nghiên cứu số phận người phụ nữ trong truyền kỳ mạn lục - Pdf 22

mở đầu
1. ý nghĩa của đề tài
1.1. ý nghĩa khoa học
Trong lịch sử Văn học Việt Nam, đặc biệt là trong văn xuôi tự sự Việt
Nam thời trung đại, có một tác giả mà cho tới nay chúng ta biết được chỉ có
duy nhất một tác phẩm nhưng đấy lại là một tác phẩm vô cùng đặc sắc. Tên
tác phẩm thật khiêm tốn: Truyền kỳ mạn lục (ghi chép một cách ngẫu hứng
những truyện lạ được lưu truyền) nhưng từ khi ra đời đến nay, nó đã từng
làm hao tổn tâm trí và giấy mực của nhiều thế hệ. Từ các bậc túc Nho thời
xưa cho đến các nhà nghiên cứu văn học thời hiện đại đều đánh giá cao và
coi tác phẩm là một biểu hiện vinh dự cho nền văn học nước nhà. Đặc biệt ở
thế kỷ XVIII, một thế kỷ rực rỡ nhất của văn học trung đại, các học giả nổi
tiếng như Vũ Khâm Lân, Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú đã từng ca ngợi
Truyền kỳ mạn lục là một thiên cổ kỳ bút, áng văn hay của bậc đại gia với
lời lẽ thanh tao tốt đẹp, người bấy giờ lấy làm ngợi khen.
Vì vậy, nghiên cứu Truyền kỳ mạn lục là việc làm có ý nghĩa nhằm
khám phá đầy đủ hơn giá trị của tác phẩm.
Truyền kỳ mạn lục không chỉ là mối quan tâm của người Việt Nam
mà còn là một tác phẩm văn học được sự quan tâm của giới nghiên cứu văn
học trên thế giới. Ngay từ những năm sáu mươi, tác phẩm đã được dịch ra
tiếng Nga, các nhà nghiên cứu Xô-viết khi nghiên cứu văn học phương
Đông thường chú ý tới Truyền kỳ mạn lục [43, tr.114]
Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là một trong những
đỉnh cao của văn học Việt Nam trung đại, càng ngày càng trở thành mối
quan tâm của các nhà nghiên cứu, càng chiếm được cảm tình của bạn đọc.
Càng ngày, người ta càng phát hiện và khẳng định vị trí vai trò của tác
phẩm bởi nó ra đời đã đánh dấu sự trưởng thành của truyện ngắn Việt Nam
trung đại, đánh dấu sự chuyển biến từ văn xuôi mang nặng tính chức năng
1
sang văn xuôi giàu tính nghệ thuật. Mặc dù, tác giả đã khai thác những đề
tài dân tộc, chú ý đến những truyền thuyết dân gian nhưng tác giả đã thực

đúng đắn về tác giả cũng như về di sản văn học quý giá này.
1.2. ý nghĩa thực tiễn
Với tư cách là một tác phẩm được xếp vào loại đỉnh cao của văn xuôi
tự sự Việt Nam thời trung đại, Truyền kỳ mạn lục đã được tuyển chọn để
giảng dạy ở nhiều cấp học (Chuyện người con gái Nam Xương được học ở
lớp 9, Chức phán sự ở đền Tản Viên được học ở lớp 10, tác phẩm được giới
thiệu trọn vẹn ở ngành văn các trường đại học và cao đẳng). Đây là tác
phẩm đã tạo được nhiều hứng thú cho cả người dạy và người học nhưng
cũng là một tác phẩm không dễ dàng chiếm lĩnh và cần phải được tiếp tục
khám phá.
Bởi vậy, nghiên cứu vấn đề đã nêu là một điều cần thiết và rất hữu ích
cho người viết để hiểu sâu hơn và giảng dạy đạt hiệu quả tốt hơn.
