Phong cách tự sự dân gian trong văn học Việt Nam đương đại (Khảo sát qua các tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Huy Thiệp tt - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÊ CHUNG THUỶ

PHONG CÁCH TỰ SỰ DÂN GIAN TRONG VĂN
HỌC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI (KHẢO SÁT QUA CÁC TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN
XUÂN KHÁNH, NGUYỄN HUY THIỆP) LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học dân gian

Mã số: 60. 22. 36 Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Vũ Anh Tuấn Hà Nội – 2011 116
MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3
PHẦN NỘI DUNG 14
Chương 1: Phong cách tự sự dân gian với vấn đề ảnh hưởng của văn học
dân gian đối với văn học viết 14
1.1: Đặc trưng của văn học dân gian trong tương quan với văn học viết 14
1.2: Sự xâm nhập của văn học dân gian đối với văn học viết và những
biểu hiện của phong cách tự sự dân gian trong văn xuôi Việt Nam đương
đại 17
1.2.1: Sự xâm nhập của văn học dân gian đối với văn học viết 17
1.2.2: Những biểu hiện của phong cách tự sự dân gian trong văn xuôi
Việt Nam đương đại 26
Chương 2: Các yếu tố tự sự mang âm hưởng dân gian trong sáng tác

1: Lí do chọn đề tài
1.1: Văn học dân gian và văn học viết, hai bộ phận hợp thành
của nền văn học Việt Nam luôn có mối quan hệ qua lại tương hỗ lẫn
nhau. Trong đó văn học dân gian nói riêng, văn hóa dân gian nói
chung chính là cơ sở nền tảng vững chắc và là nguồn thi liệu, nguồn
cảm hứng không bao giờ vơi cạn cho văn học thành văn. Đặc biệt
trong thời đại toàn cầu hoá ngày nay, việc các tác giả tìm về với
những sáng tác dân gian, hấp thụ tinh hoa nghệ thuật truyền thống để
tạo nên những tác phẩm đặc sắc, vừa mang nét truyền thống dân gian
vừa mang hơi thở của cuộc sống hiện tại đã tạo nên sự phong phú và
sức hấp dẫn của nền văn học.
1.2: Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh với tiểu thuyết Mẫu
thượng ngàn (đạt giải thưởng tiểu thuyết Hội nhà văn Việt Nam
2006) và tác giả Nguyễn Huy Thiệp, một cây bút truyện ngắn xuất
sắc, tiêu biểu nhất của cao trào đổi mới văn học Việt Nam sau năm
1986 có thể coi là những tác giả tiêu biểu của khuynh hướng này.
Không chỉ học tập từ dân gian, vận dụng dân gian mà điều
đáng ghi nhận là các nhà văn đã sáng tạo lại dân gian làm cho kho
tàng văn hoá, văn học dân gian được mở rộng thêm ý nghĩa. Đó
chính là những lí do để chúng tôi quyết định thực hiện đề tài này.
2: Lịch sử vấn đề
Việc nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn
học thành văn, cũng như sự tác động mạnh mẽ diễn ra liên tục của
văn học dân gian đối với lịch sử phát triển của nền văn học dân tộc
đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm với mức độ đậm nhạt cũng
như những khía cạnh tiếp cận khác nhau.

2
Trong đó có những công trình mang tính lý luận chung của
Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn- Văn học dân

trên một hoặc một số khía cạnh riêng lẻ chứ chưa được tìm hiểu một
cách hệ thống và toàn diện. Tuy nhiên đó có thể coi là những gợi dẫn
vấn đề bổ ích và quý báu để chúng tôi tiếp tục triển khai trong luận
văn này.
3: Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn lựa chọn tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của nhà văn
Nguyễn Xuân Khánh (NXB Phụ nữ, Hà Nội, 2006) và một số truyện
ngắn được dẫn từ Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (NXB Hội nhà
văn, 2005) làm đối tượng nghiên cứu cho đề tài.
Luận văn sẽ đi sâu vào nghiên cứu những biểu hiện của
phong cách nghệ thuật tự sự dân gian trong sáng tác của hai tác giả
Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Huy Thiệp như: cách thức xây dựng
cốt truyện, hệ thống nhân vật, môi trường văn hoá, ngôn ngữ, môtip,
biểu tượng.
4: Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi nhằm những mục đích sau:
- Có cái nhìn tổng thể và khái quát về ảnh hưởng của văn
học dân gian đối với văn học viết từ đó tìm hiểu những biểu hiện cụ
thể của mối quan hệ này trong các sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh,
Nguyễn Huy Thiệp.
- Qua những biểu hiện cụ thể của phong cách tự sự dân gian
trong sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Huy Thiệp để chỉ
ra điểm đặc sắc, nét truyền thống cũng như điểm hiện đại, sự kế thừa
và đặc biệt là những sáng tạo, cách tân của nhà văn khi quay về với
những giá trị truyền thống nói chung, văn học dân gian nói riêng.

