yếu tố huyền ảo trong truyện, ký việt nam thế kỷ xviii xix (khảo sát qua tang thương ngẫu lục lan trì kiến văn lục và truyền kỳ tân phả) - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
_____________________

Nguyễn Ngọc Trai

YẾU TỐ HUYỀN ẢO
TRONG TRUYỆN, KÝ VIỆT NAM
THẾ KỶ XVIII - XIX
(KHẢO SÁT QUA: TANG THƯƠNG NGẪU LỤC LAN TRÌ KIẾN VĂN LỤC VÀ TRUYỀN KỲ TÂN PHẢ)

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
_____________________

Nguyễn Ngọc Trai

YẾU TỐ HUYỀN ẢO
TRONG TRUYỆN, KÝ VIỆT NAM
THẾ KỶ XVIII - XIX
(KHẢO SÁT QUA: TANG THƯƠNG NGẪU LỤC LAN TRÌ KIẾN VĂN LỤC VÀ TRUYỀN KỲ TÂN PHẢ)
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số

: 60220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Xin cảm ơn Phòng Sau đại học, Thư viện trường Đại học Sư phạm
TPHCM, Thư viện Khoa học Tổng hợp đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành và bảo
vệ luận văn này.
Đặc biệt, xin cảm ơn Ban Giám hiệu, tổ Ngữ văn và các đồng nghiệp
trường THPT Hiệp Bình, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi
thuận lợi trong công tác, hỗ trợ nhiệt tình giúp tôi trong thời gian học tập và hoàn
thành luận văn.
Sau cùng, xin cảm ơn Ba Mẹ, anh chị và bạn bè cùng những học trò thân
yêu đã động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Trân trọng.
Nguyễn Ngọc Trai


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
DẪN NHẬP .................................................................................................................... 1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ....................................................................... 9
1.1. Yếu tố huyền ảo .................................................................................................... 9
1.1.1. Huyền ảo và yếu tố huyền ảo trong văn học .................................................. 9
1.1.2. Phân biệt “kì ảo” và “huyền ảo” trong văn học ........................................... 12
1.1.3. Cơ sở hình thành các yếu tố huyền ảo trong truyện, ký Việt Nam thế
kỷ XVIII - XIX ............................................................................................ 15
1.2. Thể loại truyện, ký trung đại ............................................................................... 27
1.2.1. Truyện trung đại ........................................................................................... 27
1.2.2. Ký trung đại .................................................................................................. 30
1.3. Bối cảnh lịch sử và truyện, ký trung đại Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX ............ 33
1.3.1. Bối cảnh lịch sử và đời sống nhân dân Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX ....... 33

3.3.4. Sáng tạo của nhà văn .................................................................................. 135
3.4. Vai trò của yếu tố huyền ảo trong văn học ....................................................... 138
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 141
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................... 143


