PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ngay từ thuở nguyên sơ của loài người, văn học đã trở thành một điểm
tựa để con người có thể thả hồn trong sức tưởng tượng vô cùng phong phú.
Đứng trước những sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan, con người
luôn muốn được tìm tòi, khám phá song do nhận thức của người xưa còn bị
hạn chế nên khi lí giải về thế giới, họ lại khoác lên đó một tấm màn huyền bí,
thần thánh. Như vậy, yếu tố kì ảo tự bao giờ đã là những bông hoa được đan
cài vào trong nhiều sáng tác văn học của nhân loại từ ở buổi bình minh của
lịch sử. Khi trình độ nhận thức ngày càng được nâng lên, con người không
còn tuyệt đối hoá tin vào những lực lượng siêu nhiên nữa. Hình tượng trung
tâm trong văn học là những con người với những mối quan hệ ngày càng
phức tạp thay vì những ông Thần, bà Thánh như trước đây. Yếu tố huyền ảo,
kì ảo mặc dù dần lui vào một chỗ đứng khiêm nhường nhưng cũng không vì
thế mà mất đi vai trò thú vị của mình. Sức mạnh của yếu tố kì ảo đã được
minh chứng bằng sự hồi sinh của nó trên văn đàn đương đại khi mà loài
người không còn phải mượn đến các yếu tố thần kì để lí giải, để chiếm lĩnh
thế giới.
Làn gió đổi mới của Đảng ta vào năm 1986 đã như một chiếc đòn bẩy
làm văn học Việt Nam chuyển mình một cách khá toàn diện. Nghị quyết 05
của Bộ chính trị khóa VI (1987) đã đem lại một cách nhìn mới về vị trí, chức
năng của văn nghệ. Mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật và chính trị được
đem ra thảo luận công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng nhờ vậy
mà người cầm bút có thêm bản lĩnh. Nhà văn giờ đây được viết nhiều hơn,
đặc biệt với những mảng đề tài trước đây bị coi là "nhạy cảm", bị coi là
"vùng cấm". Vũ Quần Phương trong Hội nghị Những người viết văn trẻ Hà
Nội lần thứ I diễn ra vào 4/1994 đã phát biểu: "Có thể so với thiên hạ cái
1
mới trong hình thức của chúng ta chưa thật sự là tiên phong nhưng ta so với
chính ta thì sự cách tân lần này là bước tiến dài nhằm đưa văn học ta kịp
hoà nhập bình đẳng với thế giới. Văn chương ta vốn thiên về tình cảm giờ
tố kì ảo nhìn nhận nó như một phương thức nghệ thuật được thể hiện khá nổi
bật, giàu ý nghĩa trong văn học cũng như tiểu thuyết Việt Nam đương đại.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Tình hình nghiên cứu về yếu tố kì ảo trong Văn học
Cho đến nay, các công trình nghiên cứu về yếu tố kì ảo trong văn học
khá nhiều, song phần lớn chỉ tập trung ở các bài báo, tạp chí:
GS Phùng Văn Tửu trong bài viết: "Những hướng đổi mới của văn học
kì ảo thế kỉ XX" cho rằng: "Kì ảo trong tiếng Việt là một từ Hán Việt; kì là lạ
lùng; ảo là không có thật, không thể bắt gặp trên thế gian này, nói chung là
cái siêu nhiên, nếu ta hiểu cái siêu nhiên là những gì không tồn tại ở trên
đời" [II. 32]. PGS. TS Vũ Thanh khi xem xét: "Những biến đổi của yếu tố kì
và thực trong truyện ngắn truyền kì Việt Nam" đã đưa ra ý kiến: "Trong
truyện truyền kì các tác giả sử dụng yếu tố kì không phải chỉ với chức năng
là vỏ bọc, che đậy dụng ý sâu xa của nhà văn mà còn với tư cách là một bút
pháp nghệ thuật mang tính đặc trưng của thể loại. Các tác giả phản ánh hiện
thực qua cái kì lạ" [II. 17]. Như vậy tác giả đã nhìn nhận yếu tố kì ảo với tư
cách là một phương thức nghệ thuật.