2. nhiệm vụ của đề tài:
Trên cơ sở ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn và những vấn đề liên
quan đến Truyền kỳ mạn lục, chúng tôi nghiên cứu cụ thể từng số phận nhân
vật phụ nữ nhằm đi tới những kết luận khoa học về số phận người phụ nữ
trong tác phẩm. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần năng cao hiệu quả trong
giảng dạy và học tập về Nguyễn Dữ nói riêng, về loại hình truyện ngắn
trung đại Việt Nam nói chung.
3. Lịch sử vấn đề:
Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm lớn mà ngay từ khi ra đời đã được
đánh giá cao, được nhiều học giả nổi tiếng quan tâm. Nhiều vấn đề trong
Truyền kỳ mạn lục là đối tượng, là đề tài của các công trình nghiên cứu xưa
nay và không phải chỉ còn ở trong nước mà còn ở ngoài nước. Từ nhiều góc
độ, đã có những công trình, bài viết có liên quan đến vấn đề mà đề tài của
3
chúng tôi đặt ra. Chúng tôi xin được lược dẫn về những công trình, những
bài viết có liên quan trực tiếp đến đề tài:
3. 1. Trước thế kỉ XX
3.1.1. Lời đề tựa Truyền kỳ mạn lục của Hà Thiện Hán viết năm Vĩnh Định

học số 5. 1984), Nguyễn Hữu Sơn ( Đặc điểm văn học Việt Nam thế kỉ XVI
– các bước nối tiếp và phát triển, Tạp chí văn học số 5,6 - 1988) còn có khá
nhiều các bài viết trong đó đáng lưu ý là các bài viết của Bùi Duy Tân
(Truyền kỳ mạn lục một thành tựu của truyện ký văn học viết bằng chữ Hán
– Văn học Việt Nam – Nhà xuất bản Giáo dục, 2001), Lại Văn Hùng ( Bàn
luận thêm về vấn đề tác giả- tác phẩm Truyền kỳ mạn lục – Tạp chí văn học
số 10 - 2002 ), Vũ Thanh ( Những biến đổi của những yếu tố kỳ và thực
trong truyện ngắn truyền kỳ Việt Nam – Tuyển tập 40 năm Tạp chí Văn
học), Nguyễn Phạm Hùng ( Tìm hiểu khuynh hướng sáng tác trong Truyền
kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ - Tạp chí văn học số 7- 1987)).
Chúng tôi xin trình bày một số tài liệu liên quan trực tiếp đến đề tài
và nêu rõ ý kiến như sau:
3.2.1. Lời giới thiệu Truyền kỳ mạn lục của Bùi Kỷ (được Trúc Khê Ngô
Văn Triện dịch ra quốc ngữ in năm 1941):
- Về nghệ thuật, cụ Bùi Kỷ viết: “Nguyễn Dữ học rất rộng, lại có tài
viết văn dùng nhiều điển tích. Lối viết nào cũng hay, về phần uyên bác có
thể ngang với Bồ Tùng Linh, về phần vận dụng các văn thể vượt hơn Đặng
Trần Côn…”
- Về nội dung, cụ cho rằng Truyền kỳ mạn lục đã đề cập đến vấn đề
người phụ nữ và xác định:
+ Truyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Người con gái Nam Xương
có chủ đề: Tả rõ phụ nữ ở xã hội cũ dù ăn ở thuỷ chung với chồng thế nào
cũng chịu một thân phận hèn kém: Một đằng vì thua bạc mà gán vợ, một
5
đằng vì ngờ vực hão huyền mà vợ phải quyên sinh. Đáng giận thay! Cái
thuyết “tòng phu” đã làm hại bao nhiêu bạn quần thoa trong bao nhiêu thế
kỷ! [7, tr.10].
+ Truyện đối tụng ở Long cung, có chủ đề: “bài xích quỷ thần, quỷ
thần mà lại cướp vợ người khác” [7, tr.10]
+ Truyện Từ Thức lấy vợ tiên có chủ đề: “ Cõi trần đáng chán làm

kiến. Truyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Truyện người con gái Nam
Xương phản ánh tình trạng đáng thương của người phụ nữ trong xã hội cũ:
đảm đang, tình nghĩa mà vẫn phải chịu số phận oan nghiệt…Truyện Lệ
Nương là bi kịch về mối tình chung thuỷ trong cảnh đất nước bị ngoai xâm.