1

DẪN NHẬP
1. Lí do chọn đề tài
Văn học trung đại Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, từ thơ ca đến
văn xuôi, đóng góp cho vườn hoa văn học dân tộc. Đặc biệt, giai đoạn văn học thế kỷ
XVIII - XIX được xem là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của văn học trung đại. Thiết
nghĩ, văn học thế kỷ XVIII - XIX đạt nhiều thành tựu bởi một phần đây là thời kỳ cuối
của văn học trung đại Việt Nam, các tác giả phần nào đã tiếp thu tinh hoa của các tác
giả, tác phẩm văn học trước đây. Một phần văn học giai đoạn này nảy mầm trên một
bối cảnh lịch sử nhiều biến động - đây là mảnh đất màu mỡ để văn học cất lên tiếng
nói bênh vực, đề cao quyền sống của con người đau khổ, mặt khác, văn học ghi nhận
một cách chân xác hiện thực lịch sử.
Từ lâu, khi nhắc đến văn học giai đoạn này, người ta chú trọng thành tựu về thể
loại trữ tình hơn tự sự; ở thể loại tự sự, nếu có chỉ đề cập đến Hoàng Lê nhất thống chí
của Ngô gia văn phái. Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi thấy ngoài những thành tựu
nói trên, văn xuôi thế kỷ XVIII - XIX còn hấp dẫn ở mảng truyện, ký. Tiếp thu những
thành tựu đi trước, kết hợp với sự sáng tạo của những tài năng cá nhân tác giả, các tác
phẩm truyện, ký thế kỷ VIII - XIX đã đem đến cho văn học trung đại một bức tranh
cuối mùa thật phong phú, đa dạng sắc màu. Qua yếu tố huyền ảo, truyện, ký giai đoạn
này phần nào thể hiện sự ảnh hưởng của văn hóa, tín ngưỡng dân gian dân tộc; phần
nào cho thấy được sự tưởng tượng phong phú và sức ám dụ nghệ thuật của tác phẩm
văn học trong việc phản ánh hiện thực. Điều này đem lại sự hấp dẫn, lôi cuốn và góp
phần tạo nên thành tựu của văn xuôi thế kỷ XVIII - XIX. Cùng với thơ ca, văn xuôi

2. Lịch sử vấn đề
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đề tài Yếu tố huyền ảo trong truyện, ký
Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX (Khảo sát qua: Tang thương ngẫu lục - Lan Trì kiến
văn lục và Truyền kỳ tân phả), với những tư liệu sưu tầm được, chúng tôi xin điểm
qua một số bài nghiên cứu liên quan đến đề tài:
2.1. Về yếu tố huyền ảo trong văn học, công trình Dẫn luận văn chương kì ảo của
Tzvetan Todorov đã khái quát được đặc trưng của văn học kì ảo. Ở Việt Nam, các
công trình, bài viết bàn về chủ nghĩa nghĩa hiện thực huyền ảo có thể kể đến Chủ
nghĩa hiện thực huyền ảo (magic realism) của Đỗ Văn Hiểu, công trình đã khái quát
về chủ nghĩa hiện thực huyền ảo nói chung và chỉ ra được phương thức cơ bản của yếu
tố huyền ảo trong văn học. Ở công trình này, Đỗ Văn Hiểu dẫn lời nhà phê bình


3

Argentina Mansoor khi bàn luận về tác phẩm của nhà văn Mexico Rulfo đã nói:
“huyền ảo trong tác phẩm của Rulfo được sinh ra từ sự ngang bằng của hai hệ thống
giá trị văn hóa, tức là hai loại hiện thực (hàng ngày) và thần thoại” (Mansoor: Rulfo
và chủ nghĩa hiện thực huyền ảo. Xem Chủ nghĩa vị lai, chủ nghĩa siêu thực, chủ
nghĩa hiện thực huyền ảo, NXB Khoa học xã hội Trung Quốc, 1987, tr.448-449);
Argentina Mansoor dẫn lời nhà văn Cuba Carpentier khi viết lời tựa cho cuốn Vương
quốc của thế giới của mình đã không sử dụng “chủ nghĩa hiện thực huyền ảo” mà sử
dụng “hiện thực thần kì” cho rằng:
thần kì là sự đột biến của hiện thực (tức là kì tích), là sự biểu hiện đặc thù đối với
hiện thực, là sự thể hiện kì diệu khác biệt, phi thường đối với tính phong phú của
hiện thực, là cường điệu quy mô và trạng thái của hiện thực. Sự phát hiện hiện
thực thần kì này mang đến cho người đọc sự hưng phấn tinh thần đến cực điểm
(Mansoor: Rulfo và chủ nghĩa hiện thực huyền ảo. Xem Chủ nghĩa vị lai, chủ
nghĩa siêu thực, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo. (NXB Khoa học xã hội Trung
Quốc, 1987, tr.448-449).