PGS. TS Nguyễn Văn Dân cho rằng: "Văn học huyễn tưởng là những
truyện hay tiểu thuyết viết về cái lạ lùng, cái li kì, gây hồi hộp và có sức hấp
dẫn cao Ở huyễn tưởng thì cái hư bao giờ cũng xen lẫn cái thực. Hai cái đó
ràng buộc nhau, kết hợp vời nhau và có khi chuyển hóa lẫn nhau" [I. 7]. Từ
đây, nhà nghiên cứu đã đi đến nhận định huyễn tưởng là một hình thái nhận
thức thẩm mĩ dùng thủ pháp kết hợp hư thực để thể hiện tư tưởng tác giả.
Cùng tiếp cận cái kì ảo ở phương diện thủ pháp nghệ thuật như tác giả
3
Nguyễn Văn Dân, nhà nghiên cứu Nguyễn Trường Lịch có nhận xét như sau:
"Cái kì ảo là một trong những yếu tố góp phần làm phong phú thêm cách
tiếp cận hiện thực Đối với nhà văn, huyền thoại không tồn tại tự nó, họ
dùng chúng như những hình tượng hoang đường để khắc họa quan niệm của
con người về cái thế giời mà nhà văn mô tả chứ không phải để giải thích
2.2. Tình hình nghiên cứu về yếu tố kì ảo trong Văn học Việt Nam sau 1975
Từ khoảng cuối những năm 40 đến giữa những năm 80 của thế kỉ
trước, nền văn học Việt Nam hầu như vắng bóng yếu tố kì ảo, có lẽ chính
phương pháp sáng tác Hiện thực chủ nghĩa đã ngăn cản sự có mặt của những
yếu tố này. Nhưng nhờ làn gió dân chủ, đổi mới mà Đại hội Đảng 1986 đề
ra đã mở đường cho sự hồi sinh của yếu tố kì ảo trong sáng tác văn học. Quả
vậy, không mấy khó khăn khi tìm ra những tác phẩm được bao phủ một bầu
không gian huyền ảo, siêu thực, thậm chí có những nhà văn mà tên tuổi của
họ gắn liền với kiểu sáng tác này như: Thu Bồn, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh
Thái, Ngô Tự Lập, Nguyễn Bình Phương, Chính vì sự hấp dẫn của cái kì
ảo, đặc biệt với sự trở lại của nó trên văn đàn nên đã có nhiều công trình
nghiên cứu về cái kì ảo trong văn học Việt Nam 1975 như: Luận án TS của
Bùi Thanh Truyền: "Yếu tố kì ảo trong văn xuôi đương đại Việt Nam"- 2006;
Luận văn Thạc sĩ: "Yếu tố kì ảo trong truyện ngắn hiện đại sau 1975"- 2007
của Phùng Hữu Hải đã khẳng định sự hồi sinh mạnh mẽ của yếu tố kì ảo
trong văn học đương đại do "được hậu thuẫn bởi những nguyên nhân khách
quan và chủ quan nhất định"; Trên Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 5 - 2008
có bài viết: "Yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975" của TS
Phạm Thị Thanh Nga (Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Nghệ An).
Cũng phải kể thêm bài viết: "Thực và ảo trong truyện ngắn Haruki
Murakami" trong Tuyển tập báo cáo Hội nghị Sinh viên nghiên cứu khoa học
5
lần thứ 6 - Đại học Sư phạm Đà Nẵng năm 2008. Ngoài ra còn có: "Đỗ
Hoàng Diệu trong không gian cổ tích huyền ảo" là bài viết của Thụy Khuê trên
http://www.thuykhue.free.fr (Báo Hợp lưu - số 91 ra tháng 10 - 2006).
2.3. Tình hình nghiên cứu về yếu tố kì ảo trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
Trong sự vận động chung của nền văn học Việt Nam sau 1986, tiểu
thuyết đã nỗ lực chuyển mình, đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại.