Các Truyện nghiệp oan của Đào thị, Nàng Thuý Tiêu, Cây gạo, Kì ngộ ở
Trại Tây thì lại miêu tả những mối tình trái với đạo lí Nho gia [33, tr.518]
Tuy nhiên các tác giả lại cho rằng Nguyễn Dữ đã táo bạo và phóng
túng khi thể hiện quan hệ yêu đương không lành mạnh giữa TrìnhTrung
Ngộ và Nhị Khanh trong Truyện cây gạo, giữa Hà Nhân và hai nàng Đào,
Liễu trong Truyện kì ngộ ở trại Tây và kết luận “ đối với truyện này
Nguyễn Dữ đã có lời phê bình để phê phán những quan niệm đồi truỵ và
khẳng định lại những giáo điều về “đức hạnh tiết nghĩa” và bình luận thêm
“tuy thông cảm với khát vọng yêu đương của con người nhưng quan điểm
chủ đạo của Nguyễn Dữ vẫn là bảo vệ lễ giáo. Điều đó phản ánh thái độ
đầy mâu thuẫn trong tư tưởng và tình cảm của Nguyễn Dữ.” [33, tr.519]
(Chữ trại Tây là chúng tôi sử dụng theo nguyên bản của Bùi Văn Nguyên)
Với ý kiến này chúng tôi thấy:
- Các tác giả chỉ trình bày sơ lược về số phận người phụ nữ và cho
rằng Nguyễn Dữ đã viết về tình yêu “ xuất phát từ thái độ bảo thủ của Nho
giáo”
- Nếu Nguyễn Dữ đã “ít nhiều không bị gò bó trong khuôn khổ cứng
7
nhắc của lễ giáo…”, “táo bạo và phóng túng khi thể hiện quan hệ yêu
đương”, “ có phần thương cảm với những khát vọng hạnh phúc chính đáng
khi miêu tả những cặp trai gái công nhiên yêu nhau…” mà vẫn là người “có
thái độ bảo thủ của nho giáo”, vẫn là người “bảo vệ lễ giáo” thì đây là một ý
kiến đôi chỗ còn chưa nhất quán. ý kiến này gợi ý cho chúng tôi một hướng
tư duy: Phải chăng Nguyễn Dữ muốn nói rằng người phụ nữ thời ấy chỉ có
thể có ít nhiều hạnh phúc khi không tuân theo nguyên tắc của lễ giáo phong
kiến.

tượng thẩm mĩ trọn vẹn, thành vấn đề người phụ nữ trong văn học – với
những nhân vật trung tâm là phụ nữ. Sáng tác của Nguyễn Dữ được xem là
mở đầu cho khuynh hướng phản ánh này để rồi những thế hệ nghệ sĩ kế tiếp
sau tiếp tục phát triển nó, tạo nên những thành tựu rực rỡ với những tên tuổi
chói lọi như Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân
Hương, Phạm Thái, v.v …
Chính vì thế, khuynh hướng tư tưởng chủ đạo của Truyền kỳ mạn lục
đâu phải là đề cao chí khí nhà nho hay đạo đức phong kiến mà chính là ở chỗ
đấu tranh cho con người, cho quyền sống của con người, vì con người (nhất
là phụ nữ ), mang tinh thần nhân đạo chủ nghĩa. Và đương nhiên, tác giả
chống lại những gì bất công, tàn bạo, trái với con người, trái với tinh thần
dân chủ mà thời đại cho phép. Đó chính là khuynh hướng tư tưởng của
những nhà văn lớn của giai đoạn này, đang hoà nhập vào một trào lưu rộng
lớn trong suốt nhiều thế kỉ – trào lưu văn học nhân đạo chủ nghĩa. [30,
tr.118]
ý kiến trên là gợi ý xác đáng cho chúng tôi tìm hiểu về số phận người
phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục.