Bắc chỉ ra đặc điểm của văn học huyễn ảo ở từng giai đoạn lịch sử văn học của thế
giới: cổ đại - thế kỷ XIII: thần thoại, truyện cổ tích, thế kỷ XIV - XIX: văn học kì ảo,
sau thế kỷ XX: văn học huyền ảo. Tiếp theo, tác giả đưa ra cảm giác thẩm mỹ ở người
đọc do từng yếu tố đem lại: “huyền thoại”: sợ hãi, “kì ảo”: không sợ, “huyền ảo”: vừa
sợ vừa không sợ. Đây là cơ sở để chúng tôi xác định yếu tố huyền ảo có trong truyện,
ký Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX. Tiếp nối quan điểm của Lê Huy Bắc, bài viết Cái kì
ảo trong văn học tiền hiện đại và cái huyền ảo trong văn học hậu hiện đại của Phan
Tuấn Anh và luận văn Yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Gárcia Márquez của Nguyễn
Thành Trung có bàn đến sự phân biệt ba khái niệm: “huyền thoại” (myth), “kì ảo”
(fantasy) và “huyền ảo” (magic). Các công trình này rất đáng quan tâm khi chúng tôi
tìm hiểu đề tài. Ngoài ra, các công trình: luận văn Yếu tố huyền ảo trong truyện ngắn
Mỹ Latinh (Khảo sát qua hai tác gia: Jorge Luis Borges và Gabriel Gárcia Márquez)
hoặc công trình Những biểu hiện của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong văn học
Nhật Bản đương đại của Lê Ngọc Phương, Yếu tố huyền ảo trong tác phẩm của
Yasunari Kawabata và Gabriel Gárcia Márquez của Đào Thị Thu Hằng… đã phần
nào chỉ ra được những biểu hiện của yếu tố huyền ảo trong các tác phẩm của châu Mỹ
Latin, Nhật Bản; trong đó, văn học châu Mỹ Latin là một điển hình của văn học thế
giới về chủ nghĩa hiện thực huyền ảo.
Về yếu tố huyền ảo trong văn học Việt Nam, vấn đề này có luận văn Khuynh
hướng hiện thực huyền ảo trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương của Nguyễn Thị Thu
Huyền và bài viết Về một lối viết hiện thực huyền ảo Việt tính của Đỗ Quyên nhận


5

định về tác phẩm của Đỗ Ngọc Thạch. Các công trình trên phần nào cho thấy yếu tố
huyền ảo là một phương thức thường gặp trong sáng tác văn học đương đại của các
nền văn học, chưa có công trình nào bàn đến yếu tố huyền ảo trong văn học trung đại
Việt Nam.
2.2. Về văn xuôi trung đại Việt Nam, nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về vấn đề

mới) có đánh giá: “Cuối cùng, là một số truyện ma quỷ, một số sự tích hoang đường, kì
lạ. Đây chính là nét đặc sắc làm nên giá trị của sách. Bởi ở chỗ màu sắc hoang đường
được vận dụng như thủ pháp nghệ thuật để ghi lại những hình ảnh của thời đại đầy
biến động (Ma Đồng Xuân, Nội đạo tràng, Mẹ ranh càn sát…)” [32, tr.1594]. Về Lan
Trì kiến văn lục, Huyền Trai Ngô Hoàng khi viết đề tựa sách Kiến văn lục đã khẳng
định:
Lớn thì nhân vật quỷ thần, nhỏ thì cầm thú ngư trùng, những việc gì lạ mà mắt
thấy tai nghe đều ghi lại. (…) Có nói đến việc quái dị nhưng không thoát ly đạo
thường, có kể về điều biến hóa nhưng không mất đi lẽ chính, đại để là ngụ ý
khuyên răn cảnh cáo sâu xa để người xem sau này thấy điều hay thì bắt chước,
thấy điều dở thì phòng ngừa, thực có ích cho thế gian [60, tr.15-16].