Chưa bao giờ những quan niệm mới về nhà văn, về hiện thực và về con
người lại cởi mở, lại dân chủ như lúc này. Nhiều cây bút tiểu thuyết đã có ý
hối - Tạ Duy Anh. Song, tất cả những ý kiến, những nhận định trên sẽ là
những gợi ý hết sức quan trọng giúp chúng tôi thực hiện đề tài của mình.
3. Đối tượng - Phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Xem xét yếu tố kì ảo như là một phương thức nghệ thuật quan trọng thông
qua những biểu hiện phong phú, đa dạng cũng như giá trị thẩm mĩ của chúng
trong ba tiểu thuyết: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh); Mảnh đất lắm người
nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường) và Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh).
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi chủ yếu tập trung khảo sát phân tích Yếu tố kì ảo trong ba tiểu
thuyết Thân phân tình yêu - Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh); Mảnh đất lắm
người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường) và Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh).
Năm 1991 là năm được mùa của tiểu thuyết Việt Nam, với ba cuốn
tiểu thuyết cùng đoạt giải Nhất của Hội nhà văn là Nỗi buồn chiến tranh của
Bảo Ninh; Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Bến
không chồng của Dương Hướng. So với hai cuốn tiểu thuyết cùng đoạt giải
năm đó, số phận của Nỗi buồn chiến tranh không mấy gì bằng phẳng. Ngay
7
cái tên của cuốn sách, để tạo ra "một vỏ bọc an toàn hơn" (chữ của Nguyễn
Phan Hách) thì nó buộc phải đổi thành: "Thân phận tình yêu"- một cái tên
nghe rất "sến"! Cuốn tiểu thuyết này đã trở thành một "hiện tượng" trên văn
đàn lúc đó, nó ngay lập tức nhận được vô vàn những ý kiến phản hồi từ công
chúng cũng như trong giới nghiên cứu. Nỗi buồn chiến tranh là một trong
những sự ưu tiên hàng đầu trên các tờ báo, tạp chí như: Báo Thanh niên, Hà
Nội mới, Giáo dục và Thời đại; Quân đội nhân dân; Tạp chí Cộng sản, Văn
nghệ quân đội, Văn học, Nha Trang; Tạp chí Văn học và Dư luận Đối với
giới nghiên cứu thì cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh vẫn là một mảnh đất
không ngớt người "đến thăm". Các khoá luận, luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến
sĩ đã tiến hành khảo sát cuốn tiểu thuyết này trên nhiều phương diện như:
Cách xử lí đề tài chiến tranh; Ngôn ngữ nghệ thuật; Dòng hồi ức; Hình tượng
tạo, một thử nghiệm đầy day dứt ( ) mượn đến hiện tượng phi lí về một bào
thai biết suy nghĩ, điều này tạo ra một trường cảm nhận không bình thường,
tạo cho người đọc cái cảm giác đối diện với một bức tranh siêu thực về cuộc
sống và con người hiện đại". Với quan niệm về hiện thực đa chiều, có cái
thiện, cái ác; có thiên thần, có quỉ dữ của Tạ Duy Anh, cuốn tiểu thuyết hơn
một trăm trang này đã tập trung khai thác những mảng tối, những phần chưa
hoàn thiện về hiện thực, một hiện thực đầy ngột ngạt của quyền lực, của cái
chết, của sự đồi bại và do đó nhân vật bị đẩy vào bi kịch. Thiên thần sám hối
đã khơi ngòi cho sự bùng nổ nhiều bài báo, bài phỏng vấn. Đồng thời, sau
khi xuất hiện trên văn đàn nó cũng đã trở thành một trong những miền đất
hứa của các sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh. Thiên thần sám hối đã
được khảo sát trên nhiều bình diện như về vấn đề: Người kể chuyện; Nghệ
thuật xây dựng nhân vật; Tư tưởng nhân đạo; Ý thức tự vấn; Điểm nhìn nghệ
9
thuật Và rằng, với một dung lương không lớn song hiệu ứng mà cuốn tiểu
thuyết trên đã, đang tạo ra cho công chúng là đa thanh, đa chiều.
