Nguyen Thị Hải Yến – Vai trò yếu tố kỳ ảo trong việc thể hiện khát vọng của người phụ nữ
trong truyền kỳ mạn lục
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Lý do khoa học
Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là một trong những đỉnh
cao của văn học trung đại Việt Nam. Ngay từ khi mới xuất hiện, tập truyện đã
được độc giả đương thời đánh giá cao như Lê Quý Đôn ca ngợi “Văn từ thanh
lệ”, Vũ Phương Đề, Phan Huy Chú khẳng định là một “thiên cổ kỳ bút”; “áng
văn hay của bậc đại gia với lời lẽ tốt đẹp, người bấy giờ lấy làm ngợi khen”.
Truyền kỳ mạn lục ra đời là một bước đột khởi trong nền văn xuôi dân tộc,
đánh dấu sự trưởng thành của truyện ngắn Việt Nam trung đại, đánh dấu sự
chuyển biến từ văn học mang tính chức năng sang văn xuôi nghệ thuật.
Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm đề cập đến nhiều vấn đề của xã hội,
trong đó nổi bật là vấn đề người phụ nữ. Trong văn học trung đại Việt Nam,
Nguyễn Dữ là người đầu tiên phản ánh người phụ nữ với đầy đủ diện mạo,
tâm tư, tình cảm, số phận và cả những khát vọng của họ. So với thời đại,
Nguyễn Dữ là người có cái nhìn mới mẻ và táo bạo về người phụ nữ. Không
chỉ đề cập đến số phận của họ mà ông còn lên tiếng đòi hỏi quyền sống,
quyền hưởng hạnh phúc tự nhiên chính đáng của con người, đặc biệt là hạnh
phúc chăn gối. Mặc dù Nguyễn Dữ là người xuất thân từ Nho giáo nhưng
hình ảnh người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục có lúc trái với quan niệm
của nhà nho. Với tinh thần nhân đạo cao cả, Nguyễn Dữ trong không ít trường
hợp, dù là vô thức hay có ý thức, đã không chỉ tái hiện hình tượng người phụ
nữ trinh liệt với cảm hứng ngợi ca mà còn cố gắng chỉ ra bi kịch và sự bất
công của xã hội nam quyền và sự hy sinh đầy xót xa của những người phụ nữ
ấy. Mặt khác, khi miêu tả những người phụ nữ tự do, buông thả trong tình
cũng như giá trị nghệ thuật của áng thiên kỳ bút này.
Nguyen Thị Hải Yến – Vai trò yếu tố kỳ ảo trong việc thể hiện khát vọng của người phụ nữ
trong truyền kỳ mạn lục
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
3
1.2. Lý do thực tiễn
Với tư cách là tác phẩm được xếp vào loại đỉnh cao của văn học tự sự
Việt Nam thời trung đại, Truyền kỳ mạn lục đã được tuyển chọn giảng dạy ở
nhiều cấp học (Chuyện người con gái Nam Xương được học ở lớp 9, Chuyện
Chức phán sự ở đền Tản Viên được học ở lớp 10, tác phẩm được giới thiệu
trọn vẹn ở ngành văn các trường đại học và cao đẳng). Đây là tác phẩm đã tạo
được nhiều hứng thú cho cả người dạy và người học nhưng cũng là một tác
phẩm không dễ dàng chiếm lĩnh và cần phải được khám phá.
Bởi vậy nghiên cứu vấn đề đã nêu là một điều cần thiết và rất hữu ích
cho người viết được hiểu sâu hơn và giảng dạy tốt đạt hiệu quả tốt hơn.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu nghệ thuật của Truyền kỳ mạn lục, PGS - TS Vũ Thanh một
nhà nghiên cứu dành rất nhiều tâm huyết để chỉ ra cả giá trị nội dung và nghệ
thuật của Truyền kỳ mạn lục. Với bài viết “Những biến đổi của yếu tố kì và
thực trong truyện ngắn truyền kỳ Việt Nam” [40], tác giả chỉ ra bút pháp đặc
trưng của thể truyền kỳ, sử dụng yếu tố “kỳ” không phải chỉ với chức năng vỏ
bọc che dấu dụng ý của nhà văn mà còn với tư cách là bút pháp nghệ thuật
mang tính đặc trưng của thể loại. Đó là cái cách tác giả phản ánh hiện thực
của cái “kỳ” Cũng liên quan đến vấn đề này trong bài viết “Thể loại truyện kỳ
ảo Việt Nam trung đại - Quá trình nảy sinh và phát triển đến đỉnh điểm”
[44, tr.767], PGS-TS Vũ Thanh đã chỉ ra vai trò của yếu tố kỳ ảo trong
Truyền kỳ mạn lục khi cho rằng bút pháp kỳ ảo cho phép nhà văn khám phá
tâm hồn nhân vật ở một thế giới mà nó lạc vào, với một hoàn cảnh và những
nam lẫn nữ. Rõ ràng việc sử dụng yếu tố ma quái, kì ảo ở đây có ý nghĩa của
bức bình phong che chắn búa rìu dư luận của xã hội Nho giáo vốn được đinh
hướng theo lý tưởng quả dục, tiết dục”.