Về Truyền kỳ tân phả, Trần Văn Giáp trong bài Giới thiệu và xác định giá trị
Bích Câu kì ngộ có nhận xét: “Nhìn chung, cả sáu truyện trong Truyền kỳ tân phả đều
là những câu chuyện về cuộc đời, về con người trong buổi xế chiều của xã hội phong
kiến Việt Nam được biểu hiện dưới màu sắc hoang đường, quái đản. Đây là một hình
thức nghệ thuật khá phổ biến trong văn xuôi Việt Nam kể từ sau Truyền kỳ mạn
lục của Nguyễn Dữ ở thế kỷ XVI” [16].
Từ những nhận định trên, chúng ta phần nào thấy được những giá trị của ba tác
phẩm và việc sử dụng yếu tố huyền ảo là một trong những phương thức làm nên những
giá trị đó.
Vì những nguyên nhân khách quan và năng lực chủ quan, chúng tôi chưa thể tiếp
cận đầy đủ các công trình, bài viết nghiên cứu về yếu tố huyền ảo trong văn học đã
được công bố. Thiết nghĩ, nghiên cứu khoa học là một công việc kéo dài, người nghiên
cứu luôn kế thừa những người đi trước và góp thêm cái nhìn khác để bức tranh văn
học được nhìn một cách đầy đủ hơn. Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi xin
chân thành tri ân những phát hiện của những tác giả đi trước đã tạo tiền đề cảm hứng
cho đề tài. Những kiến thức quý báu đó sẽ giúp chúng tôi có những định hướng đúng



5.2. Phương pháp thống kê, khảo sát: nhận biết những tác phẩm, những biểu hiện
tập trung và loại trừ để có cái nhìn chính xác, khoa học về vấn đề.


8

5.3. Phương pháp phân tích, tổng hợp: làm rõ những đặc trưng của yếu tố huyền
ảo trong từng tác phẩm và trong cả giai đoạn.
5.4. Phương pháp tâm lí, lịch sử - xã hội: từ tâm lí sáng tác, tâm lí tiếp nhận, lí
giải nguyên nhân thời đại và sự tồn tại của yếu tố huyền ảo trong văn học.
5.5. Phương pháp so sánh, hệ thống: cho thấy cái nhìn tổng thể của vấn đề trong
dòng chảy văn học dân tộc.
6. Cấu trúc của luận văn
Ở chương 1, luận văn đưa ra những khái niệm, cơ sở hình thành yếu tố huyền ảo
trong truyện, ký Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX và bối cảnh lịch sử cũng như giới thiệu
ba tác phẩm cần nghiên cứu trong luận văn.
Ở chương 2, luận văn đi vào phân tích cụ thể biểu hiện về nội dung của yếu tố
huyền ảo trong ba tác phẩm: Tang thương ngẫu lục, Lan Trì kiến văn lục và Truyền kỳ
tân phả. Đây là chương trọng tâm của luận văn.
Ở chương 3, luận văn làm rõ yếu tố huyền ảo qua nghệ thuật xây dựng cốt
truyện, nhân vật; xây dựng không gian, thời gian; nghệ thuật kể chuyện huyền ảo trong
ba tác phẩm và vai trò của yếu tố huyền ảo trong văn học.


9

Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Yếu tố huyền ảo
1.1.1. Huyền ảo và yếu tố huyền ảo trong văn học
1.1.1.1. Huyền ảo