4
5: Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng nguyên tắc phương pháp luận của lí
thuyết hệ thống để chỉ ra những nét khác biệt giữa hai hệ thống nghệ

ĐỐI VỚI VĂN HỌC VIẾT
1.1: Đặc trưng của văn học dân gian trong tương quan với văn
học viết
Văn học dân gian là sáng tác nghệ thuật truyền miệng của
các tầng lớp dân chúng, phát sinh từ thời công xã nguyên thuỷ và
phát triển qua các thời kỳ lịch sử cho đến ngày nay. Nó chính là nền
tảng, là ngọn nguồn của nền văn học dân tộc, là kết tinh tư tưởng
thẩm mỹ cho nền văn học viết ra đời và phát triển về sau. Tuy nhiên
giữa văn học dân gian và văn học viết lại có những đặc trưng riêng:
Nếu sáng tác dân gian mang tính tập thể, tính tập thể được
phản ánh trong sự sáng tạo của cá nhân nhưng không có tên tác giả
thì văn học viết lại nhận thức và tái tạo lại thực tiễn theo những
nguyên tắc chọn lọc và điển hình hoá các hiện tượng đời sống, với
nghệ thuật xây dựng nhân vật, với hình thức tư duy trừu tượng cùng
cá tính sáng tạo của cá nhân nhà văn.
Do lưu truyền bằng miệng, ngoài những văn bản đã ghi chép,
tác phẩm văn học dân gian luôn vận động, sửa chữa để ngày càng
gắn với công chúng dân gian hơn. Do vậy văn học dân gian có tính
đa dị bản, quá trình sáng tác và lưu hành là một. Trong khi đó trong
văn học viết, văn bản là cố định, ở đó quá trình sáng tác và lưu hành
tách rời và độc lập với nhau.
Hình tượng trong văn học dân gian thường nặng về khái quát
hoá, nhân vật, hoàn cảnh không cụ thể, không xác định. Đặc điểm
nổi trội làm nên tính truyền thống bền vững của văn học dân gian đó
chính là sự lặp lại của các môtip, những công thức sáng tác truyền

6
thống sẵn có. Ngược lại, trong văn học viết, việc xây dựng nhân vật
và hoàn cảnh cụ thể điển hình là một nguyên tắc trong sáng tạo nghệ
thuật, vai trò của chủ thể sáng tạo vô cùng quan trọng.

dụng một cách sáng tạo nguồn thi liệu dân gian để làm nên những tác
phẩm đặc sắc. Nguyễn Bính, Tố Hữu, Nguyễn Duy, Bùi Chí Vinh,
Đồng Đức Bốn…đều ít nhiều quay về với “mảnh hồn làng” dân gian.
Với những nhà thơ trẻ trưởng thành sau năm 1975 như Phan
Huyền Thư, Vi Thuỳ Linh, văn học dân gian đã được vận dụng một
cách đầy linh hoạt. Điều đặc biệt cần ghi nhận là ở những nhà thơ trẻ
là họ đã tạo ra một hướng nghĩ khác cho các hình ảnh dân gian quen
thuộc.
1.2.1.2: Ở lĩnh vực văn xuôi:
- Truyện kể dân gian và sự hình thành các thể loại tự sự văn xuôi
Kho tàng truyện kể dân gian người Việt với thần thoại,
truyền thuyết, cổ tích, sử thi… đã xuất hiện từ rất xa xưa, trước khi
có chữ viết. Đó chính là nền tảng để hình thành nên các thể loại văn
xuôi tự sự. Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái là hai tác phẩm
đặt nền móng đầu tiên cho thể loại truyện ký lịch sử ở các thời đại
sau.
Nếu như chủ đề lịch sử với nội dung yêu nước đã làm nảy
sinh những tác phẩm truyện ký lịch sử và dọn đường cho các tác
phẩm tiểu thuyết lịch sử ra đời thì chủ đề tình yêu với nội dung nhân
đạo lại là cơ sở để tạo nên các tác phẩm truyền kỳ. Bắt đầu từ Thánh
Tông di thảo ra đời khoảng thế kỷ 15, sau đó vào thế kỷ 16, có tập
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, thế kỷ 18 có thêm Truyền kỳ tân
phả của Đoàn Thị Điểm, khoảng cuối thể kỷ 18 đầu thế kỷ 19 có Tân
truyền kỳ lục của Phạm Quý Thích…

