Báo cáo nghiên cứu
khoa học:
"Sự gia tăng của yếu tố
kỳ ảo trong truyện
ngắn Việt Nam từ 1986
đến nay - nhìn từ cội
nguồn truyền thống"
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 1b-2009 5
sự gia tăng của yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn Việt
Nam từ 1986 đến nay- nhìn từ cội nguồn truyền thống
đinh Trí Dũng
(a)Tóm tắt. Gia tăng yếu tố kỳ ảo đã trở thành một xu hớng vận động của truyện
ngắn Việt Nam sau 1986. Bài viết của chúng tôi đi sâu làm rõ mối quan hệ giữa yếu
tố kỳ ảo trong truyện ngắn hiện nay với các yếu tố thần kỳ, kỳ ảo trong văn học
biểu xuất hiện sau 1975, tác giả
Nguyễn Minh Hồng đã thống kê đợc
50 truyện ngắn mà ở đó có sự tham gia
của yếu tố kỳ ảo ở những mức độ khác
nhau (1). Bùi Việt Thắng đã chính xác
khi khẳng định một đặc điểm của
truyện ngắn sau 1986: Đã tái xuất loại
truyện ngắn kỳ ảo trong đó yếu tố
huyễn tởng đã nâng cao trí tởng
tợng của nhà văn, từ đó giúp bạn đọc
khám phá sâu hơn thực tại (2). Trong
bài viết này, chúng tôi cũng dùng khái
niệm cái kỳ ảo- tơng đơng với
Fantastisque của phơng Tây, khái
niệm này khi chuyển sang tiếng Việt,
các dịch giả thờng dịch là kỳ ảo, kỳ dị,
huyễn tởng, huyền ảo Có lúc nó còn
đợc mở quá rộng biên độ thành Truyện
ma, truyện kinh dị. Thuật ngữ này có
nguồn gốc từ cái tên La tinh là
Fantasticus, đợc Ampère - nhà phê
bình văn học Pháp đa ra khoảng năm
1828 nhằm giới thiệu với độc giả về
Hoffmann, một nhà văn cha hề có tên
tuổi ở Đức lúc ấy. (Theo chúng tôi,
không nên lạm dụng khái niệm kỳ ảo
để chỉ mọi sáng tác mà ở đó có sự tham
gia của yếu tố ảo, yếu tố ma quái. Nếu
mục đích chỉ là gợi sự hiếu kỳ, tò mò,
thậm chí khiếp đảm, nhà văn rất có thể
pháp tơng đồng với các thủ pháp của
truyện kỳ ảo thế giới. Chảy đi sông ơi,
Con gái thuỷ thần, Trơng Chi (Nguyễn
Huy Thiệp), Sự tích ngày đẹp trời (Hoà
Vang), Hồn trinh nữ (Võ Thị Hảo), Th
gửi mẹ Âu Cơ (Y Ban), Con hổ mun
(Đặng Th Cu) đã ảo hoá không -
thời gian, dùng những hình tợng thần
thoại và folklore đã đợc cải biến để tạo
ra những nhận thức bất ngờ cho ngời
đọc. Nghệ thuật sử dụng cái nghịch dị
(Grotesque) đợc vận dụng để thể hiện
những nét dị biệt, khác thờng ở nhân
vật. Nguyễn Minh Châu là ngời sớm
đa cái dị biệt vào văn học với nhân
vật Quì (Ngời đàn bà trên chuyến tàu
tốc hành), lão Khúng (Phiên chợ Giát
và Khách ở quê ra). Mô típ nhân vật
hoá thân, nhân vật biến dạng đợc
thể hiện khá thành công thể hiện
những suy t sâu sắc về sự méo mó, què
quặt ở con ngời: Lão Khúng có lúc thấy
mình hoá thành con bò Khoang Đen.