là “magica”; bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là “magikē” (tekhnē), nghĩa là (nghệ thuật
của) thầy phù thủy. Đó là một sức mạnh bí ẩn có khả năng làm những điều không thực
thành có thực (thường gắn với nét nghĩa tiêu cực - “black magic” - phép thuật ma quỷ)
[61, tr.16].
Tóm lại, theo những nét nghĩa trên thì chúng tôi cho rằng “huyền ảo” là tính chất
ảo diệu, sâu kín, hàm chứa ý nghĩa vi diệu khó lường. Vì thế, sự vật hiện tượng huyền
ảo đem lại cho con người trạng thái nửa tin (hoặc sợ), nửa không tin (hoặc không sợ).
Có thể nói, huyền ảo có trong nhiều lĩnh vực của đời sống. Ngày nay, khoa học phát
triển nhưng vẫn còn những hiện tượng dị thường, trở thành những vấn đề bí ẩn, và mãi
mãi là bí ẩn, khó lí giải. Gần đây, khoa học về nghiên cứu tiềm năng con người đã và
đang phát hiện, nghiên cứu về hiện tượng ngoại cảm, cận tử, đầu thai… Điều đó giúp
con người phần nào lí giải những vấn đề dị thường của cuộc sống. Và huyền ảo được
dùng trong tác phẩm nghệ thuật như một yếu tố tạo nên vẻ đẹp lấp lánh bí ẩn.
1.1.1.2. Yếu tố huyền ảo trong văn học
Tác phẩm nghệ thuật là sản phẩm của quá trình hư cấu, tưởng tượng từ chất
liệu đời sống. Vì thế yếu tố huyền ảo là một bộ phận cần thiết, quan trọng để xây
dựng, cấu thành nên tác phẩm nghệ thuật. Mặt khác, nhờ yếu tố huyền ảo, tác phẩm
nghệ thuật mang một vẻ đẹp riêng, hấp dẫn.
Điều này được thể hiện từ thời kỳ đầu khi văn học chưa thành văn ra đời,
những tác phẩm thần thoại được kể từ việc thần thánh hóa những hiện tượng thiên
nhiên. Và khi đó, con người tin các vị thần này là có thật, luôn có sức mạnh siêu nhiên
đáng sợ. Từ đó, con người chuyển từ niềm sợ hãi, sang niềm tin và tín ngưỡng thờ
thần. Dần dần, con người có ý thức về bản thân và cộng đồng, xuất hiện những cá
nhân có sức mạnh phi thường, dám chống chọi với những thế lực tự nhiên. Khi đó,
truyền thuyết và sử thi ra đời ca ngợi về những anh hùng, những vị vua. Khảo lại các
thành tựu văn học nổi tiếng trên thế giới, chúng ta thấy yếu tố huyền ảo xuất hiện trong
nhiều tác phẩm. Sử thi Hi Lạp, Sử thi Ấn Độ kể về những vị vua, những anh hùng
trong dân gian có sức mạnh siêu nhiên, thần thoại, trở thành những biểu tượng đẹp
trong văn học (Prométhée, Hercule, Achiles (Hi Lạp), Rama (Ấn Độ), Ngu công, vua


quyện. Lăng kính huyền thoại đã giúp các nhà văn vạch trần hiện thực đen tối tàn
bạo của các chế độ độc tài, phê phán tình trạng khép kín văn hóa, đoạn tuyệt giao
lưu. (...) Họ thường dùng hồn ma vạch mặt bọn chủ trang trại tàn bạo, mượn thần


12

linh chỉ trích, chế giễu bọn độc tài bất lực, ngu độn, thậm chỉ mượn phù thủy trêu
chọc các nhà thống trị [27, tr.76-77].

