giấy tờ giao thiệp với triều đình nhà Minh,…Tác phẩm
là tập văn chiến đấu “có sức mạnh của mười vạn quân” (Phan Huy Chú). Sức mạnh
ấy có được từ sự kết hợp tuyệt diệu giữa tư tưởng nhân nghĩa, tư tưởng yêu nước
với nghệ thuật viết văn chiến luận bậc thầy [15, tr.10]. Như vậy, Quân tung từ mệnh
tập của Nguyễn Trãi được đánh giá rất cao. Nó vừa có giá trị văn học vừa có giá
chính trị. Giá trị văn học được thể hiện ở chỗ nó đưa thể văn chính luận lên đến đỉnh
cao trong dòng chảy của Văn học trung đại Việt Nam nói riêng, Văn học Việt Nam
nói chung. Giá trị chính trị được thể hiện ở chỗ nó là sức mạnh đánh vào lòng quân
địch, khiến quân địch ở nhiều thành phải tự động ra hàng. Hàn các anh hoa có giá
trị đặc biệt trong di sản văn hóa của Ngô Thì Nhậm. Bởi vì đây là những bài văn
Ngô Thì Nhậm viết thay cho Quang Trung trong các vấn đề quan trọng hàng đầu
của đất nước, nên nội dung của nó thể hiện đường lối đối nội sáng suốt của Quang
Trung và có một giá trị sử học to lớn. Đồng thời đây cũng là những áng văn lớn.
Ngô Thì Nhậm đã nâng cao vị trí thể loại văn chiếu biểu là một thể loại văn học đã
suy yếu từ sau Nguyễn Trãi. Gắn với những nội dung có tính chất sử thi của thời
đại, thể hiện nhiệt tình và tài năng lớn của người viết, một số bài văn từ mệnh của
15
Thường Kiệt, Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn, Chiếu đánh dẹp họ Nùng và Chiếu
tha thuế của Lý Phật Mã. Trong đó, Nguyễn Trãi và Ngô Thì Nhậm là hai nhà văn
chính luận xuất sắc nhất trong Văn học Trung đại Việt Nam nên chúng tôi chủ yếu
tập trung khảo sát văn chính luận của hai tác giả này.
2.1. Các dạng thức trình bày văn bản và phƣơng thức lập luận trong
một số tác phẩm văn chính luận Trung đại Việt Nam
2.1.1. Kết cấu, bố cục một số bài văn chính luận Trung đại Việt Nam
Một văn bản thông thường có ba phần: Mở đầu, nội dung và kết luận. Theo
khảo sát của chúng tôi, bố cục của 63 bài văn chính luận trên nằm trong năm mô
hình sau:
- Dạng 1: phần mở đầu – phần nội dung – phần kết luận
Xuất hiện ở 29 bài (chiếm 46 %), cụ thể: Lộ bố về việc đánh Tống, Chiếu dời
đô, Chiếu tha thuế, Hịch tướng sĩ, Thư xin hàng, Thư cho tổng binh cùng quan phủ
vệ Thanh – Hóa, Thư cho Thái giám Sơn Thọ, Thư cho Phương Chính, Thư trả lời
Phương Chính, Lại thư trả lời Phương Chính, Lại thư trả lời Phương Chính, Thư
cho tổng binh Vương Thông và thái giám Sơn Thọ, Thư cho hình nội quan cùng
bọn Đả Trung và Lương Nhữ Hốt, Lại thư cho Vương Thông, Lại thư cho Vương
Thông, Biểu cầu phong, Lại thư cho Vương Thông, Thư cho Đả Trung và Lương
Nhữ Hốt, Thư cho Thái đô đốc, Thư dụ các thành Thanh Hóa, Nghệ An, Lệnh dụ
các tướng hiệu quân nhân ở Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa, Thư cho Vương
Thông, Tờ chỉ dụ ủy cho Sùng Nhượng công Giám quốc, Tờ chiếu lên ngôi, Tờ
17
chiếu khuyến nông, Tờ chiếu cầu hiền, Tờ chiếu về việc lập nhà thái học, Tờ biểu
của đình thần văn võ xin Quang Trung ngự giá ra Thăng Long, Tờ chiếu về việc ban
ơn.