Lão còn thấy con cái mình dờng nh
không còn là con lão mà là con của loài
cầy cáo, trăn beo nào đấy. Trong Lên
ruồi của Đoàn Lê, nhân vật trong cơn
sốt nhà đất đã biến thành ruồi ngay
trớc mắt đồng nghiệp và gia nhập vào
thế giới ruồi và ở đó anh ta cũng không
sử dụng nó, không bao giờ chịu quên tổ
tiên của nó dù đã lùi rất xa vào thời
viễn cổ (3). Còn Nguyễn Tuân thì nói
đến cái gen của thể loại. Có thể thấy
mối dây liên hệ bền chặt giữa các yếu tố
kỳ ảo của văn học sau 1986 với thần
thoại, cổ tích, đặc biệt là với truyền
thống văn xuôi trung đại với hàng loạt
tác phẩm kiểu chích quái, truyền kỳ
nh Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích
quái, Thánh Tông di thảo, Truyền kỳ
mạn lục, Truyền kỳ tân phả Các tác
phẩm này thờng đem đến cho ngời
đọc một không khí hoang đờng, lạ
lùng, với những thần, phật, yêu quái,
hồn ma nhan nhản khắp nơi đang
hàng ngày, hàng giờ can thiệp vào cuộc
sống con ngời. Các tác giả truyền kỳ,
bên cạnh niềm tin nhất định vào những
yếu tố siêu nhiên còn chủ yếu muốn
dùng cái kỳ ảo nh một thủ pháp để thể
hiện những nghịch cảnh trớ trêu,
những số phận bi kịch, đồng thời để
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 1b-2009 7
lẽ cho đến nay, cha có nhà văn hậu
sinh nào vợt đợc Nguyễn Tuân với
những tác phẩm ma quái, rùng rợn kiểu
Liêu trai nh Xác ngọc lam, Lửa nến
trong tranh, Chùa đàn Sau cách
mạng tháng Tám, với truyền thống
nhấn mạnh tính hiện thực, tính tuyên
truyền, tính chính trị, các yếu tố kỳ ảo
có lúc bị xem nh mê tín, dị đoan, phản
duy vật. Vì thế nó dần dần trở nên lạc
loài trong đời sống văn học. Sau thắng
lợi mùa xuân 1975, đặc biệt là sau
1986, yếu tố kỳ ảo lại dần dần xuất hiện
trở lại, ngày càng sâu đậm, phản ánh sự
vận động mang tính qui luật, khi chúng
ta biết rằng hiện thực cuộc sống và nội
tâm con ngời luôn luôn chứa đựng
những điều bí ẩn và kỳ lạ, những điều
bí ẩn ấy không bao giờ cả khoa học lẫn
văn chơng có đợc lời giải đáp cuối
cùng.
Đọc các truyền ngắn kỳ ảo sau
1986, ngời ta dễ dàng nhận ra mối dây
liên hệ bền chặt với truyền thống.
Truyện ngắn kỳ ảo Việt Nam không
nhiều những tình tiết giống truyện kỳ
ảo thế giới nh ký giao kèo với quỉ,
tiếng hú trong đêm, xác chết gõ cửa,
ứng nghiệm của lời phù chúNgợc lại,
truyện kỳ ảo của ta thờng tìm về với
Anh, Lý Lan, Ngô Văn Phú, Ngô Tự
Lập cũng đã tạo ra trong nhiều
truyện ngắn những tình huống, những
nhân vật bảng lảng sơng khói, với
những mô típ quen thuộc của dân gian
đinh Trí Dũng sự gia tăng của yếu tố kỳ ảo trong truyện , tr. 5-8 8
và văn xuôi truyền kỳ trung đại nh âm
dơng gặp gỡ (Hoa lạ - Nguyễn Đình
Bổn, Miêu Cẩm - Lu Sơn Minh, Cặp bồ
với ma - Ngô Văn Phú, Giấc mộng tâm
giao - Lã Thanh Tùng); mô típ báo ân,
báo oán (Xác chết trả thù - Ngô Tự Lập,
Huyền thoại về ngời đẹp - Kiều Bích
Hậu, Bớm trắng - Ngô Văn Phú, Ngời
cùng phố - Nguyễn Anh Th); môtip sự
lạ nh cô bé mồ côi nhỏ bé nhấc đợc
hòn đá nặng cha từng ai nhắc nổi
(Nàng Sinh - Nguyễn Huy Thiệp), bông
đại trắng trên tờ lịch bỗng biến mất
(Hoa đại trắng - Đức Ban). Quan niệm
về sự sống của linh hồn sau khi chết,
quan niệm về mối liên thông cõi âm và
cõi dơng, quan niệm thiện giả thiện
Tài liệu tham khảo
[1] Nguyễn Minh Hồng, Yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975, Luận
văn thạc sĩ, Trờng Đại học Vinh, 2002.
[2] Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, NXB Giáo dục, 2004, tr. 341.
[3] Nguyễn Đăng Mạnh, Lời giới thiệu Yêu ngôn, NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 2000, tr. 11.
[4] TN. Philimonova, Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội,
2001, tr. 59. SUMMARY
The INCREASE OF FANTASY IN VIETNAMESE SHORT STORIES
FROM 1986 UP TO NOW in the perspective of TRADITIONAL POSITION
Increase of fantanstic character has become a evident tendency of Vietnamese
short stories in the period from 1986 up to now. The paper deals with the
relationship between fantanstic character in contemporary short stories and the one
in the middle time and the period from 1930 up to 1945 literature in the order to
define indispensable movement of literature development.
(a) khoa ngữ văn, trờng đại học vinh.