Tác giả Nguyễn Thuý Quỳnh trong bài viết “Nguyễn Dữ và vấn đề giải
phóng phụ nữ”[33] có nhận xét “Trong Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ bao
chứa sự mâu thuẫn lớn, giữa tinh thần bảo thủ của một nhà nho khi ông phê
Nguyen Thị Hải Yến – Vai trò yếu tố kỳ ảo trong việc thể hiện khát vọng của người phụ nữ
trong truyền kỳ mạn lục
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
5
phán tất cả những mối tình không phù hợp với lễ giáo, đạo đức phong kiến-
và sự thông cảm, với hạnh phúc chính đáng của con người, khi ông miêu tả
một cách say sưa về tình yêu đôi lứa hay mượn nhân vật để bày tỏ quan niệm
nhân sinh của mình. Nhưng cho dù mâu thuẫn, thì thái độ của ông đối với
người phụ nữ vẫn tràn ngập một niềm thương cảm. Niềm thương cảm ấy xuất
phát từ một trái tim nhân hậu của người biết "thương người như thể thương
thân", đau nỗi đau thời cuộc nên xót xa cho thân phận con người - đó là
phẩm chất của một nhân cách lớn: nhân cách kẻ sĩ. Đó là lý do mà một nửa
số truyện trong Truyền kỳ mạn lục lấy phụ nữ và hạnh phúc của họ làm đề
tài. Và nhờ thế, lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, người phụ nữ đã có mặt
đông đủ trong một tác phẩm văn học”.
GS. Bùi Duy Tân [39] có viết “Tuy nhiên Truyền kỳ mạn lục không phải
chỉ thể hiện tư tưởng nhà nho, mà còn thể hiện sự dao động của tư tưởng ấy
trước sự rạn nứt của ý thức hệ phong kiến. Nguyễn Dữ đã có phần bảo lưu
những tư tưởng phi Nho giáo khi phóng tác, truyện dân gian, trong đó có tư
tưởng Phật giáo, Đạo giáo và chủ yếu là tư tưởng nhân dân. Nguyễn Dữ đã
viết truyền kỳ để ít nhiều có thể thoát ra khỏi khuôn khổ của tư tưởng chính
thống đặng thể hiện một cách sinh động hiện thực cuộc sống với nhiều yếu tố
hoang đường, kỳ lạ. Ông mượn thuyết pháp của Phật, Đạo, v.v. để lý giải một
phận người phụ nữ là một vấn đề đã được các nhà nghiên cứu quan tâm. Phần
lớn các bài viết, các công trình nghiên cứu về Truyền kỳ mạn lục đều ít nhiều
đề cập đến vấn đề này. Song vì chưa được coi là đối tượng nghiên cứu độc lập
và chưa được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng nên vấn đề chưa được thể hiện
thành một công trình hoàn chỉnh, có hệ thống. Bởi vậy, chúng tôi đặt ra nhiệm
vụ cho mình: Nghiên cứu vai trò của yếu tố kỳ ảo trong việc thể hiện số phận
người phụ nữ trong Truyền kì mạn lục thành một công trình hoàn chỉnh với hi
vọng góp phần bổ sung thêm một cách hiểu về Truyền kỳ mạn lục.