3.2.6. Luận văn thạc sĩ của Kim Seona (1995) có liên quan đến nhân vật
phụ nữ nhưng mục đích của luận văn là chứng minh sự phát triển của thể
9
loại truyền kỳ và so sánh hình tượng phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục của
Nguyễn Dữ với những tác phẩm cùng thể loại.
3.2.7. Một kết quả nghiên cứu mà chúng tôi rất chú ý là luận văn thạc sĩ của
học viên Nguyễn Thị Dương (Đại học Sư phạm Hà Nội 1996) đã nghiên
cứu về “số phận người phụ nữ và các phương thức thể hiện số phận ấy
trong Truyền kỳ mạn lục” (do PGS.TS Nguyễn Đăng Na hướng dẫn). Đây
là một công trình nghiên cứu rõ nét về số phận người phụ nữ. Tác giả đã
chia số phận người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục thành hai nhóm: nhóm
thứ nhất là những số phận may mắn, nhóm thứ hai là những số phận rủi ro
(cách phân chia này còn có những điểm khiến tôi băn khoăn, xin được trình

- Chuyện Lệ Nương
- Chuyện cây gạo
- Chuyện nghiệp oan của Đào thị
- Chuyện yêu quái ở Xương Giang
- Chuyện kỳ ngộ ở Trại Tây
- Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm viết bằng chữ Hán, ra đời từ thế
kỷ XVI, đến nay đã nhiều lần tái bản. Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi
dùng bản Truyền kỳ mạn lục do Trúc Khê Ngô Văn Triện (1941) dịch, Nhà
xuất bản Văn hoá ấn hành tại Hà Nội năm 1957 và bản Truyền kỳ mạn lục
do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1998, Trần Thị Băng Thanh giới
thiệu.
Vì thời gian, trình độ, khả năng nghiên cứu có hạn, chúng tôi chỉ tập
trung làm nổi bật số phận người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục.
11
4.3. Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau đây:
- Phương pháp phân tích tác phẩm văn học: Đây là phương pháp
được sử dụng chủ yếu trong luận văn này.
- Phương pháp thống kê, phân loại: Chúng tôi tiến hành thống kê,
phân loại theo từng điều kiện sống và cách sống của nhân vật để phục vụ
cho việc tìm hiểu và rút ra kết luận về các số phận đó.
- Phương pháp so sánh: Đây cũng là phương pháp quan trọng để so
sánh số phận người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục với các nhân vật phụ
nữ trong các tác phẩm văn học khác nhằm làm nổi bật vấn đề đã đặt ra.
5. Cấu trúc của luận văn
Mở đầu:
1. ý nghĩa của đề tài
2. Nhiệm vụ của đề tài

đã gọi là “ một trong những cuộc cách mạng triệt để nhất mà loài người đã
trải qua” tức là cuộc cách mạng chuyển từ chế độ mẫu quyền sang chế độ
phụ quyền. Người phụ nữ từ chỗ là chủ trong gia đình và xã hội trở thành
người bị giam hãm, áp bức, ngoài công việc nội trợ chỉ có vai trò rất quan
trọng riêng hẳn của mình là đẻ con – gần như duy nhất đáng kể là đẻ con
trai- để nối dõi tông đường và giữ gìn gia tài tư hữu của các gia trưởng từ
thế hệ này đến thế hệ khác. Chỉ biết “sự”, “tuỳ” và “tùng”, người phụ nữ
không hề có và không được nhắc đến cái gọi là quyền, cả đến quyền yêu
đương. Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, thế thôi. Nếu không còn cha mẹ thì có
chú, bác vậy. Cụ thể là con gái chỉ biết vâng theo dù muốn hay không muốn.
13
Phụ nữ thật là bị ức hiếp suốt đời. Làm con, làm vợ hay làm mẹ cũng đều bị
sự ức hiếp của nam giới, của lễ giáo, của pháp luật. Khổng Tử cho rằng họ là
loại người “khó giáo hoá”, “khó nuôi dạy” [10, tr.188].