Ví dụ:
Tờ chiếu khuyến nông (Ngô Thì Nhậm)
Thông, Lại thư gửi cho Vương Thông Sơn Thọ, Lại thư cho Vương Thông, Lại thư
cho Sơn Thọ, Văn tấu cáo (Liệt thánh nhà Trần), Thư cho Vương Thông, Thư cho
thái giám Sơn Thọ, Lại thư cho Sơn Thọ, Lại thư cho thái giám Sơn Thọ, Thư dụ
thổ quan thành Điêu Diêu, Thư dụ thành Bắc Giang, Thư dụ hàng thành Tam Giang,
Thư cho Vương Thông, Lại thư dụ Vương Thông, Lại thư dụ Vương Thông, Thư
cho Vương Thông, Lại thư cho Vương Thông, Thư cho Vương Thông, Lại thư cho
Vương Thông, Chiếu khuyến dụ hào kiệt, Tờ chiếu hiểu dụ các quan văn vũ triều
cũ, Tờ chiếu phát phối hàng binh người nội địa, Tờ biểu của hai ban văn võ mừng
việc hòa hảo đã thành.
Ví dụ:
Trong bài “Chiếu đánh dẹp họ Nùng” của Lý Phật Mã, tác giả đi thẳng vào
nội dung là: mọi thần dân đều thuần phục nhà vua, Nùng Tồn Phúc không thuần
phục, chống lại nhà vua và kết luận thẳng là: nhà vua bắt được bọn Nùng Tồn Phúc
đem chém đầu.
- Dạng 5: Phần nội dung
Xuất hiện ở 2 bài (chiếm 3,2%), cụ thể: Lại thư cho Vương Thông, Tờ tấu về
việc tìm hiểu con cháu họ Trần.
Ví dụ:
Trong “Tờ tấu về việc tìm hiểu con cháu họ Trần”, tác giả đi thẳng vào
phần nội dung trình bày : Thân tộc họ Trần trước bị Hồ Quý Ly giết hết, Ta tìm
được Trần Cảo tự xưng là con cháu nhà Trần và xin lập làm vua, Không ngờ Trần
Cảo ốm chết, Con cháu họ Trần hiện không còn ai, Nếu có thì ta đã tâu lên nhà
Minh, Ta đã trả hết quan lại quân nhân cho nhà Minh, không còn một ai cả.
19
Dưới đây là bảng khảo sát của chúng tôi:
Bảng 2.1: Kết cấu, bố cục
của 63 bài văn chính luận Trung đại Việt Nam
Kết
Kết
dung
luận
luận
LÝ THƢỜNG KIỆT
1
Lộ bố về việc đánh Tống
X
LÝ CÔNG UẨN
2
Chiếu dời đô
X
LÝ PHẬT MÃ
3
Chiếu đánh dẹp họ Nùng
4
10
Thư xin hàng
X
Thư cho Tổng binh cùng quan
X
phủ vệ Thanh – Hóa
Thư cho thái giám Sơn Thọ
X
20
11
Thư cho Phương Chính
X
12
Thư trả lời Phương Chính
X
X
18
Thư cho Thái Công
X
19
20
21
22
Thư cho hình nội quan cùng bọn
Lại thư cho Đả Trung và Lương
Lại thư trả lời Vương Thông
X
Lại thư gửi cho Vương Thông
X
Sơn Thọ
Lại thư cho Vương Thông
24
Lại thư cho Vương Thông
26
X
Đả Trung và Lương Nhữ Hốt
X
X
Văn tấu cáo (Liệt thánh nhà
X
Trần)
30
Thư cho Vương Thông
X
31
Thư cho thái giám Sơn Thọ
X
32