Dòng văn học Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo có ảnh hưởng rộng lớn đến các sáng
tác văn học hiện đại trên thế giới. Sự ảnh hưởng này mang lại những màu sắc rất riêng
cho từng nền văn học, bởi yếu tố huyền ảo trong văn học xuất phát từ những huyền
thoại của từng dân tộc, từ đó nhà văn viết lại những huyền thoại mới.
Theo Phan Tuấn Anh trong Cái kì ảo trong văn học tiền hiện đại và cái huyền ảo
trong văn học hậu hiện đại thì “Ở Việt Nam, có thể chưa hình thành một trào lưu chủ
nghĩa hiện thực huyền ảo, nhưng sự tham gia của yếu tố huyền ảo vào trong tác phẩm
(…) đã tạo ra nhiều hiệu ứng thẩm mỹ và cảm quan mới về thực tại” [69].
Từ những ghi nhận trên, chúng tôi có thể kết luận như sau: Thứ nhất, yếu tố
huyền ảo được dùng trong văn học, đặc điểm của yếu tố huyền ảo trong văn học là sự
kết hợp giữa thực và ảo, người và ma (hay thần, tiên) bất phân, sử dụng môtip dân gian
hoặc biểu tượng ám thị, không gian thực - ảo hòa quyện, trật tự thời gian bị xáo trộn,
kể chuyện đa chủ thể. Thứ hai, dù văn học Việt Nam chưa hình thành Chủ nghĩa hiện
thực huyền ảo nhưng yếu tố huyền ảo vẫn xuất hiện trong từng tác phẩm, ở từng giai
đoạn, khi nhà văn kết hợp giữa chất liệu lịch sử đời sống và những điều hoang đường,
huyền bí nhằm thể hiện một dụng ý, ám dụ nghệ thuật.
1.1.2. Phân biệt “kì ảo” và “huyền ảo” trong văn học
1.1.2.1. Thuật ngữ “kì ảo” cũng có hai từ tố: “kì” (奇) và “ảo” (幻).
Cũng theo Từ điển Hán - Việt ( thì Từ điển phổ thông
định nghĩa từ tố “kì” là “kì lạ, lạ lùng”.

Từ những quan niệm trên, có thể thấy các tác giả cơ bản thống nhất rằng “kì ảo”
là cái không có thật, được con người tưởng tượng hay cảm nhận bằng cảm quan siêu
nhiên, và kì ảo trong văn học tạo ra khoái cảm sợ hãi cho người đọc.
1.1.2.2. Về phân biệt giữa “kì ảo” và “huyền ảo”, Lê Huy Bắc trong công trình
Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và Gabriel Gárcia Márquez đã tổng kết và trình bày các
vấn đề về cái kì ảo - tác giả gọi là cái huyễn ảo. Theo đó, ông dùng thuật ngữ “văn học
huyễn ảo” để bao quát các dạng thức văn học thần ma, gothic, kinh dị, ma quỷ, phi
thường, siêu nhiên, kì ảo và huyền thoại. Văn học huyễn ảo xuất hiện từ khi con người
biết sáng tác văn chương, tuy nhiên nó là một trào lưu chứ không thể là một thể loại
[5, tr.15]. Sau đó, Lê Huy Bắc trình bày các giai đoạn của văn học huyễn ảo như sau:

STT

Thời
gian

Đặc điểm

Tên gọi

Tác giả

Quan niệm về

Thái độ

cái huyền ảo

về cái



XIV -

(the

XIX

fantastic)

Văn học
kì ảo

Khuyết
danh

Shakespear,
Hoffmann,
Poe, Balzac

Ma quỷ, siêu
nhiên, thần

Không sợ

bí,... là ta
Ma quỷ, siêu
nhiên, thần
bí,... không

Sợ hãi

vừa không

sợ

phải là ta

Có thể thấy bảng hệ thống của nhà nghiên cứu Lê Huy Bắc khá rõ ràng và mạch
lạc, khái niệm “huyễn ảo” đã bao quát được các dạng thức mà những nhà nghiên cứu
trước đây ít nhiều đề cập đến ở nhiều chừng mực, mức độ. Nhưng trong quan niệm của
mình, Lê Huy Bắc đã đồng nhất “kì ảo” và “huyền ảo” (hay còn gọi là “huyễn ảo”) và
cho rằng văn học huyền ảo chỉ xuất hiện từ thế kỷ XX.
Trong Cái kì ảo trong văn học tiền hiện đại và cái huyền ảo trong văn học hậu
hiện đại, Phan Tuấn Anh là người đưa ra sự phân biệt giữa “huyền thoại”, “kì ảo” và
“huyền ảo”:
Chúng ta cần phân biệt cái huyền thoại (mythical), cái kì ảo (fantastic) và cái
huyền ảo (magical) trong nghiên cứu “văn học huyễn ảo” - với tư cách một kiểu
sáng tác xuyên suốt tiến trình văn học, có đặc trưng nghệ thuật là sự hòa quyện
giữa cái thực và cái ảo. Theo đó, đặc tính thẩm mỹ tương ứng của giai đoạn phát
triển của kiểu sáng tác văn học huyễn ảo là: huyền thoại: không sợ hãi; kì ảo: sợ
hãi; huyền ảo: vừa sợ lại vừa không sợ, mang tính giễu nhại [69].