8
- Từ truyện cổ tích dân gian đến sự ra đời của truyện cổ tích văn
học
Truyện cổ tích văn học là những truyện “có phong cách cổ
tích do các nhà văn mới sáng tác hoặc những truyện cổ tích cũ do

“Giả cổ tích”- như tên gọi của nó, không phải là truyện cổ
đúng nghĩa, chính xác hơn, cũng giống như cổ tích văn học, nó chỉ là
một thứ truyện cổ của thời hiện đại, mang hơi thở của cuộc sống hôm
nay. Từ đó nhà văn có điều kiện thuận lợi để thể hiện cá tính, bộc lộ
quan điểm, thái độ và trách nhiệm công dân của mình: Những ngọn
gió Hua Tát (Nguyễn Huy Thiệp), Hồn trinh nữ, Khát của muôn đời,
Nàng tiên xanh xao, Tim vỡ (Võ Thị Hảo), Thợ may (Phạm Hải
Vân), Miêu cẩm (Lưu Sơn Minh)
Khác biệt với truyện giả cổ tích, truyện cũ viết lại có điểm
tựa là một truyện dân gian truyền thống. Trên cơ sở đó, tác giả sẽ có
sự lựa chọn đối thoại hoặc đối lập với truyền thống: Bụt mệt (Hoà
Vang), Lầu hạc vàng, Cây đàn Long Môn (Lê Đạt), Trương Chi
(Nguyễn Huy Thiệp), Hoang đường, Trương Chi của tôi (Bão Vũ),
Châu Long, Ngày xưa, cô Tấm…(Lê Minh Hà)… Ở đó, tiếng nói,
quan điểm của người viết được bộc lộ một cách thẳn thắn, tường
minh hơn, trong khi đó với truyện giả cổ tích, sự bộc lộ tư tưởng,
tình cảm, quan niệm thẩm mĩ của tác giả thường như một ẩn ngữ,
mang ý nghĩa hàm ẩn.
Sự tìm về cội nguồn của văn học truyền thống trong truyện
giả cổ tích và truyện cũ viết lại không hề có ý vị phục cổ, cũng
không phải là “văn học phỏng theo văn học”, mà là một sáng tác
ngôn từ đúng nghĩa. Ở đó, truyền thống không hề tạo ra “sức ì” cho
hiện đại mà ngược lại, luôn tạo ra động lực, năng lượng cho sự phát
triển của hiện đại.

10
CHƯƠNG 2: CÁC YẾU TỐ TỰ SỰ MANG ÂM HƯỞNG DÂN
GIAN TRONG SÁNG TÁC NGUYỄN XUÂN KHÁNH,
NGUYỄN HUY THIỆP
2.1: Mạch ngầm dân gian trong xây dựng cốt truyện