Nguyen Thị Hải Yến – Vai trò yếu tố kỳ ảo trong việc thể hiện khát vọng của người phụ nữ
trong truyền kỳ mạn lục
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
7
3. Đối tƣợng, phạm vi và mục đích nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm viết bằng chữ Hán, ra đời từ thế kỷ XVI,
đến nay đã nhiều lần tái bản. Khi thực hiện đề tài này chúng tôi dùng bản lần
tái. Thực hiện đề tài này chúng tôi dùng bản Truyền kỳ mạn lục do NXBVH
ấn hành năm 1998, Trần Thị Băng Thanh giới thiệu.
Trong Truyền kỳ mạn lục có 20 truyện thì có tới 11 truyện có nhân vật
phụ nữ với tổng số 23 nhân vật. Tuy nhiên không phải bất kỳ tác phẩm nào có
phụ nữ là tác phẩm ấy đều nói về phụ nữ. Chúng tôi chỉ chọn 10 truyện mà
theo chúng tôi có đề cập đến số phận và những khát vọng của người phụ nữ.
Đó là những truyện:
Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa
Chuyện đối tụng ở Long cung
Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu
Chuyện nàng Tuý Tiêu
Chuyện cây gạo
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu là: Phương pháp thống kê, phân loại, phương pháp phân tích tổng hợp,
phương pháp so sánh.
6.1. Phƣơng pháp phân tích
Đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng trong luận văn này.
6.2. Phƣơng pháp thống kê, phân loại:
Ở đề tài này, chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê để khảo sát, thống
kê những chuyện về nhân vật nữ và phân loại các yếu tố kỳ ảo mà Nguyễn Dữ
dùng để miêu tả nhân vật. Từ đó nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật.
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp thống kê để xử lý thông tin
trong các tư liệu lịch sử, tư liệu văn học được sử dụng để chứng minh các luận
điểm đã đưa ra.
Nguyen Thị Hải Yến – Vai trò yếu tố kỳ ảo trong việc thể hiện khát vọng của người phụ nữ
trong truyền kỳ mạn lục
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
9
6.3 Phƣơng pháp so sánh
Để thấy được các mối liên hệ đa dạng, đa chiều cũng như nét chung, nét
riêng độc đáo của nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục, luận văn sử dụng
phương pháp so sánh. Chúng tôi dự kiến sẽ so sánh người phụ nữ trong
Truyền kỳ mạn lục với người phụ nữ trong một số truyện Nôm và khúc ngâm
tiêu biểu của Văn học Việt Nam trung đại thế kỷ XVIII, người phụ nữ trong
một vài tác phẩm văn học đương đại và trong các tư liệu lịch sử đã chọn làm
đối tượng nghiên cứu.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn được triển
khai trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
“Nguyễn Dữ người xã Đỗ Tùng, huyện Gia Phúc. Cha là Nguyễn Tường
Phiêu, tiến sĩ khóa Bính Thìn đời Hồng Đức (1496), làm quan đến Thượng
thư Bộ hộ. Nguyễn Dữ từ nhỏ đã nổi tiếng học rộng nhớ nhiều, có thể lấy văn
chương nối nghiệp nhà. Đỗ Hương tiến, nhiều lần thi hội trúng tam trường,
được bổ chức Tri huyện Thanh Tuyền, mới được một năm lấy cớ nơi làm việc
xa xôi, xin về phụng dưỡng cha mẹ. Sau vì ngụy Mạc thoán đạt, thề không đi
làm quan nữa; ở làng dạy học không đặt chân đến chốn thị thành, viết
Nguyen Thị Hải Yến – Vai trò yếu tố kỳ ảo trong việc thể hiện khát vọng của người phụ nữ
trong truyền kỳ mạn lục
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
11
Truyền kỳ mạn lục bốn quyển văn từ thanh lệ, người đương thời rất khen”
[16, tr.48].
Những ghi chép trên đây cùng nhận định của các nhà nghiên cứu khác
cho phép chúng ta đưa ra một số kết luận về thân thế Nguyễn Dữ: Ông là
người huyện Gia Phúc, thuộc Hồng Châu, cha là tiến sĩ Nguyễn Tường Phiêu,
đậu tiến sĩ đời Hồng Đức năm 1496, làm quan đến chức Thượng thư. Nguyễn
Dữ vốn sinh ra trong dòng dõi khoa hoạn, từ nhỏ đã ham học, nhớ nhiều và có
thể từng là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm, là bạn của Phùng Khắc Khoan,
đã từng thi đỗ, làm quan. Tư tưởng của Nguyễn Dữ về cơ bản là tư tưởng của
một nhà Nho chính thống. Tư tưởng này đã để lại dấu ấn trong Truyền kỳ
mạn lục và thể hiện khá rõ nét trong nghệ thuật kể, tả người phụ nữ của tập
tác phẩm này.
