Số phận người phụ nữ trong các tác phẩm trung đại Việt Nam - Pdf 34

Số phận người phụ nữ trong các tác phẩm văn học trung
đại Việt Nam.
A+APrintEmail

Hình ảnh người phụ nữ từ lâu đã trở thành đề tài muôn thuở của thi ca,
nhạc, hoạ. Nét đẹp đằm thắm, duyên dáng, đáng yêu của họ đã làm cho
bao văn nhân, nghệ sĩ phải rung động trái tim yêu để rồi sáng tạo nên
những áng thơ văn bất hủ ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ dân tộc. Từ
khi nền văn học viết ra đời, thì bóng dáng người phụ nữ trở thành đề tài
lớn được tập trung khắc họa ở nhiều khía cạnh, phương diện gắn liến với
quá trình đi lên và phát triển của văn học.

Do ảnh hưởng của thời đại, đã có lúc, người phụ nữ phải chịu nhiều bi
kịch cay đắng, xót xa với số kiếp bị lệ thuộc, không làm chủ được cuộc
đời. Nhưng rồi, họ đã vươn lên tự giải phóng bản thân, dành được quyền
tự chủ, khẳng định vị thế là “một nửa thế giới” của mình. Theo dòng chảy
văn học Việt Nam, qua từng thời kì, giai đoạn, ta sẽ có cái nhìn khát quát,
toàn diện và sâu sắc về người phụ nữ…

Văn học trung đại


Phụ nữ là một đề tài lớn trong văn học Việt Nam. Từ trước thế kỉ XVI,
nhân vật phụ nữđã thoáng hiện trong các tác phẩm văn xuôi tự sự cũng
như trong thơ ca. Đó là hình ảnh những vị anh hùng dân tộc như Bà
Trưng, Bà Triệu, sống đánh giặc, chết hoá thành phúc thần tiếp tục giúp
dân giúp nước; hoặc các nhân vật khác như Mị Châu, vì ngây thơ mà bị
kẻ thù lợi dụng để đến mất nước tan nhà; như công chúa Tiên Dung thích
ngao du sơn thủy, bất chấp luật lệnh của vua cha, tự ý kết duyên cùng
chàng đánh cá Chử Đồng Tử nghèo khó không một mảnh khố che thân;
hay nàng quận chúa A Kim yêu say đắm Hà Ô Lôi – một kẻ vừa xấu vừa


Từ thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XIX, trong các thể loại văn học, thơ ca cũng
như văn xuôi tự sự, tác phẩm viết bằng chữ Hán cũng như viết bằng chữ
Nôm,… dường như nở rộ đề tài viết về người phụ nữ và hình tượng
người phụ nữ nổi bật lên với hai nét cơ bản: hiện thân của cái đẹp và
hiện thân của bi kịch đau thương. Từ góc nhìn của văn học trong giai
đoạn này, người phụ nữ chủ yếu được phản ánh nghiêng về số phận bất
hạnh và vẫy vùng trong lời kêu oán, than thân với khát vọng được giải
phóng. Hãy quay ngược thời gian, trở về quá khứ để tìm hiểu hình tượng
người phụ nữ trong văn học giai đoạn này.


Nhân vật phụ nữ, ở thể loại tự sự hay trữ tình trong văn học trung đại,
thường đẹp cả người lẫn nết, ít thấy có hiện tượng “xấu người đẹp nết”
như trong văn học dân gian. Chính vì thế, các nhân vật chính diện là
những phụ nữ trong văn học từ thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XIX hầu hết có
sự hài hoà giữa cái đẹp về hình thức với cái đẹp về tâm hồn, họ là hiện
thân của cái đẹp: “đẹp người và đẹp nết”. Điều hầu như mới lạ: các cô gái
khi đi vào văn học giai đoạn này đều là những giai nhân tuyệt thế. Hạnh
Nguyên trong “nhị độ mai” là một cô gái đẹp rực rỡ:

“Người đâu trong ngọc trắng ngà,
Mặt vành vạnh nguyệt, tóc rà rà mây”.

Chị em Thúy Vân và Thúy Kiều rõ ràng là khuôn mẫu của sắc đẹp:

“Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười, ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.

cho phẩm chất nói trên. Tiếng đàn của nàng làm cho Kim Trọng phải
“ngơ ngẩn sầu”, làm cho Thúc Sinh “cũng tan nát lòng” và làm cho Hồ
Tôn Hiến “nhăn mày, rơi châu”. Tài làm thơ của Kiều nhanh đến khó mà
tưởng tượng nổi:

“Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm.
…Tay tiên gió táp mưa sa…”
Đã nhanh, lại hay! Thơ của Kiều có thể cảm thông được quỷ thần, khiến
hồn ma Đạm Tiên phải hiện lên, khiến viên quan phủ “mặt sắt đen sì”
phải rủ lòng thương, không những chỉ tha cho Kiều mà còn đứng ra làm
lễ tác hợp cho nàng được lấy Thúc Sinh. Và Hoạn Thư, một con người tai
quái cũng phải thốt lên:

“Rằng: Tài nên trọng, mà tình nên thương”


Tuy vậy, ca ngợi tài và sắc của người phụ nữ không phải là mục đích của
tác giả văn học thế kỉ XVI - đầu XIX. Tài và sắc chỉ là một phương diện
của cái đẹp và làm nền để bộc lộ bản chất của cái đẹp: đẹp nết. Khi nói
đến đẹp nết là ta đã đề cập tới phạm trù đạo đức. Trong văn học dân gian
người ta cho rằng:

“Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người”.