mới của thời đại, truyện ngắn Trương Chi của Nguyễn Huy Thiệp
không còn cái thơ mộng và trữ tình như truyện cổ, không còn hình
ảnh của chàng Trương Chi cam chịu, nhẫn nhục của ngày xưa nữa
mà thay vào đó là một con người do bị dồn nén, o ép đến mức phản
ứng gay gắt đối với xã hội, sẵn sàng văng tục ở bất cứ đâu, bất cứ lúc
nào.
Không lặp lại giản đơn cái cũ, các nhà văn đương đại đã sử
dụng và cắt nghĩa lại, đổi mới, thậm chí nhiều khi đi ngược lại một
số truyền thống cũ. Trong tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của Nguyễn
Xuân Khánh, huyền thoại về ông Đùng, bà Đà cũng mang một màu
sắc mới, không còn là một huyền thoại sáng thế thuần nhất mà là sự
pha trộn của các huyền thoại và cả sự giải thiêng huyền thoại theo
các lớp thời gian thông qua thái độ của từng thế hệ trong tác phẩm.
Có thể nói, truyện cũ viết lại đã phản ánh một cách chân thực
và sinh động nhu cầu “nhận thức lại” của văn học Đổi mới. Những
truyện thành công thường tạo ra được một thứ “phản tỉnh” nghệ thuật
cho con người thời đại trước một số định kiến, lối mòn, thói quen.
2.1.3: Truyện lồng truyện
Một kiểu xâm nhập khác của truyện kể dân gian vào trong
lòng các tự sự đương đại đó là kiểu: truyện lồng truyện. Ở đó truyện
kể dân gian tuỳ theo dụng ý nghệ thuật của tác giả, được trích dẫn
một phần hay nguyên vẹn trong các tác phẩm.
Trong tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn, huyền thoại ông Đùng
bà Đà không được đưa vào tiểu thuyết ở tình trạng vẹn nguyên của

12
nó mà được cắt rời thành nhiều mảnh và được xâu chuỗi lại theo một
tuyến tính mới dọc theo tác phẩm, các lớp huyền thoại đan xen vào
nhau: huyền thoại về hai vị thần khổng lồ sáng tạo nên vũ trụ, huyền
thoại về cuộc hôn nhân của hai anh em ruột sống sót sau trận đại

thần, Chương đi tìm Mẹ Cả, thế giới thuộc về anh ta là không gian
bên ngoài: ngoài vườn, ngoài đồng, bên sông, và biển (không gian
huyền thoại - trong mơ ước). Vượt qua ranh giới này anh ta sẽ gặp sự
cố, gặp tai biến. Với Nguyễn Huy Thiệp càng gần với tự nhiên, vô
vi và hòa mình với tự nhiên (môi trường nông thôn, rừng, biển) con
người càng gần với nhân tính, cái thiện, cái đẹp sẽ tỏa sáng. Và
ngược lại càng xa cách tự nhiên (môi trường thành thị) con người
càng xa rời bản nguyên đích thực của mình.
2.2.1.2: Tín ngưỡng, lễ hội
Tín ngưỡng là niềm tin về những điều linh thiêng, những sức
mạnh huyền bí, vĩ đại mà con người chỉ cảm nhận được mà khó có
thể nhận thức được.
Tư tưởng bao trùm sáng tác của Nguyến Huy Thiệp là triết
học tự nhiên- nhân bản, một thứ triết học nguyên sơ, bắt nguồn từ tín
ngưỡng phồn thực sâu xa của nền văn hóa cổ Nam Á và Đông Nam
Á.Tự nhiên trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp trước hết là thiên
nhiên tồn tại khách quan bên ngoài con người, nhân vật được đặt vào
thế đối diện với thiên nhiên bao la, vĩnh hằng để, hoặc là “ngộ” ra
thân phận bé nhỏ, cô đơn, mong manh và phù du của nhân sinh trước
dòng chảy tự nhiên vĩnh cửu, hoặc là tìm về với “bản lai diện mục”
của chính mình, đó còn là tự nhiên bên trong con người. Con người
tự nhiên trong truyện ngắn của ông là những con người “vô sự với

14
Tạo hóa, trung thực đến đáy”, những người “dám lặn sâu xuống đáy
cuộc đời”, “trần lực để sống”, trung thực với chính mình như Bường
(Những người thợ xẻ), Tổng Cóc (Chút thoáng Xuân Hương)…
Trong cuốn tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn, yếu tố phồn thực
có một vai trò quan trọng, quyết định hướng triển khai truyện kể này.
Người kể chuyện đã để cho hai nhân vật mang dáng dấp huyền thoại:

thuật đặc trưng và đặc biệt hấp dẫn của truyện cổ, được đưa vào
trong tác phẩm Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Huy Thiệp với nhiều
dạng thức khác nhau trong đó phải kể đến sự xuất hiện của nhân vật
huyền thoại. Ở truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, nhân vật huyền thoại
có thể là nhân vật thần kỳ như Then trong Tiệc xòe vui nhất, nhân vật
có phép màu như chiếc tù và trong Chiếc tù và bị bỏ quên, hòn đá kì
lạ trong truyện ngắn Nàng Sinh… Cũng có khi tác giả lấy lại hình
tượng những nhân vật bình thường nhưng mang tính “vấn đề” trong
dân gian để tạo ra một mẫu nhân vật Trương Chi đầy cá tính, tâm
trạng khác hẳn nhân vật Trương Chi đáng thương trong truyện cổ.
Trong Mẫu thượng ngàn, sự hiện diện của ông Đùng, bà Đà cũng đã
tạo nên một huyền thoại mới. Có thể nói, bằng sự sáng tạo của nhà
văn, nhân vật trong truyện cổ đã sống lại trong đời sống xã hội hiện
đại bằng một cuộc đời khác, một lối ứng xử khác, một tâm tư khác…
2.3.2: Nhân vật nữ
Thuộc nền kinh tế nông nghiệp lúa nước đặc biệt thích ứng
với sự đảm đang, khéo léo của người phụ nữ, trong tâm thức dân
gian người Việt, người mẹ có vị trí, vai trò quan trọng nhất. Thế giới
nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, hầu hết, đều là

16
những người phụ nữ mang vẻ đẹp tự nhiên, hồn hậu và sức sống
phồn thực. Họ là cội nguồn bảo tồn sự sống, hơn thế nữa họ còn
mang thiên tính tái tạo sự sống. Đó là nhân vật chị Thắm trong Chảy
đi sông ơi dịu dàng và một trái tim biết yêu thương, là bé Thu với
một “tâm hồn mẹ” trong trẻo, nguyên sơ luôn che chở và hy sinh cho
cậu bé Đăng (Tâm hồn mẹ), là nàng Bua với đầu tắt mặt tối hoàn
toàn quên mình vì chín đứa con hoang (Nàng Bua), là Hếnh, một
người vợ giàu tính hy sinh hiện lên trong niềm ân hận muộn màng
của ông Lù (Nạn dịch)…

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ TÍN HIỆU NGHỆ THUẬT DÂN GIAN
TRONG SÁNG TÁC NGUYỄN XUÂN KHÁNH,
NGUYỄN HUY THIỆP
3.1: Biểu tượng, môtíp dân gian
3.1.1: Biểu tượng dân gian
3.1.1.1: Biểu tượng Đất
Trong các tác phẩm văn học dân gian và văn học thành văn,
đất cùng với nước- hai cặp phạm trù đối lập là những cổ mẫu quan
trọng, xuyên suốt. Đất cứng cáp, đục thô, ổn định, rộng rãi, ngập tràn
cây cối, nuôi sống muôn loài, đất như người Mẹ có sức sản sinh và
tái sinh, bền bỉ trong một nhịp điệu âm thầm và bao dung.Trong cuốn
tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn, Nguyễn Xuân Khánh đã để cho Pierre
và René cảm nhận về đất, như một cách thức nhấn mạnh đến đạo
Mẫu, ở cội nguồn đất mẹ nguyên sinh. Với tâm thế của những kẻ
ngoại bang xâm lược, trong suy nghĩ của họ, đất là một biểu tượng
huyền bí, vừa đáng tôn thờ, ngưỡng vọng xen lẫn cả nỗi ám ảnh, sợ

18
hãi thường trực bởi “sự trả thù của đất mẹ”. Ngược lại, đối với
những người dân bản địa, đất không chỉ che chở cho họ khỏi sức
mạnh huỷ diệt, đất còn là sự sống, là cội nguồn sản sinh sự sống.
3.1.1.2: Biểu tượng Cây đa
Tín ngưỡng về cây đa còn có nguồn gốc sâu xa từ tục thờ
cây, một biểu hiện của tín ngưỡng sùng bái tự nhiên. Trong tiếu
thuyết Mẫu thượng ngàn, hình ảnh cây đa hiện hữu sống động cùng
với cuộc sống sinh hoạt cũng như trong đời sống tâm linh của người
dân Cổ Đình.Thân thuộc và gần gũi, cây đa ấy đã tồn tại và chứng
kiến biết bao nhiêu đổi thay diễn ra trong ngôi làng Cổ Đình bé nhỏ:
là nơi những người dân quê thường ngồi chơi, chuyện trò hay nghỉ
chân hóng mát nhưng cũng là một “vị đại thụ linh thần” đầy quyền