Nguyễn Dữ sống chủ yếu vào đầu thế kỷ XVI. Đây là thời kỳ chế độ
phong kiến tập quyền sau một thời gian đạt đến cực thịnh ở triều Lê Thánh
Tông bắt đầu bộc lộ những hạn chế nhất định. Hình ảnh quân minh thần lương
của triều đại Lê Thánh Tông không còn mà thay vào đó là các ông vua bất tài
ươn hèn, là bọn gian thần đua nhau tranh quyền đoạt vị. Song đây lại là điều
kiện để nhiều tư tưởng dân chủ, tư tưởng đề cao người phụ nữ vốn tiềm tàng
chê cười. Đó là một xã hội mà các tầng lớp khác đặc biệt là phụ nữ là nạn
nhân đau khổ nhất của thiết chế xã hội, của quan niệm nho giáo, của hiện thực
cuộc sống. Trong số đó có những người được giải oan vì đức độ, vì trung
thực, vì những phẩm chất tốt đẹp của mình. Cũng có người phải ngậm ngùi
khổ đau vì chính những hành động của mình.
Hệ thống nhân vật của Truyền kỳ mạn lục đa dạng phong phú gồm đủ
mọi loại vua, quan như Hạng Vương, Hồ Tông Thống, Nguyễn Trung Ngạn,
Trụ quốc họ Thân đến cả những con người bình thường như Vũ Thị Thiết,
Thị Nghi Phần lớn các nhân vật trong Truyền kỳ mạn lục là những con
người thuộc tầng lớp bình dân: tri thức bình dân hoặc phụ nữ Thông qua số
phận các nhân vật, Nguyễn Dữ đi tìm giải đáp xã hội: Con người phải sống
Nguyen Thị Hải Yến – Vai trò yếu tố kỳ ảo trong việc thể hiện khát vọng của người phụ nữ
trong truyền kỳ mạn lục
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
13
sao để có hạnh phúc? Làm thế nào để nắm bắt hạnh phúc? Hạnh phúc tồn tại
ở thế giới nào? Nguyễn Dữ đưa ra rất nhiều giả thiết nhưng tất cả đều rơi vào
bế tắc [25, tr.213].
Về hình thức nghệ thuật, khi viết Truyền kỳ mạn lục nhà văn Nguyễn
Dữ “đã tuân thủ những nguyên tắc loại hình được chấp nhận bằng văn ngôn,
song chỉ tuân thủ bề ngoài. Ông đã phá vỡ những quy tắc lâu đời về hình thức
thể loại và tạo ra những tác phẩm theo kiểu tự do hơn. Tập hợp từ “mạn lục”
trong nhan đề đã chỉ ra sự độc đáo về loại hình tác phẩm’’ [38, tr.74]. Ý kiến
đánh giá này có vẻ hơi quá, song cũng đã có lý khi khẳng định sự sáng tạo của
Nguyễn Dữ về phương diện nghệ thuật truyền kỳ. Nguyễn Dữ là tác giả đầu
tiên khẳng định vị thế truyền kỳ trong văn xuôi Việt Nam, đưa vào thể loại
này những yếu tố của văn học dân gian tạo ra màu sắc riêng của thể truyền kỳ
Việt Nam. Nói như giáo sư Bùi Văn Nguyên thì “tất cả hai mươi truyện trong
Truyền kỳ mạn lục, nếu được phản ánh tỉ mỉ, bộc lộ ít nhiều yếu tố văn học
trí nhớ của chúng ta những câu chuyện ma mà chúng ta nghe từ thuở ấu thơ
và thích thú với những nỗi khiếp sợ bí mật, những nỗi sợ hãi mà trí óc con
người phải lệ thuộc vào nó một cách tự nhiên” [22, tr.43]. Sau đó có rất nhiều
ý kiến khác nhau về khái niệm kỳ ảo như Roger Caillor, Tz.Todorov,
M.Schemider Các nhà nghiên cứu văn học phương Tây đề cập tới bản chất
của kỳ ảo là sự do dự, gắn liền với sợ hãi, nó được tạo ra từ những giấc mơ,