15

Từ những quan điểm trên, chúng tôi thấy, vấn đề khái niệm “kì ảo” và “huyền
ảo” về cơ bản một số nhà nghiên cứu cho là giống nhau, chỉ khác tên gọi cho từng giai
đoạn văn học kì ảo nói chung. Về điểm này, chúng tôi đồng tình với nhận định của Lê
Huy Bắc, và xem đây là cơ sở lí luận để chúng tôi nghiên cứu đề tài. Nhưng trong
phạm vi đề tài, chúng tôi không bàn đến trào lưu hay giai đoạn văn học kì ảo mà chỉ
xét yếu tố huyền ảo trong truyện, ký Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX. Xét về khái niệm,

tư tưởng Nho - Phật - Đạo
Ở mỗi thời đại, con người đều có cách cảm thức về thế giới riêng của mình. Điều
đó hình thành nên thế giới quan của họ. Do điều kiện lịch sử và đời sống, nhận thức
của con người thời trung đại không giống với ngày nay. Thế giới quan của con người
trung đại còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của thế giới quan thời cổ đại, họ quan niệm
vạn vật trong thế giới là một chỉnh thể.
Phương Đông có nhiều học thuyết ra đời (Dịch học, Nho giáo, Phật giáo và Đạo
giáo) có quan niệm về thế giới khác nhau nhưng tựu trung lại vẫn xem thế giới là
thống nhất và con người chỉ là một phần trong đó.
Ở Việt Nam, thế giới quan trung đại chịu ảnh hưởng chủ yếu của phương Đông
(tư tưởng Nho - Phật - Đạo) nhưng vẫn giữ được tín ngưỡng dân gian bản địa.
Về tín ngưỡng dân gian, Việt Nam vốn là một nước nông nghiệp, dân tộc sống
bằng nghề lúa nước nên phần lớn phụ thuộc vào thiên nhiên. Trong nhận thức của
người Việt cổ chưa có thế giới quan cụ thể mà chỉ có những tín ngưỡng nguyên thủy.
Nói về tín ngưỡng dân gian người Việt, Phạm Kế trong Dân tộc và Tâm hồn Việt Nam
cho rằng:
Thờ cúng là một nét đặc trưng của dân tộc và con người Việt Nam, là đạo đức,
nhân sinh quan của Người Việt Nam xưa và tồn tại cho đến ngày nay.
Người ta cho rằng ngoài thế giới thực tại còn có thế giới khác. Đó là thế giới
“Thần linh” “đi mây về gió”, còn thế giới “trần gian” là người trần mắt thịt,
chưa thể biết được, hiểu được thế giới thần linh [41, tr.87].

Ông còn cho rằng thế giới thần linh có quan hệ với thế giới thực tại và chia làm
“Thiên đường”, “trần gian”, “địa ngục”. Quan niệm này ảnh hưởng đến thế giới quan
của người Việt thời trung đại.
Trước hết, trong điều kiện địa lí sinh thái khó khăn, con người luôn trông chờ
vào những điều tốt đẹp từ thiên nhiên nên thờ các vị thiên thần, nhiên thần: thần mặt
trời, thần nước, thần sông, thần mây, thần mưa, thần sấm,… Ngoài ra, để tạo nên môi



thần trong tín ngưỡng Việt Nam. Mặt khác, đi liền với việc trồng lúa nước và các hoạt
động sinh sống khác, với quan niệm nghề nông cần phải có mùa màng tươi tốt và con