Mặc dù tư tưởng Nho giáo khi vào Việt Nam không hoàn toàn cứng
nhắc như ở Trung Quốc nhưng người phụ nữ Việt Nam vẫn là nạn nhân đau
khổ của tư tưởng Nho giáo ấy. Những đòi hỏi người phụ nữ về “tam tòng, tứ
đức” vừa cột chặt họ vào công việc nội trợ gia đình, vừa thêm một lần nữa
tước đoạt của họ những hạnh phúc vốn đã nhỏ bé và hiếm hoi. Lấy chồng thì
theo chồng và một khi bất hạnh, chồng chết thì theo con trai, tức là ở vậy
nuôi con thờ chồng. Xã hội phong kiến khuyến khích việc đó bằng cách tặng
thưởng cho họ một tờ sắc “Tiết hạnh khả phong”. Như thế, những năm tháng
còn lại của người phụ nữ sẽ không còn biết đến hạnh phúc, đến tình yêu khi
mà họ vẫn còn rất trẻ, thậm chí có người mới mười tám, đôi mươi.
1.2. Văn học trung đại Việt Nam với đề tài phụ nữ
“Văn học trung đại Việt Nam phát triển song song với văn học dân
gian. Nó một mặt hấp thụ kinh nghiệm nghệ thuật của văn học dân gian,
nhưng mặt khác nó cũng luôn bổ sung cho văn học dân gian, thúc đẩy văn
học dân gian cùng tiến tới. Đi đôi với công việc này, văn học trung đại còn
tiếp nhận tinh hoa của văn học các nước lân cận, chủ yếu là Trung Hoa, thứ

hầu trong cung vua).Thái Thuận có các bài Tràng An xuân mộ (Chiều xuân
ở Tràng An), Chinh phụ ngâm( Nỗi lòng chinh phụ) Lão kĩ ngâm( Khúc
ngâm của người kĩ nữ già). Vua Lê Thánh Tông có các bài Hoàng Giang
điếu Vũ nương (Qua Hoàng Giang viếng người đàn bà họ Vũ), Lỵ Nhân sĩ
nữ (Trai gái ở Lỵ Nhân). Ngoài những bài ấy và một vài bài nữa, Lê Thánh
Tông còn có một số truyện ngắn viết về phụ nữ chứa đựng nhiều yếu tố
hoang đường được tập hợp trong Thánh Tông di thảo. Trước Nguyễn Dữ,
Lý Tế Xuyên (trong Việt Điện u linh) và Trần Thế Pháp ( trong Lĩnh Nam
15
chích quái lục) có viết về phụ nữ nhưng những nhân vật phụ nữ thường là
thần thánh, là nhân vật lịch sử và họ xuất thân thường là quý tộc. Nhà văn
chú ý tới cái siêu nhiên, cái khác thường ở họ, xây dựng họ để làm sáng tỏ
tư tưởng “ địa linh nhân kiệt” chứ không phải nhằm mục đích phản ánh về
con người trần thế với cuộc sống hiện thực của họ.