sự mê tín, hối hận, từ sự kích thích quá độ của trí não hay tâm linh
Ở Việt Nam, Khổng Phương Nhậm (1648-1718) khẳng định “phi kì bất
truyền, truyền kỳ là truyền những tình tiết khác lạ, tình tiết không li kì thì
không gọi là truyền kỳ”. Lê Nguyên Cẩn trong chuyên luận “Cái kỳ ảo trong
tác phẩm Balzac” đã làm rõ nội hàm thuật ngữ kỳ ảo trong văn học: “Cái kỳ
ảo là một phạm trù tư duy nghệ thuật. Nó được tạo ra nhờ trí tưởng tượng và
được biểu hiện bằng các yếu tố siêu nhiên, khác lạ, phi thường, độc đáo. Nó
có mặt trong văn học dân gian và văn học viết qua các thời đại. Nó tồn tại
trên trục thực ảo và tồn tại độc lập, không hoà tan vào các dạng thức khác
Nguyen Thị Hải Yến – Vai trò yếu tố kỳ ảo trong việc thể hiện khát vọng của người phụ nữ
trong truyền kỳ mạn lục
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
15
nhau của tưởng tượng Yếu tố kỳ ảo trong văn học tạo nên sự đứt gãy trong
chuỗi liên kết vũ trụ, tạo ra sự do dự, phân vân trong lòng độc giả. Nó là
quãng lặng, là sự ngắt mạch, là sự xâm lấn của cái siêu nhiên trong cuộc
sống đời thường, là sự xâm lấn của cái phi lôgic trong một thế giới lôgic”
[3, tr.56]. Tác giả Ngô Tự Lập có ý kiến rằng: “Kỳ ảo, đó chính là mê lộ nghệ
thuật cũng như trong lĩnh vực nghệ thuật khác, nó xuất hiện ở mọi nơi khi trật
tự đã trở nên vừa bó buộc vừa đáng ghét vừa đáng sợ và tính hợp lý của trật
tự ấy bị đặt thành câu hỏi. Tuy nhiên những thiết chế văn minh càng chặt chẽ,
càng ráo riết thì sự xuất hiện của nó càng kịch tính như những gì chúng ta
chứng kiến ở phương Tây” [19, tr.10]. Nhà nghiên cứu Vũ Thanh cũng khẳng
dưỡng bởi suối nguồn văn học dân gian của dân tộc ấy. Thể truyền kỳ không
nằm ngoài quy luật đó. Nó cũng được nuôi dưỡng từ nguồn sữa mẹ là văn học
dân gian, một trong những ngọn nguồn sản sinh ra yếu tố kỳ ảo. Đặc biệt
Truyền kỳ mạn lục chứa đựng những yếu tố vốn có trong văn học dân gian.
Tuy nhiên trong Truyền kỳ mạn lục Nguyễn Dữ chịu ảnh hưởng của văn học
dân gian nhưng đó là sự vay mượn có chủ ý, có ý thức. Sự tách rời dần dần
khỏi những ảnh hưởng thụ động của văn học dân gian được tiến hành song
song với quá trình chọn lọc và vay mượn một cách có ý thức chất liệu văn học
dân gian có sẵn. Ví như truyện Người con gái Nam Xương là một câu chuyện
mà Nguyễn Dữ dựa vào truyện dân gian Vợ chàng Trương để sáng tác. Năm
1471, trên đường đi công tác trở về, Lê Thánh Tông ghé thăm miếu Vũ Thị ở
bến Hoàng Giang (thuộc địa phận Nam Sang, nay là Lý Nhân, Hà Nam). Cảm
thương số phận bất hạnh của nàng, vua Lê Thánh Tông đã làm bài thơ “Lại
bài viếng Vũ Thị”, khắc vào bia, đến nay vẫn còn ở đình Vũ Điện, xã Tân Lý,
huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam:
Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương,
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương.
Bóng đèn dầu nhẫn đừng nghe trẻ,
Cung nước chi cho lụy tới nàng.