Ngoài ra, người viết cũng có đề cập đến các tác phẩm văn xuôi có yếu
tố kì ảo trong nền văn học thế giới cũng như văn học dân tộc, đặc biệt là
những tiểu thuyết sau 1975.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi tiến hành sử dụng phối hợp
các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp cấu trúc hệ thống: Đây là phương pháp rất cần thiết
bởi đề tài này quan niệm yếu tố kì ảo là một đặc trưng thẩm mĩ quan trọng, là
đối tượng phản ánh của nhà văn.
- Phương pháp thống kê - phân loại: Để nhận diện những biểu hiện
đa dạng của yếu tố kì ảo trong ba tiểu thuyết trên đồng thời tiến hành
phân loại chúng.
- Phương pháp so sánh: Vì luận văn tiến hành khảo sát yếu tố kì ảo
trong ba tiểu thuyết nên việc đối sánh không thể bỏ qua. Đặt cái kì ảo theo
diện mạo của văn học và tiểu thuyết Việt Nam đương đại.
6.2. Về phương diện thực tiễn
Việc đi sâu tìm hiểu về yếu tố kì ảo trong ba tiểu thuyết trên để đi đến
một số kết luận thỏa đáng nào đó là một dịp rèn luyện của người viết trong
thao tác nghiên cứu khoa học. Và đây cũng là cơ hội để người viết mở rộng
thêm kiến thức, cũng như khả năng thẩm văn của bản thân.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội
dung của luận văn bao gồm 3 chương:
11
Chương 1: Về yếu tố kì ảo trong Văn học
Chương 2: Nội dung của yếu tố kì ảo trong ba tiểu thuyết: Nỗi buồn
chiến tranh của Bảo Ninh; Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc
Trường và Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh
Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện của yếu tố kì ảo trong ba tiểu thuyết:
Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh; Mảnh đất lắm người nhiều ma của
Nguyễn Khắc Trường và Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh
12
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: VỀ YẾU TỐ KÌ ẢO TRONG VĂN HỌC
1.1. Quan niệm về yếu tố kì ảo trong Văn học
1.1.1. Định nghĩa trong các Từ điển
Theo các cuốn từ điển như: Từ điển giải nghĩa của Pháp; Từ điển
Thuật ngữ văn học của Rumani hay Từ điển Pháp - Việt thì nội hàm thuật
ngữ Cái kì ảo được xác định như sau: "Cái kì ảo là sản phẩm của trí tưởng
tượng, được tạo ra nhờ khả năng suy tưởng; ở đó cái siêu nhiên chiếm ưu
thế. Đó là những cái không mang tính chân thực, chỉ tuân theo qui luật của
tưởng tượng. Đó là cái kì quặc, dị thường, hư ảo, quái dị, siêu nhiên, kinh
khủng, huyễn hoặc" [II. 6].
Cái kì ảo được định nghĩa trong cuốn Từ điển Petit Pobert của Pháp
nhiên); horror (Kinh dị) hay ghost (Cái ma quái) Có thể thấy, xung quanh
khái niệm Kì ảo và Văn học kì ảo cho đến nay vẫn là một vấn đề chưa có hồi
kết, sự phức tạp này thiết nghĩ lại nằm trong chính bản thân khái niệm.
Theo M. Renard, kì ảo là tính từ gợi lên những chuyện ma quỉ, cái siêu
nhiên, những giấc mơ quái dị, hay những ác mộng.
H. Benac chú ý đến sự xung đột , tính chất nửa tin nửa ngờ khi quan
niệm về cái kì ảo. Theo ông kì ảo là một thuật ngữ dùng để chỉ một tác phẩm
mà ở đó tính chất tự nhiên và sự lạ lùng đan xen lẫn nhau gây ra sự lo lắng,
hồi hộp đến nỗi người đọc do dự giữa một sự giải thích hợp lí.
Còn M. Jarrety cho rằng: Cái kì ảo nghĩa là đưa những sự kiện huyền bí
vào trong cuộc đời hoàn toàn hiện thực và gây ra một cảm giác mãnh liệt nào đó.