Nhưng, như trên đã nói, trong văn học viết không có sự đối lập giữa hình
thức (xấu người) với nội dung (đẹp nết). Hình thức và nội dung thường
có sự hòa quyện sóng đôi. Vì thế, ở các truyện truyền kì cũng như truyện
Nôm, trong bất cứ hoàn cảnh nào, nhân vậtphụ nữ luôn toát lên một
phẩm chất cao đẹp: đức hi sinh, lòng vị tha và tấm tình chung thủy. Trước

riêng và của các nhân vật phụ nữ trong văn học Việt Nam thế kỉ XVI -


đầu XIX nói chung. Cùng với lòng vị tha, tấm tình thủy chung son sắt
cũng là một trong những phẩm chất nổi bật của ngườiphụ nữ.

Kiều ăn ở với mọi người trước sau như bát nước đầy. Bà quản gia, vãi
Giác Duyên, Thúc Sinh… là những người đã từng cưu mang, cứu vớt
Kiều. Sau này, khi đã trở thành vợ của người anh hùng cái thế Từ Hải,
Kiều vẫn nhớ tới ơn sâu nghĩa nặng của họ. Nàng đền ơn chàng Thúc thật
là trọng hậu:

“Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân,
Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là”.

Gặp lại Bà quản gia và vãi Giác Duyên, Kiều nhắc tới công ơn cứu giúp
của họ bằng lời nói vừa chân thật, vừa cảm động:

“Nhớ khi lỡ bước sảy vời,
Non vàng chưa dễ đền bồi tấm thương.
Nghìn vàng gọi chút lễ thường,
Mà lòng Phiếu mẫu mấy vàng cho cân!”.


Hình ảnh Ngọc Hoa trong truyện “Phạm Tải – Ngọc Hoa” còn đặc sắc
hơn. Có thể nói, đó là hình ảnh lí tưởng của tình yêu chung thủy sắt son.
Là con gái Trần tướng công, một viên quan to và giàu có, nhưng Ngọc
Hoa lại yêu và kết duyên cùng Phạm Tải – chàng hàn sĩ lỡ thời, không
chốn lương thân, không nơi trú ngụ, phải đi ăn xin. Vua Trang Vương ép
nàng bỏ Phạm Tải để lấy mình, nàng kiên quyết cự tuyệt. Phạm Tải bị

người phụ nữ vẫn được giữ gìn trọn vẹn. Đó là nét nổi bật thứ nhất về
hình tượng người phụ nữ trong văn học Việt Nam thế kỉ XVI - đầu XIX.

Với đầy đủ những vẻ đẹp đó, đáng lẽ ra, người phụ nữ phải được sống
một cuộc sống hạnh phúc trọn vẹn nhưng ở giai đoạn này, cả nước Việt
chìm trong những ràng buộc, lễ giáo khắc nghiệt tối tăm. Và vô hình
chung, số phận của người phụ nữ cũng không thể nào vượt ra khỏi ranh


giới của hoàn cảnh xã hội. Dưới chế độ phong kiến, mọi thế lực xã hội, kể
cả gia đình, đều có thể chà đạp lên thân phận người phụ nữ. Đứng đầu
các thế lực xã hội thời bấy giờ là vua chúa.
Để phục vụ cho việc ăn chơi truỵ lạc, bọn chúng đã kén hàng trăm cô gái
trẻ trung, xinh đẹp vào cung làm phi tần. Chế độ cung tần dã man đã làm
cho tuổi xuân và sắc đẹp của các cô gái bị chôn vùi trong cung cấm.
“Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều là tiếng oán thán đến rớm
máu cho những số phận đau thương đó. Khi đã vào cung, ngoại trừ một
vài người có cái may mắn được vua chúa sủng ái, còn hầu hết các cung
nữ đều mau chóng bị ruồng bỏ, lãng quên. Họ chỉ còn biết âm thầm thở
than, oán trách:

“Hoa này bướm nỡ thờ ơ
Để gầy bông thắm, để xơ nhị vàng”.

Dân gian thường nói:

“Vua thì nhiều vợ nhất đời
Ba trăm mỹ nữ, sáu mươi cung tần”.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status