Nguyen Thị Hải Yến – Vai trò yếu tố kỳ ảo trong việc thể hiện khát vọng của người phụ nữ
trong truyền kỳ mạn lục
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
17
Chứng quả đã đôi vầng nhật nguyệt
Giải oan chẳng lọ mấy đàn tràng
Qua đây bàn bạc mà chơi vậy,
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng
(Hồng Đức Quốc âm thi tập, NXBVH, H.1982, trang 95)
So sánh hai truyện, Vợ chàng Trương và Người con gái Nam Xương ta
ngờ. Mong chàng đứng một mực nghi
oan cho thiếp [7, tr.189.]
Nguyen Thị Hải Yến – Vai trò yếu tố kỳ ảo trong việc thể hiện khát vọng của người phụ nữ
trong truyền kỳ mạn lục
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
18
Qua những đoạn ví dụ trên ta thấy, Nguyễn Dữ viết lại truyện dân gian
nhưng từ lời nói, ngôn ngữ miêu tả đều khác. Một số chi tiết đã được Nguyễn
Dữ thêm vào hoặc cắt bớt đi song cái chính là nó không làm thay đổi cốt
truyện. Lời thoại trong truyện Người con gái Nam Xương phong phú hơn, nó
tiêu biểu cho lối nói ước lệ bóng bẩy. Cũng là kể chuyện, cũng là lời thoại
nhưng ngôn ngữ trong văn học dân gian ngắn gọn hơn, nó mang tính chất
thông báo thô phác hơn. Nguyễn Dữ đã tạo ra bước ngoặt lớn trong việc xây
dựng nhân vật. Mỗi nhân vật đều có tâm trạng riêng, tâm lý riêng sâu sắc khác
xa với truyện dân gian. Cuộc sống tình cảm vợ chồng trong Người con gái
Nam Xương gần gũi cuộc sống thực hơn. Người chồng trong Vợ chàng
Trương chỉ là một con người cả ghen, ghen đến mức nói những lời thô lỗ với
vợ. Trong Người con gái Nam Xương thì người chồng là một người sống rất
tình cảm. Chỉ qua một câu nói của chàng với con trai: "Con nín đi, đừng khóc.
Cha về, bà mất, lòng cha buồn khổ lắm rồi". Ta thấy đó là con người sống có
tình nghĩa nhưng chỉ vì tính cả ghen đến mù quáng mà không nhận ra được
nỗi oan ức của người vợ. Còn vợ chàng (Vũ Thị Thiết) là một người con gái
nết na hiền dịu, sống hiếu hạnh nhưng chỉ vì tính cả tin của người chồng mà
phải chịu số phận của hẩm hiu, giữa đường đứt gánh. Nàng chỉ biết khóc mà
kêu than cho số phận của mình. Nguyễn Dữ thật tài tình khi đưa ra các chi
tiết, từ ngữ tưởng chừng như không ăn khớp với nhau nhưng thực chất lại hỗ
trợ nhau, giúp nhau miêu tả tâm lý sắc bén hơn, gợi lòng thương cảm hơn. Vũ
Nương nói đến cuộc sống tình cảm vợ chồng, đến nỗi mong nhớ chồng đằng
cuộc sống nơi trần thế, chàng mang tâm trạng của chính tác giả. Nguyễn Dữ
cùng trăn trở đi tìm một lối thoát cho cuộc sống ngột ngạt bấy giờ, ông muốn
tìm kiếm niềm vui hạnh phúc của con người nhưng bất lực trước hiện thực.
Ông đưa cả con người lên cõi tiên mà vẫn chưa tìm được hạnh phúc của mình.
Từ Thức trong Từ Thức lấy vợ tiên đã khác xa với chàng Từ Thức trong Sự
tích động Từ Thức của văn học dân gian. Từ Thức mà Nguyễn Dữ miêu tả là
đại diện cho con người trí thức trong xã hội Nho giáo đang suy vị.
Nguyen Thị Hải Yến – Vai trò yếu tố kỳ ảo trong việc thể hiện khát vọng của người phụ nữ
trong truyền kỳ mạn lục
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
20
Có thể nói trong việc tiếp thu và vay mượn truyện dân gian thì Nguyễn
Dữ là người thành công hơn cả. Khác với Thánh Tông, nhân vật mà Nguyễn
Dữ khắc hoạ gần gũi với cuộc sống đời thường hơn. Họ có những tâm tư suy
nghĩ riêng của mình và mang tính triết lý của thời đại. Họ là những con người
của cuộc sống bình thường hàng ngày: là Tuý Tiêu, là người con gái Nam
Xương, là Lệ Nương … ngay cả đến thời gian, không gian mà Nguyễn Dữ
miêu tả cũng đời thường. Nó thường được so sánh ví von ước lệ nhưng lại
mang nét thực của cuộc sống đời thường.