Geogre Munteanu xác định thuật ngữ kì ảo: "Cái kì ảo bao hàm mọi
cái ngẫu nhiên không quen thuộc, nhưng giải thích được bằng hàng loạt
nguyên nhân có thực" - Dẫn theo Lê Nguyên Cẩn trong tài liệu [I. 6].
14
Nghiên cứu về cái kì ảo trên thế giới thì không thể bỏ qua tên tuổi của
Tzvetan Todorv. Trong "Dẫn luận về văn học kì ảo" ông đã quan niệm "Cái
kì ảo là sự do dự của người nào đó vốn chỉ quen thuộc với những luật lệ tự
nhiên đã bị đặt vào hoàn cảnh đối mặt với một hiện tượng mà bề ngoài có vẻ
siêu nhiên" [I. 6].
Chuyên luận: "Cái kì ảo trong tác phẩm Balzac" của PGS. TS Lê
Nguyên Cẩn là một công trình rất có ý nghĩa cho những ai hứng thú tìm hiểu
về cái kì ảo trong văn học. Công trình này đã cho thấy, Balzac vốn là một
hiện tượng phức tạp trong lịch sử văn học thế giới nay lại càng phức tạp hơn
vì sự hiện diện của yếu tố kì ảo trong không ít sáng tác của mình. Từ chuyên
luận, Lê Nguyên Cẩn đã nhìn nhận cái kì ảo là một phạm trù của tư duy nghệ
thuật. Nó hiện diện dưới hình thức thần linh, quái dị, ma quỉ, khác lạ, phi
thường, siêu nhiên.
Theo GS Nguyễn Huệ Chi, ban đầu (Thế kỉ XVI) thuật ngữ kì ảo có
nghĩa là "sự mơ mộng, hão huyền được nuôi dưỡng bằng những hoang
toàn hợp lí. Và người đọc đều biết đó là những chuyện không có thật, những
chuyện hoàn toàn hư cấu.
PGS. TS Lê Huy Bắc trong bài: "Cái kì ảo và văn học huyễn ảo" (Tạp
chí Nghiên cứu văn học số 8 - 2006) nhìn nhận thuật ngữ văn học kì ảo chỉ là
một bộ phận, một giai đoạn của văn học huyễn ảo. Văn học huyễn ảo không
phải là một thể loại mà ở đây nó được hiểu như một trào lưu, một khuynh
hướng, một chủ nghĩa hay một phương pháp sáng tác. Văn học kì ảo thuộc
giai đoạn thứ hai (Từ thế kỉ XIV đến hết thế kỉ XIX tức là Thời cận - hiện
đại) của văn học huyễn ảo, với đặc trưng là "Cái kì ảo luôn tồn tại với mục
đích gây nỗi hoang mang, sợ hãi cho người đọc" [II. 3]. Thế nhưng tác giả
Nguyễn Văn Dân lại có một cách kiến giải hoàn toàn khác khi cho rằng:
Huyễn tưởng là một hình thái văn học kết hợp giữa hư và thực. Tỉ lệ của hai
16
yếu tố trên không phải lúc nào cũng cân bằng. Theo ông thì các nhà văn hiện
thực có khi cũng sử dụng nghệ thuật huyễn tưởng song sáng tác của họ, cái
thực vẫn là chủ đạo, khi ấy sẽ có Chủ nghĩa hiện thực huyễn tưởng. Còn khi
cái ảo chiếm ưu thế hơn cái thực thí đó là trường hợp của các nhà văn lãng
mạn huyễn tưởng. Thời hiện đại, có khá nhiều cây bút thành công trong nghệ
thuật kết hợp giữa cái hư và cái ảo và đẩy nó lên đến mức điển hình, đó là
loại văn học hiện thực huyền ảo. Hơn nữa, khi cái hư và ảo mà kết hợp với
yếu tố khoa học thì tác giả cho đó là loại truyện viễn tưởng khoa học. Loại
truyện khai thác yếu tố hư, kì lạ được khuếch trương đến mức quái đản, gây
ra cảm giác rùng rợn thì khi đó là là loại truyện kinh dị.
Nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào đã đưa ra một cách nhìn nhận định
riêng về yếu tố kì ảo trong truyện và tiểu thuyết Việt Nam như sau: "Cái kì
ảo ở truyện Việt Nam hướng về cái thần diệu, siêu nhiên của truyện dân
gian, hướng về thế giới bên ngoài hơn là chuyển vào nội tâm…Cái kì ảo chỉ
xuất hiện như một yếu tố và cũng chỉ xuất hiện trong truyện ngắn mà không
có mặt ở truyện dài. Phải chăng về bản chất, kì ảo là một sự thể nghiệm tới
hạn, ở ranh giới của cái hoang tưởng huyễn hoặc với cái thực nên cũng khó
Theo chúng tôi, những tác phẩm có yếu tố kì ảo thì bao giờ cũng có
hai yếu tố hư - thực (ảo - chân): "Ảo trung hữu chân" (Trong ảo có chân),
phàm những tác phẩm thuộc loại hình văn học kì ảo nếu không có cái chân,
tác phẩm sẽ không có gốc rễ hiện thực, không đứng vững được. Không có
cái kì tác phẩm sẽ thiếu hụt đi sức hấp dẫn, sức liên tưởng, tưởng tượng ở
người đọc. Thực - ảo; Chân - kì đan quyện vào nhau tạo cho câu chuyện vừa
như một ảo ảnh, lãng mạn lại vừa rất hiện thực.
Tần tần suất xuất hiện của hai yếu tố hư - thực không phải bao giờ
cũng tương đương nhau. Khi cái ảo chiếm vị trí chủ đạo ta thường tìm thấy
18
trong sáng tác của Chủ nghĩa lãng mạn huyễn tưởng. Cái kì ảo, huyễn tưởng
trở thành thủ pháp đặc trưng của trào lưu sáng tác này. Ngược lại, khi cái
thực chiếm thế áp đảo, khi ấy có thể gọi là Chủ nghĩa hiện thực huyễn tưởng
mà ở thời hiện đại khuynh hướng sáng tác này đạt đến đỉnh cao là Chủ nghĩa
hiện thực huyền ảo - Dẫn theo ý của Nguyễn Văn Dân - Xin xem [II. 8]!
Một điểm rất đáng chú ý là yếu tố kì ảo là một phạm trù của tư duy
nghệ thuật, nó gắn liền với tưởng tượng. Nhờ có trí tưởng tượng mà người
nghệ sĩ đã đưa ra được những hình ảnh hư ảo, kì ảo, hão huyền. Theo Gaston
Bachelard thì "Trí tưởng tượng bóp méo hình ảnh, nó giúp chúng ta thoát
khỏi hình ảnh đầu tiên tiếp nhận được, để đi đến những hình ảnh vắng mặt.
Nếu một hình ảnh trước mắt không dẫn đến một hình ảnh vắng mặt, hoặc
một hình ảnh thoáng qua không dẫn đến một chuỗi hình ảnh khác, lang thang
đâu đó, thì không có tưởng tượng. Như vậy cái cơ bản trong tưởng tượng
không phải hình ảnh mà là hư ảo" [II. 15].
Tác giả luận văn cho rằng yếu tố kì ảo là những điều huyền bí, lạ lùng,
có sự kết hợp giữa hư và thực, nhiều khi khó có thể lí giải đồng thời nó cũng
đem lại những hứng thú thẩm mĩ cho người đọc. Yếu tố kì ảo không chỉ có
mặt trong truyện ngắn mà còn có mặt khá phổ biến trong tiểu thuyết đặc biệt
là tiểu thuyết Việt Nam đương đại (Trong khi theo PGS. TS Đặng Anh Đào
thì Cái kì ảo chỉ xuất hiện như một yếu tố và cũng chỉ xuất hiện trong truyện
sáng tác của Đantê, Sêchxpia, Môlie, Xetvantex Đến đây yếu tố kì ảo với tư
cách là một thủ pháp nghệ thuật đã được sử dụng khá phổ biến. Nhà văn
người Pháp là F. Rabelais (1494 - 1553) nổi tiếng với những sáng tác phiêu
lưu hoang tưởng như Cuộc phiêu lưu của Gulliver mà sau này ta cũng đón
nhận những câu chuyện kì ảo như vậy ở Alice đến xứ kì ảo của Lewis
Carroll, người Anh.