Từ thế kỉ XVI, xã hội phong kiến Việt Nam bắt đầu đi vào thời kì
khủng khoảng, con người có một nhu cầu nhận thức thực tế cuộc sống. Con
người - đối tượng phản ánh của văn học - từ đây ít bị ràng buộc hơn vào
những tư tưởng giáo lí có sẵn. Con người trước đó, thường được miêu tả
bằng những bức chân dung “nhìn ngay ngó thẳng”, biểu tượng cho những
chuẩn mực của “tam cương”, “ngũ thường”, “tam tòng, tứ đức”. Con người
trước đó, là con người của tinh thần và ý chí, tư tưởng và giáo điều thì nay
được thay thế bằng những con người trần thế hơn với những nhu cầu trần
thế, với da thịt hồng hào, tươi tốt, với những ham muốn thoát ra ngoài sự
toả chiết của Nho giáo. Nhu cầu sống, nhu cầu hạnh phúc, nhu cầu về sự ái
ân – tức là những nhu cầu cụ thể, hồn nhiên và tự nhiên như nó vốn có -
đang cựa quậy và trỗi dậy. Tôn giáo, các học thuyết và cả sự không hiểu
biết đã nhồi nhét vào đầu óc con người trung đại ảo tưởng về một cõi tiên
thì nay chính những con người ở cõi tiên ấy lại muốn xuống cõi trần với
cuộc sống trần tục. Tiên nữ Giáng Hương, từ khi lấy chàng Từ Thức đã trở
nên hồng hào chứ không khô gầy như trước nữa[8, tr.122] và chàng Từ

kiêu hãnh về nhan sắc:
Chìm đáy nước cá lờ đờ lặn,
Lửng lưng trời nhạn ngẩn ngơ sa,
Hương trời đắm nguyệt say hoa,
Tây Thi mất vía, Hằng Nga giật mình
Nhưng rồi chính họ lại “giật mình” khi “bừng con mắt dậy thấy mình
17
tay không” và cay đắng nhận ra sai lầm vì cái “bả vinh hoa” ấy. Hạnh phúc
thực sự đối với họ có thể chỉ là có một người chồng “dù rằng cục mịch nhà
quê” và những đứa con “ lau nhau ríu rít cò con cũng tình”.
Hồ Xuân Hương – nhà thơ của phụ nữ - qua những bài thơ Nôm của
mình đã tố cáo chế độ đa thê và nền đạo đức phong kiến đối với người phụ
nữ. Nền đạo đức phong kiến ấy đã gây nên cho người phụ nữ không biết
bao nhiêu là cay đắng, tủi hờn. Thân phận họ bấp bênh, hẩm hiu như chiếc
bánh trôi “Bảy nổi ba chìm với nước non”; con ốc nhồi “Đêm ngày lăn lóc
đám cỏ hôi”, hay quả mít “ sù sì”. Một nỗi khổ nữa của người phụ nữ đó là
kiếp “lấy chồng chung”. Thân phận họ chỉ là thân phận của một kẻ làm
mướn, thậm chí còn tệ hơn làm mướn nữa - làm mướn không công. Nhà thơ
thường xoáy sâu vào các ngóc ngách éo le của cuộc đời để nêu lên những bi
kịch thật chua chát nhưng thường bị xoá nhoà trong một cuộc sống vốn dĩ
đã rập khuôn theo những chế ước nặng nề của lễ giáo. Mặc dù bị áp bức
nặng nề như thế, nhưng người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương đã có lúc
ngẩng cao đầu tuyên chiến với lễ giáo phong kiến và ý thức được giá trị của
mình.
Có thể nói, thơ Hồ Xuân Hương là sản phẩm của một thời đại, của
phong trào quần chúng đấu tranh chống lại ách thống trị phong kiến thối
nát, là kết tinh truyền thống phụ nữ trên lĩnh vực xã hội, văn học.
Nguyễn Du, qua cuộc đời của nhân vật Thuý Kiều đã đặt ra một vấn
đề hết sức bao quát là quyền sống của con người trong xã hội phong kiến
trong đó có một vấn đề rất quan trọng là quyền sống của người phụ nữ.

trở thành tên gọi chung cho các loại ghi chép truyện lạ hoặc truyện vặt lịch
sử. Phải đợi đến đời Đường, tiểu thuyết Trung Quốc mới dần dần trưởng
thành, mới có được hình thức nghệ thuật tương đối hoàn hảo cũng như nội
dung đời sống xã hội tương đối rộng rãi và giành được vị trí không thể xem
19
thường trong lịch sử văn học Trung Quốc.