Con người có những mối quan tâm riêng, ngay cả những con người nơi
tiên giới cũng xét nét nhau như những con người trần tục. Bởi vậy mà Nguyễn
Dữ phản ánh được những điều thực cao hơn Thánh Tông. Những vấn đề mà
Thánh Tông miêu tả vẫn còn xa với cuộc sống hiện thực, nó vẫn còn mang
đậm nét huyền thoại.
Nguyễn Dữ đã vay mượn chất liệu từ văn học dân gian nhưng lại tách
dần khỏi những ảnh hưởng thụ động của chúng để tiến tới chỗ phát huy những
mặt tốt đẹp của truyền thống, biến cải nâng văn học dân gian lên một bước
cao hơn. Trong cuốn Truyện Nôm - nguồn gốc và thể loai - PGS Kiều Thu
Hoạch đã viết: "Truyện Tướng Dạ Xoa chính là được sáng tạo trên cơ sở
truyền kỳ xuất hiện thì việc ảnh hưởng giữa văn học các nước là không thể
tránh khỏi. Nếu như ở đời Đường (Trung Quốc) nền kinh tế thành thị phát
triển cùng với những nhu cầu văn hoá và lối sống thị dân là cơ sở ra đời của
thể loại truyền kỳ thì ở Việt Nam, vào khoảng thế kỷ XV - XVII, cũng có đầy
đủ những tiền đề xã hội - lịch sử tương tự. Bởi vậy, Truyền kỳ mạn lục cũng
có những nhân vật tiêu biểu cho tầng lớp thị dân như kỹ nữ, thư sinh đi thi,
thương nhân, cũng có những chủ đề như: tự do hôn nhân, tình yêu trai gái
phóng túng …như trong các tác phẩm đời Đường.
Tất nhiên đó chỉ là sự giống nhau có tính chất loại hình, còn nhân vật cốt
truyện, thời gian, không gian…là hoàn toàn Việt Nam. Cụ thể như địa danh ở
Việt Nam như Kiến Hưng (Nam Định), Nam Sang (Hà Nam), Tiên Du (Bắc
Nguyen Thị Hải Yến – Vai trò yếu tố kỳ ảo trong việc thể hiện khát vọng của người phụ nữ
trong truyền kỳ mạn lục
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
22
Ninh), Phong Châu (Phú Thọ), Cẩm Giàng (Hải Dương) Nhiều cốt truyện
được lấy từ những câu chuyện lưu truyền trong dân gian, nhiều trường hợp
xuất phát từ các vị thần mà đền thờ hiện vẫn còn (đền thờ Vũ Thị Thiết ở Hà
Nam, đền thờ Nhị Khanh ở Hưng Yên và đền thờ Văn Dĩ Thành ở làng Gối,
Hà Nội).
Thể loại truyện kỳ trong nền văn học Trung Quốc đã được các nhà văn
Việt Nam tiếp nhận (thế kỷ XV - XVI) như là một thể loại mới mẻ, đầy hấp
dẫn, làm phong phú thêm kho tàng văn học tự sự của dân tộc. Trong bài viết
về mối quan hệ giữa Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục PGS Phạm
Tú Châu đã rút ra một số ý kiến xác đáng về Truyền kỳ mạn lục trong cuốn
sáng của Tiến sĩ văn học người Nga K.I Gonnưghia có tên Truyện ngắn Trung
Quốc thời trung cổ chương Cù Hựu và truyền kỳ Việt Nam rằng: "Truyền kỳ
mạn lục của Nguyễn Dữ đã đánh dấu sự xuất hiện loại truyện ngắn nghệ
thuật ở Việt Nam. Trong điều kiện có một ngôn ngữ văn học chung cho cả
quấy nhiễu dân làng. Nhờ pháp luật của đạo sỹ ma mới bị diệt trừ. Dân làng tạ
ơn nhưng đạo sỹ không nhận, lánh vào núi sâu.
