Yếu tố kì ảo trong truyện
ngắn Việt Nam sau 1975
1. Chung quanh khái niệm "Kỳ ảo"
Trong những năm gần đây, các nhà xuất bản liên tục in nhiều tuyển tập
truyện ngắn được lựa chọn dựa trên một tiêu chí chung là có sử dụng yếu tố ảo
trong sáng tác Truyện kỳ ảo thế giới (Nxb. Văn hóa, Hà Nội 1999), Truyện ngắn
kinh dị (Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1997), Truyện dị thường (Nxb. Văn hóa Thông
tin, 2002)
Bên cạnh thuật ngữ "Văn học kỳ ảo", chúng ta còn gặp các thuật ngữ như
"Truyện kinh dị", "Truyện quái dị", "Truyện ma", "Truyện ma quái", "Truyện
huyễn tưởng" và nhiều khi chúng chưa được phân biệt một cách rạch ròi. Ngô
Tự Lập trong bài giới thiệu tuyển tập Truyện kỳ ảo thế giới đã cho rằng những
thuật ngữ trên Nếu nghiên cứu kỹ sẽ thấy ít nhiều gần gũi với một thuật ngữ tiếng
Pháp là "Litérature fantasticque". Về phương diện từ ngữ, "fantasticque" có
nguồn gốc từ từ "fantasie", chỉ những tác phẩm mang tính phóng túng, không tuân
theo quy luật. Các nhà lãng mạn chủ nghĩa đã mở rộng nghĩa của từ này là "ảo, kỳ
ảo, tưởng tượng". Trong giới nghiên cứu văn học của Việt Nam cũng đã xuất hiện
một số thuật ngữ hay được sử dụng như "cái huyễn tưởng", "cái truyền kỳ" và
phần lớn đã thống nhất cách dịch "cái kỳ ảo" cho từ "fantasicque" và đi liền với nó
là khái niệm "văn học kỳ ảo".
Hầu như trong nền văn học của bất kỳ dân tộc nào cũng đều có một dòng
truyện kỳ ảo xuất hiện khá sớm, bắt nguồn từ những ảnh hưởng của nền văn học,
tín ngưỡng chung và riêng trong khu vực và cả những truyền thống folklore lâu
đời của đất nước mình. Ở Việt Nam, các câu chuyện có sử dụng yếu tố kỳ ảo từ
xưa đã trở thành niềm say mê của người đọc nhiều thế hệ. Nhà văn kể chuyện lạ,
dùng cái kỳ ảo, khác thường như những biện pháp nghệ thuật để phúng dụ răn đời
và cũng để hấp dẫn, lôi cuốn người đọc Không chỉ là những người dân lao động
lưu truyền trong dân gian những câu chuyện lạ hay chuyện ma đầy huyễn hoặc mà
các nhà trí thức thuộc tầng lớp trên cũng bị lôi cuốn vào việc sáng tác những tác
phẩm đầy hư ảo. Lê Thánh Tông với Bài ký một giấc mộng, Tinh chuột, Phạm
Đình Hổ với Mẹ ranh càn sát, Người nông phu ở An Mô, Sông Dùng, Lê Quý Đôn
hoặc tượng trưng ".
Có thể nói, sáng tạo tình huống (hay còn gọi là tình thế - situation) luôn
được coi là khâu then chốt của sáng tác truyện ngắn. Từ người nghiên cứu đến
người sáng tác đều thừa nhận vai trò quan trọng của tình huống đối với sự thành
công của truyện ngắn. Tình huống là những thời khắc tiêu biểu (có người gọi là
khoảnh khắc, chốc lát ) trong cuộc sống của con người. Tại thời khắc đó, nó đã
bộc lộ cái bản chất trong quan hệ giữa các tính cách, giữa nhân vật với hoàn cảnh
và thể hiện sâu sắc chủ đề của tác phẩm.
Trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975, sự xuất hiện của yếu tố kỳ ảo đã góp
phần tạo ra những phương diện mới trong tình huống truyện: tình huống kỳ lạ, ma
quái; tình huống ngẫu nhiên, đột biến; tình huống căng thẳng, kịch tính
Tính chất kỳ lạ, ma quái là một trong những đặc điểm khá nổi bật của tình
huống trong các truyện kỳ ảo. Ở nhiều tác phẩm, tình huống truyện rất khác
thường. Một người đàn ông choàng tỉnh lúc nửa đêm về sáng, thấy bông hoa đại
trắng trên tờ lịch "Ai đó tặng vào chiều tất niên" đã biến mất, "Chỉ còn lại hình hài
của nó đen mờ hư ảo" (Hoa đại trắng- Đức Ban). Sự biến mất lạ lùng của bông
hoa đại đã đánh thức quá khứ mà người đàn ông bội bạc với vợ để chạy theo một
cô gái trẻ đẹp. Thời khắc anh ta nhận ra sự biến mất ấy cũng là lúc người vợ cũ lên
cõi Niết Bàn. Hoa đại trắng thể hiện sự lặng thầm và nghiêm khắc để nhân vật
phải tự nhìn nhận lại chính bản thân mình với tất cả sự ăn năn sám hối. Tình
huống trong truyện Hoa lạ của Nguyễn Đình Bổn lại là sự xuất hiện của một giò
lan, với hương thơm ngào ngạt quyến rũ. Cành hoa đó là sự hiện thân của cô thư
ký bất hạnh nhập hồn vào đó để trả thù ông chủ, kẻ đã giết mình. Truyện ngắn Tim
vỡ của nhà văn Võ Thị Hảo, kể về sự tích về một loài hoa "Bé nhỏ, màu hồng,
mang hình trái tim vỡ". Nhà văn đã dựng nên một tình huống khác lạ: bức tượng
gỗ biến thành người đẹp. Cả ba người đàn ông tạo nên người đẹp đều muốn có
được nàng và liên tục đòi quyền sở hữu của họ. Nhưng khi cô gái tự hủy hoại nhan
sắc lộng lẫy của mình, tất cả đều quay lưng và lìa bỏ cô.