Vào đời Đường, người ta vẫn chưa bỏ được cách nhìn lệch lạc truyền
thống đối với tiểu thuyết, nói chung vẫn gạt nó ra ngoài văn học chính
thống. Bởi cách “cấu tứ chuộng sự li kì”, cho nên nó được gọi là “truyền
kỳ”. Có điều những người sáng tác tiểu thuyết ngày một đông hơn, điều ấy
nói rõ con đường sáng tác tiểu thuyết vốn bị coi là “tiểu đạo” đã ngày một
hấp dẫn mọi người, hơn thế, đã bắt đầu trở thành hoạt động nghệ thuật có ý
thức. Một người đời Minh là Hồ ứng Luân đã có thể nhìn thấy điều đó, từng
nói: “Những chuyện biến hoá kì lạ rất thịnh vào đời Lục triều, có điều phần
lớn là ghi chép lại những điều bịa đặt chứ đâu phải truyện biến hoá, đến
người đời Đường mới có sự cấu tứ li kì, mượn tiểu thuyết để gửi gắm ngọn
bút.” [38, tr.659]
Chúng ta thấy, về đại thể, truyền kỳ đời Đường có nội dung đa dạng,
phong phú xoay quanh chủ đề tình yêu nam nữ trong đời sống trần tục
thường ngày và mang đậm khuynh hướng nhân văn chủ nghĩa. Vì thế, nó có
vai trò lớn trong việc đưa văn học viết hướng tới truyền thống văn hoá dân
gian, đời sống hiện thực của quần chúng nhân dân. Đồng thời, với thủ pháp
nghệ thuât độc đáo là lấy kì ảo làm phương tiện nghệ thuật để truyền tải nội
dung về đời sống con người, truyền kỳ đời Đường góp phần không nhỏ
khẳng định giá trị hư cấu và tưởng tượng trong việc phản ánh và lý giải hiện
thực cuộc sống của tác phẩm văn học. Loại hình truyền kỳ tiếp tục phát
triển ở đời Tống, Nguyên (1279-1368). Cuối Nguyên, đầu Minh (thế kỉ thứ
XIV), có Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu (1341-1427) là tác phẩm truyền
kỳ nổi tiếng, tiêu biểu cho thể loại truyền kỳ của Trung Quốc và có ảnh
hưởng lớn đến thể loại truyền kỳ các nước trong khu vực như: Triều Tiên,

Bên cạnh việc ảnh hưởng sâu sắc của truyện truyền kỳ Trung Quốc, Truyền
kỳ mạn lục còn ảnh hưởng các câu truyện cổ có yếu tố kỳ lạ của ấn Độ,
21
Campuchia hay Chiêm Thành…
Nhìn lại nền văn học Việt Nam trung đại, bắt đầu từ Việt điện u linh
của Lý Tế Xuyên( đầu thế kỷ XIV), chúng ta thấy, ở tác phẩm này đã chứa
đựng những yếu tố kì ảo. Nhà văn đã xây dựng hình tượng nhân vật của
mình bằng bút pháp kỳ vĩ và trên thực tế, tập truyện là một cuốn thần phả
về những linh hồn bất tử của nước Đại Việt. Nhân vật trong truyện hầu hết
là những thần linh vốn là những anh hùng dân tộc đã hiển thánh. Vì vậy,
trong truyện đã thấp thoáng yếu tố của bút pháp truyền kỳ và có thể đây là
giai thoại mầm mống cho sự phát triển của truyền kỳ sau này. Sau Việt điện
u linh tập của Lý Tế Xuyên là sự xuất hiện Lĩnh nam trích quái lục của
Trần Thế Pháp ( cuối thế kỉ XIV đầu thế kỷ XV). Đây là tập truyện chép lại
truyện dân gian nhưng đã có sáng tạo, Trần Thế Pháp đã tập trung chép lại
những truyện giàu yếu tố kì như truyện Đổng thiên vương, truyện Rùa
vàng…
Việt điện u linh tập và Lĩnh nam chích quái lục là những tiền đề văn
học cho sự phát triển của thể loại truyền kỳ và Lý Tế Xuyên, Trần Thế Pháp
là những nhà văn đặt nền móng cho thể loại truyền kỳ ở Việt Nam. Cuối thế
kỉ XV, Thánh Tông di thảo, tương truyền của Lê Thánh Tông, đã là một
bước tiến xa hơn nữa cho thể loại truyền kỳ. Tập truyện là một sáng tạo độc
đáo và đặc sắc, mang đầy đủ tính chất bút pháp truyền kỳ với những truyện
tiêu biểu như Lấy chồng dê, Tinh chuột, Duyên lạ xứ hoa…
Nhưng chỉ đến Truyền kỳ mạn lục thì thể loại truyện ngắn truyền kỳ
Việt Nam mới thực sự được khẳng định. Sự ra đời của Truyền kỳ mạn lục
đã đưa thể loại truyền kỳ Việt Nam tới đỉnh cao và chiếm lĩnh vị trí quan
trọng trong văn xuôi tự sự Việt Nam.