Để tạo không khí kỳ ảo, rờn rợn, Nguyễn Dữ đã giữ lại một số tình tiết ở
Mẫu đơn đăng ký: Chiếc quan tài quàn xác người con gái chết trẻ đặt trong
một căn phòng nhỏ tối ăm; người hầu và vật dụng (đèn mẫu đơn hay bàn hồ
cầm) mang theo đều là đồ thờ nặn bằng đất hoặc giấy, chàng trai khám phá ra
tung tích cô gái là nhờ tìm đến căn phòng quàn xác, thấy rõ quang cảnh nơi ở,
đồ vật của người đã hiện hình hôm trước. Cuối cùng chàng trai chết, cái chết
liên quan đến chiếc quan tài, sau đó cảnh ma nô giỡn trong những ngày âm u,
những đêm tối trời. Diễn biến của truyện được tác giả xây dựng theo thời gian
tuyến tính, nhìn qua thì tưởng như ở Mộc miên thụ truyền (Chuyện cây gạo)
Nguyễn Dữ chỉ thay đổi quốc tịch cho nhân vật, thay đổi không gian và thời
gian truyện mà thôi, không có gì đóng góp mới cả. Tuy nhiên, nếu ta đi sâu
vào nội dung chi tiết và nghệ thuật cụ thể sẽ thấy Nguyễn Dữ đã rất công phu
trong câu chuyện ma cây gạo này. Ông chú ý khắc hoạ tâm lý nhân vật Nhị
Nguyen Thị Hải Yến – Vai trò yếu tố kỳ ảo trong việc thể hiện khát vọng của người phụ nữ
trong truyền kỳ mạn lục
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
24
Khanh là một nhân vật có tâm trạng, có khao khát hạnh phúc lứa đôi, bởi vì
cô chết còn quá trẻ, u hồn của cô không có người hương khói, an ủi, luôn
mang tâm trạng u uất cô đơn, vừa luyến tiếc cuộc sống trần thế, vừa thù hận
người đời vô tình, do vậy cô tìm kiếm hoan lạc và "Chàng đã từ xa lại đây,
quyết không có lý nào còn trở về nữa… Nằm vò võ một mình như vậy, lẽ đâu
nay thiếp để cho chàng về" [7, tr.42].
Trình Trung Ngộ cũng là một nhân vật có tính cách. Dù chỉ là "anh lái
buôn ít chữ" hiếu sắc nhưng Trung Ngộ đắm say và chung tình. Lúc đầu cuộc
tình giữa chàng và Nhị Khanh chỉ là chuyện giữa đường nhưng rồi mỗi ngày
một sâu nặng đến nỗi khi phát hiện ra Nhị Khanh là ma chàng cũng không thể
XV bị giết khi sang xâm lược Việt Nam [35]. Điều này Nguyễn Dữ viết là để
hợp tư tưởng người Việt Nam và ông muốn chuyển toàn bộ thế giới văn học
Tiễn đăng tân thoại thành thế giới văn học Việt Nam.
Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu đã tạo nên một sự kích thích một lực
thúc đẩy khêu gợi khiến Nguyễn Dữ tìm đến với một thể loại chưa được định
hình ở Việt Nam. Nguyễn Dữ tuy có vay mượn của Cù Hựu một số tình tiết,
mô típ và đôi khi cả những phiếm đoạn, nhóm từ nhưng hoàn toàn độc lập về
mặt chủ đề hoặc có vay mượn một số ý không đáng kể ở nhiều chuyện
(Chuyện đối tụng ở Long cung; Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên). Trần Ích
Nguyên từng khẳng định: “Trong cách hành văn của mình Nguyễn Dữ đã
nhiều lần sử dụng chính xác điển cố trong truyền kì đời Đường” và “ảnh
hưởng lớn nhất đối với Truyền kỳ mạn lục chính là Tiễn đăng tân thoại của
Cù Hựu đời Minh”. Song mặt khác ông cũng khẳng định sự sáng tạo của
Nguyễn Dữ là: “Thoát khỏi bóng dâm của Tiễn đăng tân thoại”[30, tr.67].
Những mô típ tình tiết trùng hợp với Cù Hựu còn là những tình tiết mô típ
phonklore trong khu vực hoặc thế giới. Từ Thức lấy vợ tiên là truyện có môtíp