18

người được sinh sôi nảy nở nên tín ngưỡng phồn thực xuất hiện; con người thờ cả biểu
tượng sinh thực khí nam nữ và biểu tượng của hành vi tính giao (các hình nam nữ đang
giao phối được khắc trên mặt trống đồng tìm được ở làng Đào Thịnh (Yên Bái), có
niên đại 500 trước Công nguyên). Đây là một tín ngưỡng khá lý thú, có ở khắp nơi trên
thế giới, nhưng chủ yếu là ở Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Tín ngưỡng phồn
thực đi vào văn học, thể hiện ở những chi tiết người và thần có thể giao hoan, lí giải sự
thụ thai thần kì (ướm bàn chân hoặc uống nước thụ thai, mơ giao hoan với thần linh
hoặc các con vật giao hoan với con người,…).
Không chỉ thế, người Việt Nam còn thờ vật thiêng. Đầu tiên, người Việt thờ thần
lúa với nhiều lễ nghi, lễ hội liên quan đến việc trồng lúa nhằm tôn vinh hạt giống đem
lại mùa màng, lương thực cho nhân dân. Theo Nghiêm Đa Văn, văn học dân gian Việt
Nam còn có cả hệ thống huyền thoại ngàn mùa lúa nước, tức là hệ thống huyền thoại
gắn với hoạt động trồng lúa nước của người Việt. Bên cạnh đó, người Việt còn thờ cả
những vật gần gũi với cuộc sống con người như: thần cây đa, thần cây cổ thụ, thần cây
thị, thần giếng,… với quan niệm bất kì vật nào sống lâu năm đều có linh hồn. Nguyễn
Ngọc Chương trong Trầu cau, Việt Điện Thư đã nâng trầu cau thành một biểu tượng
thần thoại và cho rằng người Việt Nam sinh ra từ nguồn gốc Trầu và Cau [9, tr.18].
Các con vật như trâu, chim, rắn, ngựa, voi,... gần gũi với đời sống nông nghiệp cũng
được thờ như thần. Người dân còn đẩy các con vật lên thành mức biểu trưng như Tứ
linh (Long - Lân - Quy - Phụng) hay Tiên - Rồng. Theo truyền thuyết Lạc Long Quân
và Âu Cơ thì tổ tiên người Việt thuộc “họ Hồng Bàng” (có nghĩa là một loài chim nước
lớn), thuộc giống “Rồng Tiên”. Tiên được tín ngưỡng hóa từ giống chim của người
Việt cổ ở miền núi. Rồng được biểu tượng hóa từ loài rắn và cá sấu vùng sông nước.
Sự kết hợp rắn - chim, tiên- rồng đã tạo nên dòng dõi thần linh của người Việt - dòng

bổ sung cho văn học những câu chuyện truyền thuyết có giá trị.
Đặc biệt, người Việt Nam còn thờ những dâm thần, tà thần vì cho rằng đây là
những linh hồn không siêu thoát, thường lang thang ở hai cõi và gieo rắc bệnh tật, tai
nạn cho con người. Theo quan niệm chính thống thì loại thần này không được thờ
nhưng nhân dân ta vẫn thờ ở những am, miếu khắp các đầu đường, góc cây, bến
nước,… Việc thờ này cho thấy niềm tin vào linh hồn, người Việt tin ma quỷ là có thật,
vừa thể hiện tâm lý lo sợ “người sao, ma vậy”, “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”;
vừa thể hiện đạo đức, sự tôn trọng của người sống đối với người chết.
Trong tín ngưỡng Việt Nam, thờ luôn đi liền với cúng, nên tín ngưỡng dân gian
của người Việt được biểu hiện thành các nghi thức tế lễ: lễ đảo vũ, lễ cúng trăng, lễ tế


Trích đoạn Chuyện về con vật Xây dựng nhân vật huyền ảo Không gian thự c ảo Thời gian thự c ảo Vận dụng môtip dân gian
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status