Như trên đã nói, văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng rất sâu đậm của
văn học Trung quốc cho nên tất yếu, truyền kỳ Trung Quốc sẽ du nhập vào

23
đủ các yếu tố của thể loại truyền kỳ. Với nhiều thế hệ, từ tác giả của Thánh
Tông di thảo đến tác giả của Truyền kỳ mạn lục, các nhà văn trung đại vẫn
tiếp tục con đường của Lý Tế Xuyên, Trần Thế Pháp nhưng không nhằm
phản ánh một thế giới trong truyện cổ tích, thần thoại hay truyện dã sử nữa
mà đã trực tiếp chuyển sang phản ánh những vấn đề xã hội. Những câu
truyện lịch sử được Thánh Tông và Nguyễn Dữ mô phỏng viết lại theo ý
của mình phù hợp với xu hướng đó. Cái thực đã có phần lấn át cái kỳ, cái
kỳ không còn là mục đích chính, đôi lúc nó chỉ còn là phương tiện chuyển
tải nội dung hoặc để gây sức hấp dẫn cho tác phẩm. Đề tài về tình yêu được
viết nhiều hơn cả, các tác giả thường viết về truyện tình yêu, về mối quan
hệ giữa con người và ma quỷ. Viết về tình yêu nhưng cũng chính là nhằm
mục đích tố cáo xã hội, đề cao đạo đức, công lý, phản ánh về số phận đầy
đau khổ của con người, nhất là người phụ nữ.
Truyền kỳ xuất hiện trong xã hội trung đại và cái kỳ trong xã hội đó là
một mặt của hiện thực đời sống chứ không chỉ là mê tín dị đoan. Bên cạnh
đời sống hiện thực, con người thời trung đại còn có một đời sống tâm linh
phong phú với các vị thần với những điều kỳ lạ, siêu nhiên và một quan
niệm về thế giới bên kia. Xung quanh họ cũng có biết bao điều kỳ lạ xảy ra.
Họ sống một cách hồn nhiên trong môi trường như vậy. Chính vì thế, việc
phản ánh cái kỳ cũng là phản ánh một mặt của hiện thực cuộc sống, đặc biệt
là đời sống tâm linh của con người.
Truyền kỳ mạn lục so với Thánh Tông di thảo là một bước tiến lớn về
nội dung và nghệ thuật. Nguyễn Dữ là nhà văn Việt Nam đã chịu ảnh
hưởng khá sâu sắc các nhà văn viết truyền kỳ Trung Quốc, nhất là sự ảnh
hưởng của Cù Hựu. Truyền kỳ mạn lục là một bước nhảy vọt về thể loại. Từ
chỗ đóng vai trò người sưu tập ghi chép mặc dù là ghi chép có sáng tạo, đến
chỗ tự thân sáng tác, từ chỗ chỉ phản ánh những hành trạng, sự hiển linh của
các vị thánh, các vua chúa, anh hùng dân tộc lấy trong các thần tích đền
24

Trích đoạn Nhân vật Thuý Tiêu trong Chuyện nàng Thuý Tiêu Nhân vật Nhị Khanh trong Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu Nhân vật Vũ Thị Thiết trong Chuyện người con gái Nam Xương Nhân vật Lệ Nương trong Chuyện Lệ Nương Nhân vật Nhị Khanh trong Chuyện cây gạo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status