20
Cuối thế kỉ XVIII, ở phương Tây bạn đọc đón nhận những tập truyện
ma quái, kinh dị của nhà văn lãng mạn Đức Amadeus Hoffman (1776 -
1822), của Edgar Allan Poe (Mĩ) Đến với các nhà văn này, bạn đọc sau khi
đã gấp trang sách lại thì đều có những ấn tượng kì lạ, trong đó có cả "cảm
giác nhẹ nhàng về cái đẹp, về sự kì diệu, về cảnh thiên giới ngoạn mục đồng
thời cũng có cả cảm giác nặng nề, rùng rợn, ma quái của địa ngục" [I. 14].
Nước Đức là quê hương của đại thi hào J. W Goethe (1749 - 1832). Tên tuổi
của ông gắn liền với tác phẩm kịch Faust. Faust - một học giả thông minh,
say mê nghiên cứu khoa học rất mong muốn mình có một sức mạnh huyền bí
nào đó để thỏa mãn được khát vọng chiếm lĩnh được tận cùng tri thức và
Faust đã kí giao kèo với quỉ Mêphixto. Từ đây tác phẩm dẫn dắt chúng ta
vào một thế giới huyền ảo, kì bí. Trên nền một cốt truyện dân gian về một
con người bán linh hồn của mình cho quỉ để thỏa mãn ước mơ, khát vọng,
tác phẩm mang lại một ý nghĩa triết lí sâu sắc: Con người vốn có bản tính
nhân đạo, luôn mong muốn được khám phá, chinh phục thiên nhiên.
Thế kỉ XIX, nếu Victo Huygo sáng tạo ra những cái kì ảo, kì quái
chống lại logic lí tính trong cách xây dựng những hình tượng đối lập (Những
người khốn khổ) thì Balzac lại tập trung vào việc tạo dựng những motive kì
ảo kiểu như "bán linh hồn cho quỉ", "thuốc trường sinh" (Miếng da lừa). Có
thể nói Balzac là một trong những hiện tượng khá phức tạp trên văn đàn thế
giới có lẽ phần nhiều bởi trong tác phẩm của đại thi hào này, yếu tố kì ảo đã
khẳng định được sứ mệnh mà nhà văn đã giao phó. Lướt sang bầu trời văn
học Nga, N. V. Gôgôn mặc dù được biết đến trong khuynh hướng sáng tác
Kierkegaard. Phảng phất trong tác phẩm của mình, Kafka như muốn chứng
minh rằng bản chất của sự sinh tồn chính là nỗi lo, là nỗi lo bất an về sự sinh
tồn của con người đầu thế kỉ XX. Đọc Hang ổ ta bắt gặp một con vật (Nhân
vật xưng tôi kể chuyện) đào một cái hang dưới lòng đất để trốn tránh kẻ thù.
22
Nhưng ngay cả khi ở dưới lòng đất nó vẫn không tìm thấy được sự yên bình,
vì đến một lúc nào đó nó lại có cảm giác như nghe thấy tiếng đào hang của
một con vật khác đang tiến về phía nó. Ở Kafka, không khí kì lạ, khác
thường trải suốt tác phẩm, không còn ranh giới tự nhiên và siêu nhiên, đó chỉ
còn là một thế giới tập trung, trung hòa, xóa nhòa trong một hiện tại vĩnh
cửu. Và yếu tố huyền ảo được thể hiện như một trạng thái cảm nhận về cái
phi lí.
Sẽ là khiếm khuyết nếu không nhắc đến Mikhail Aphanaxievit
Bulgakov (1891 - 1940) là một trong những nhà văn xuất sắc, là "con sói văn
học duy nhất trên văn đàn Nga" (Bulgakov đã tự nhận mình như vậy). Văn
xuôi của cây bút này khá đậm đặc những yếu tố huyễn tưởng, huyền ảo, siêu
thực. Năm 1924 -1925, Bulgakov trình làng hai cuốn truyện: Trái tim chó và
Những quả trứng định mênh. Đây là hai tác phẩm đã ghi dấu thành công cho
lối tư duy đan cài nhuần nhuyễn những yếu tố của đời sống thực với thế giới
của trí tưởng tượng, của những yếu tố kì ảo, hoang đường.