Khai thác yếu tố kỳ lạ và hư ảo, nhiều nhà văn đã sử dụng những giấc mơ
trong tạo dựng tình huống truyện. Tác giả Lã Thanh Tùng trong Giấc mộng tâm
ảo" được nhà văn sử dụng để tái tạo hiện thực có liên quan đến khái niệm "gián
cách nghệ thuật". "Gián cách nghệ thuật" là một phương pháp do nhà soạn kịch
Đức Bertolt Brecht sáng tạo ra. Cốt lõi của phương pháp này là biến sự vật quen
thuộc, thông thường thành xa lạ, kỳ quái để người ta hiểu rõ sự vật ấy hơn.
Nếu có thể nói thì "cái kỳ ảo" trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có
những "xiêm áo" sặc sỡ từ huyền thoại, truyền kỳ, giả cổ tích. Có loại huyền thoại
hiện đại như Huyền thoại phố phường, Tướng về hưu, Con gái thủy thần. Có loại
"giả cổ tích" như Những ngọn gió Hua - Tát (gồm mười truyện: Trái tim hổ, Con
thú lớn nhất, Nàng Bua, Tiệc xòe vui nhất, Sói trả thù, Đất quen, Chiếc tù và bị bỏ
quên, Sạ, Nạn dịch, Nàng Sinh). Ngay những truyện được viết gần đây nhất của
Nguyễn Huy Thiệp cũng mang tính chất "huyền thoại hiện đại" - như Quan Âm chỉ
lộ (2005).
Nhà văn tạo ra một tình huống truyện rất bình thường - pho tượng Quan Âm
chỉ lộ bị đánh cắp, rồi tìm lại được. "Tôi cẩn thận đặt bức tượng lên trên bàn thờ.
Trên khuôn mặt Quan Thế Âm Bồ Tát hình như có một giọt nước mắt trong veo lăn
xuống khóc cho số phận trớ trêu của mỗi con người".
Trong truyện Sang sông, Nguyễn Huy Thiệp đã tạo ra một tình huống có ý
nghĩa tượng trưng, đậm chất kỳ ảo. "Chú bé đút tay vào trong miệng bình. Thiếu
phụ hốt hoảng.
- Này con! Khéo không rút tay được ra thì khốn!
Có lẽ lời nhắc nhủ của thiếu phụ chính là lời của tạo hóa, ở đấy chứa cả nỗi
căm uất quá khứ
Chú bé loay hoay. Hình như miệng của chiếc bình bé lại. Chú bé mếu máo
( ). Mọi người trong đò rối rít cả lên. Chú bé không sao rút tay ra được miệng
bình". Kết truyện này, chỉ có một người không "sang sông" - đó là nhà sư vì
"Không sao! Muốn đi là được. Ngày xưa đức Bồ Đề Lạt Ma còn sang sông trên cả
một cọng cỏ cơ mà".
Sang sông, có thể nói là truyện tiêu biểu của Nguyễn Huy Thiệp đã đưa "cái
kỳ ảo" trở thành như một phương thức tái hiện đời sống trong dạng "khác thực",
"siêu thực".
sẽ đến với cái gia đình luôn thèm khát đồng tiền? Kết cục nào xứng đáng cho
những kẻ vì tiền mà dẫm đạp lên đạo lý, tình người? (Anh lính Tony Đ - Lê Minh
Khuê). Phát hiện ra manh mối của con chuột chúa, nguyên nhân gây nên mùa
màng thất bát, liệu ông Lẫm Cùi có tiêu diệt được nó? (Con chuột lông vàng -
Nguyễn Quang Thiều)? Cô bé nhỏ làm vật tế thần rừng có chiến thắng được
những "ông hổ" để trở về với cuộc đời không? (Con hổ mun - Đặng Thư Cưu).
Người đọc tò mò, cuốn theo những tình thế gay cấn của câu chuyện, chờ đợi,
mong biết kết cục cuối cùng.
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, trong nhiều truyện ngắn đương đại, cái
kỳ ảo đóng vai trò như một tình huống quan trọng đối với sự chuyển biến của cốt
truyện. Nó gắn kết các nhân vật cùng tham gia một sự kiện, biến cố có ý nghĩa nào
đó, góp phần bộc lộ quan hệ và tính cách các nhân vật hoặc thể hiện chủ đề tư
tưởng của tác phẩm. Qua những khảo sát sơ bộ ở trên đã phần nào cho thấy sức
hấp dẫn từ các tình huống truyện kỳ ảo hiện đại, do vậy, không hề thua kém những
tác phẩm truyền kỳ hay tiểu thuyết chương hồi trung đại. Và một điều không kém
phần quan trọng nữa là cái kỳ ảo đã xây dựng được những tình huống truyện mang
hơi thở của những tác phẩm dân gian, nhờ thế đã tạo nên sự gần gũi với tập quán
thưởng thức văn học nghệ thuật của người Việt Nam