của nguồn sống và nguồn chết, với chức năng tạo dựng và tiêu hủy-
đặc trưng của mẫu gốc nước. Ngoài ra, dòng sông, đó còn là biểu
trưng cho sức mạnh thanh tẩy và khả năng cứu sinh, là vẻ đẹp của
thiên tính nữ thể hiện cụ thể qua hình ảnh của Mẹ Cả và chị Thắm.
Giấc mơ biển trong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp là giấc mơ vượt
thoát khỏi không gian tâm tưởng và xã hội, quán tính, tù đọng, đã
luôn ràng buộc con người bằng những hệ lụy nhỏ nhoi để đi tìm
một cái gì mới mẻ và toàn vẹn. Đó là chính là hành trình để đi tìm
cái tuyệt đích Với Nguyễn Huy Thiệp, cổ mẫu đã tạo cho tác
phẩm của ông một sức hút, sức hút của nguyên khí ngàn xưa.
3.1.2: Môtip dân gian
Đặc điểm nổi trội làm nên tính truyền thống bền vững của
văn học dân gian đó chính là sự lặp lại của các môtip, những công
thức sáng tác truyền thống sẵn có. Cũng giống như nhân vật, cốt
truyện, môtip cổ tích chỉ là những “cái đinh” để cho các nhà văn hiện

20
đại treo lên đó những bức tranh nghệ thuật của mình chứ nó không
phải là hạt nhân, là mục tiêu mà các tác giả muốn hướng tới.
Trong chùm truyện ngắn Những ngọn gió Hua Tát của
Nguyễn Huy Thiệp- nhà văn đã sử dụng khá nhiều các môtip của
truyện cổ tích: thi tài kén rể, khắc phục tai họa, cô gái mồ côi xấu xí
thoắt trở nên xinh đẹp và trở thành vợ vua, người đàn bà nghèo, nhân
hậu bỗng trở nên giàu có, chàng trai nghèo khó dị dạng diệt hổ dữ
cứu người đẹp tật nguyền… yếu tố cổ tích chỉ làm nền để tác giả gửi
gắm những thông điệp mang tính thời đại, giải quyết những vấn đề
bức thiết đang đặt ra đối với cuộc sống con người đương thời chứ
không phải nhằm mục đích phục dựng lại những câu chuyện cổ tích
của một thời quá vãng. Làm mới hóa cổ tích để từ đó nêu bật lên
những vấn đề vĩnh cửu về cái thiện và cái ác, về số phận…đang dằn

rác được chêm xen vào tạo nên độ lắng đọng cho tác phẩm, chất
chứa những suy tư, liên tưởng sâu xa, nhiều chiều của cuộc sống.
3.2.2: Ngôn ngữ dân gian trong tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn -
Nguyễn Xuân Khánh
Là một loại tổ hợp từ cố định quen dùng dễ nhớ, dễ thuộc,
đặc biệt với ý nghĩa có tính văn hóa, giáo dục cộng đồng cũng như
tính khái quát rất cao, thành ngữ, tục ngữ dân gian đã được Nguyễn
Xuân Khánh đưa vào trong tác phẩm. Khảo sát trong Mẫu thượng
ngàn chúng ta có thể nhận thấy, thành ngữ, tục ngữ dân gian được
dẫn theo hai dạng chính. Dạng thứ nhất là thành ngữ, tục ngữ được
dẫn nguyên văn làm cho câu văn giàu hình ảnh, thêm sâu sắc đồng
thời vẫn giữ được nét mộc mạc, giản dị, gần gũi như nó vốn có.
Dạng thứ hai là thành ngữ, tục ngữ được dẫn không nguyên văn. Ở
đó, tác giả chỉ dùng một vài từ hay một vài hình ảnh trong các câu
thành ngữ, tục ngữ quen thuộc từ đó kích thích tư duy, gợi trường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status