Vào thập niên 60 của thế kỉ XX, xuất hiện trào lưu văn học mới mà
người ta vẫn thường hay gọi là "Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo". Tiêu biểu
cho khuynh hướng sáng tác này là: G.G. Marquez, H. Rulfô với nguyên tắc
sáng tác là biến cái thực thành hoang đường mà không đánh mất tính chân
thực. Cho đến nay, thế giới vẫn công nhận Trăm năm cô đơn của G. G.
Makét là một trong số ít những tác phẩm bất hủ của mọi thời đại. Ra đời vào
năm 1967, cuốn tiểu thuyết này đã gây ra một dư luận sôi nổi trên văn đàn
Mĩ Latinh và lập tức được cả thế giới chú ý đến. Thế giới của Trăm năm cô
đơn là thế giới của những con người siêu thực, dị thường, là thế giới của
không gian huyền ảo còn thời gian bất định. Thật vậy, những tác phẩm viết
thật phi thường!
24
Truyện truyền kì xuất hiện khá sớm ở Trung Quốc khoảng thế kỉ thứ III
những mãi đến Cù Hựu (1341 - 1427) với Tiễn đăng tân thoại đã đưa truyện
truyền kì đạt đến một bước phát triển mới. Tính chất và sự biến huyễn của thế
giới lạ lùng tựa như không có thật ấy được thể hiện khá sinh động qua từng
thiên truyện đặc biệt nhóm tác phẩm viết về chuyện tình giữa người và hồn
ma thật li kì, quái đản song rất đỗi lãng mạn. Khoảng thế kỉ đầu thế kỉ XVI, ở
Nhật Bản, trên cơ sở tiếp thu cốt truyện truyền kì của Cù Hựu, Asai Rey đã
xuất bản tập truyện quái dị là Ca tì tử (dựa theo 18 truyện của Cù Hựu).
Bồ Tùng Linh (1640 - 1715) là người có công đầu trong việc đưa
truyện truyền kì ở Trung Quốc đạt đến đỉnh cao của nó. Các sáng tác của ông
gồm: Liêu trai chí dị (tập hợp 8 truyện); Liêu trai văn tập (12 tập) và Liêu
trai thi tập (gồm thơ, từ, tạp kịch). Tất cả các motive truyền kì truyền thống
đều được nhà văn này vận dụng một cách linh hoạt điều đó làm cho các câu
chuyện trở nên li kì, huyễn hoặc.
Một trong bốn bộ tiểu thuyết kinh điển của Trung Hoa là Tây du kí ra
đời vào thế kỉ XVI. Câu chuyện kể về bốn thày trò Đường Tăng trên đường
sang Tây Trúc thỉnh kinh. Với trí tưởng tượng vô cùng phong phú, tác giả
Ngô Thừa Ân đã tạo ra một thế giới huyền thoại rộng lớn từ Thiên cung
đến Long cung hay Địa phủ cùng những tình tiết hoang đường, hết sức hấp
dẫn. Yếu tố kì ảo được sử dụng như một thủ pháp nghệ thuật khá đắc lực vì
vậy hiện thực trong câu chuyện đã được mở rộng ra khắp các cõi cho nên
không một độc giả nào lại bỏ nỡ cơ hội cùng tham gia vào hành trình của
bốn thày trò này.
Vào thời Hiện đại, cuốn truyện được xem là khó đọc của Cao Hành
Kiện với tựa đề Linh sơn (ra mắt bạn đọc vào đầu những năm 90 của thế kỉ
XX) đã đem đến cho bạn đọc một bầu không khí mới lạ trong tiểu thuyết. 81
chương của tác phẩm có vẻ không liên quan gì đến nhau, bạn đọc luôn bắt
gặp những huyền thoại, những truyền thuyết hoang đường cùng những sinh